Lê Quý Đôn - nhà bác học toàn năng
Tháng 9 năm qua, tại Thái Bình đã diễn ra hội thảo khoa học quốc tế "Lê Quý Đôn: Cuộc đời và sự nghiệp", nhằm xây dựng hồ sơ khoa học, trình UNESCO vinh danh danh nhân văn hóa Lê Quý Đôn nhân kỷ niệm 300 năm ngày sinh của ông (2/8/1726 - 2/8/2026). Như vậy tiếp theo đại danh y Hải Thượng Lãn Ông Lê Hữu Trác, vào năm tới, rất có thể chúng ta lại có cơ hội được tổ chức các hoạt động tôn vinh một nhà bác học lớn của dân tộc. Hiếm có ông quan nào như Lê Quý Đôn…

Lê Quý Đôn (2/8/1726 - 11/6/1784), lúc nhỏ tên Lê Danh Phương, tự Doãn Hậu, hiệu Quế Đường; sinh trong gia đình khoa bảng tại làng Diên Hà, trấn Sơn Nam (nay là thôn Đồng Phú, xã Độc Lập, huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình). Ông nổi tiếng thông minh, học giỏi, từng đỗ đầu ba kỳ thi: Giải nguyên (Thi Hương, 1743), Hội nguyên và Bảng nhãn (Thi Hội và thi Đình, 1752).
Sinh thời ông từng được phong tước Dĩnh Thành bá, Nghĩa Phái hầu, Dĩnh Thành hầu, đến sau khi mất còn được gia tặng Dĩnh Quận công…
Bên cạnh loại sách biên khảo, Lê Quý Đôn còn sáng tác hai tập thơ chữ Hán với Quế Đường thi tập (Tập thơ Quế Đường, 4 quyển), Quế Đường văn tập (Tập văn Quế Đường, 3 quyển). Về sáng tác Nôm hiện chỉ còn bài "khải" bằng văn xuôi (chép trong Bắc sứ thông lục) và tương truyền còn có thơ thất ngôn bát cú Rắn đầu biếng học, một bài văn sách hỏi và hai bài kinh nghĩa …Là nhà bác học vốn mạnh về biên khảo, trước thuật, Quế Đường Lê Quý Đôn cũng đồng thời là nhà nghệ sĩ ngôn từ nghệ thuật. Với gần 600 bài thơ chữ Hán còn lại, có thể nhận số lượng lớn các bài thơ của Quế Đường thuộc dòng thơ du ký, liên quan đến hoạt động công vụ, nhân việc nhà vua, việc triều đình, việc nước, việc nhà quan mà kết hợp đi thăm, du ngoạn, đề vịnh nơi danh lam thắng cảnh, nơi di tích lịch sử, nơi địa linh nhân kiệt. Vì thế, nhan đề bài thơ thường gắn với động từ chỉ hướng mang tính đặc thù tâm thế du ngoạn: Du (thăm, chơi), khán, phỏng (thăm, qua thăm), độ (qua, vượt), quá (qua), quan, thị, (xem), vọng (trông), đăng (lên, đi lên), trú (dừng lại, ở lại)… Đến đâu ông cũng có thơ ghi chép lịch trình, tái hiện phong cảnh thiên nhiên và cuộc sống con người, làm thơ đề vịnh, bày tỏ cảm xúc của mình trước mỗi vùng đất cụ thể.Phải có một tâm hồn ham xê dịch, đam mê cái mới ở mỗi vùng đất thì Quế Đường mới có được những bài thơ du ký phong phú đến như thế.Phong cách nghệ thuật Quế Đường Lê Quý Đôn thực sự phù hợp với kiểu tác giả quan chức nhà Nho, đúng như ông đã nhận định: "Các nhà thơ đều có sở trường riêng. Người đài các thi tụng (quan văn tại triều) thì thơ phải êm dịu, dồi dào. Kẻ ở nơi quân thành biên thú thì thơ phải hoang lạnh, hào tráng. Nhà thơ ưa cảnh vật các mùa thì thơ phải có giọng thanh tao, tươi đẹp; ưa rừng núi, ẩn dật thì thơ phải có thú nhàn rỗi, phóng khoáng. Nếu chuộng nặn nọt, ưa mới lạ, gò gẫm từng chữ, từng câu, thơ làm ra sẽ kém" (Bài giới thiệu Toàn Việt thi lục)…Xu thế "hướng tâm" và "ly tâm"Đi sâu tìm hiểu phạm vi phản ánh hiện thực và những quy phạm nghệ thuật có thể nhận thấy thơ Quế Đường biểu cảm khá rõ cả hai trạng thái, xu thế hướng tâm (thể hiện con người chính thống, chức năng, phận vị) và ly tâm (thiên về biểu lộ tình cảm cá nhân, tiếng nói trữ tình, bên lề, phán xét, phản biện). Với Lê Quý Đôn, ngay cả ở dòng thơ du ký vốn dễ có điều kiện bộc lộ xu thế ly tâm và tiếng nói con người cá nhân thì xu thế hướng tâm vẫn là chiều hướng chủ đạo.Nhìn chung, trên cả hai xu thế "hướng tâm" và "ly tâm", thơ của Quế Đường Lê Quý Đôn thể hiện sự thực hành thuần thục các giá trị thẩm mỹ trong tâm thế một nhà Nho chính thống, một quan chức thi nhân thành đạt.PGS-TS NGUYỄN HỮU SƠN
Chùm ảnh tư liệu
Ảnh tư liệu của bài viết.


