Bài viết

Lê Quý Đôn – Nhà bác học vĩ đại nhất của lịch sử phong kiến Việt Nam

Hưng Yên16/09/2026Đoàn xã Hưng Vũ (Xã Hưng Vũ)3 lượt xem0 lượt chia sẻ

Vào thế kỷ thứ XVIII, vương triều phong kiến Đại Việt rơi vào giai đoạn khủng hoảng, chia cắt Đàng Trong - Đàng Ngoài khốc liệt. Thế nhưng, chính trong thế kỷ đầy biến động ấy, nền văn hóa và tri thức dân tộc lại chứng kiến sự xuất hiện của một ngôi sao thiên văn sáng chói, một bộ óc vĩ đại mang tính bách khoa toàn thư mà người đời sau tôn vinh là nhà bác học lớn nhất của thời kỳ phong kiến. Ông chính là Lê Quý Đôn – người đã kết tinh trọn vẹn kho tàng tri thức của thời đại, để lại cho hậu thế hàng chục bộ sách vô giá trên mọi lĩnh vực từ lịch sử, địa lý, văn học cho đến triết học và khoa học tự nhiên.

Lê Quý Đôn tên thật là Lê Danh Phương, sinh năm 1726 tại làng Diên Hà, huyện Diên Hà, trấn Sơn Nam (nay là xã Độc Lập, huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình). Ông sinh ra trong một gia đình khoa bảng danh giá; cha ông là Tiến sĩ Lê Phú Thứ, từng giữ chức Hình bộ Thừa chỉ trong triều đình. Ngay từ thủa nhỏ, Lê Quý Đôn đã bộc lộ những tư chất thiên tài, được người dân trong vùng ca tụng là "thần đồng".

Lên 5 tuổi, ông đã đọc được kinh thư. 14 tuổi, ông đã đọc hết toàn bộ kho tàng sách kinh điển của Nho giáo, lịch sử và văn học đương thời. Người đương thời vẫn truyền tai nhau câu ca ngợi về trí tuệ phi thường của ông: "Thiên hạ vô tri vấn Quý Đôn" (Thiên hạ có điều gì không biết, cứ đến hỏi Lê Quý Đôn). Dù có tài năng xuất chúng, ông chưa bao giờ kiêu ngạo mà luôn giữ một tinh thần tự học, đọc sách miệt mài không quản ngày đêm.

Con đường cử nghiệp của Lê Quý Đôn là một chuỗi những thành tích lẫy lừng. Năm 1743, ở tuổi 17, ông tham gia kỳ thi Hương và đỗ đầu (Giải nguyên). Đến năm 1752, ở tuổi 26, ông tham dự kỳ thi Hội và tiếp tục đỗ đầu (Hội nguyên). Vào đến kỳ thi Đình, ông tiếp tục giữ vững vị trí thủ khoa, đỗ Bảng nhãn (do triều đại lúc bấy giờ không lấy danh hiệu Trạng nguyên). Với danh hiệu "Tam nguyên" (đỗ đầu cả ba kỳ thi), Lê Quý Đôn chính thức bước chân vào chốn quan trường với tư cách là một bậc đại trí thức trung trinh, được triều đình Lê - Trịnh tin cẩn giao phó nhiều trọng trách lớn.

Năm 1760, Lê Quý Đôn được bổ nhiệm làm Phó sứ trong đoàn sứ bộ sang triều đình nhà Thanh (Trung Quốc). Chuyến đi này không chỉ là một nhiệm vụ ngoại giao mà còn là cơ hội để ông biểu dương trí tuệ của con người Đại Việt trước nước lớn. Tại kinh đô Bắc Kinh, với kiến thức sâu rộng, khả năng biện bác sắc bén và tài làm thơ văn xuất chúng, ông đã khiến các bậc đại thần, học giả danh tiếng của nhà Thanh và sứ thần các nước vô cùng khâm phục, kính trọng. Ông đã tranh thủ tìm kiếm, đọc và ghi chép lại hàng trăm cuốn sách mới về khoa học, địa lý thế giới, mang nguồn tri thức mới mẻ ấy về làm giàu cho nền học thuật nước nhà.

Khi trở về nước, Lê Quý Đôn được thăng tiến qua nhiều chức vụ quan trọng như Thượng thư bộ Binh, Thượng thư bộ Hộ, Hành tham tụng (Phó Thủ tướng). Ở bất kỳ cương vị nào, ông cũng thể hiện tư duy của một nhà cải cách thực tiễn, luôn lo lắng cho đời sống của nhân dân và vận mệnh đất nước. Ông dốc lòng chấn chỉnh việc khoa cử, sửa đổi thuế khóa để giảm bớt gánh nặng cho dân nghèo, và kiên quyết đấu tranh chống nạn tham nhũng, lộng quyền của quan lại địa phương.

Tuy nhiên, di sản vĩ đại nhất khiến tên tuổi của Lê Quý Đôn bất tử cùng thời gian chính là sự nghiệp biên khảo sách đồ sộ của ông. Ông viết sách với một thái độ khoa học nghiêm túc, luôn dựa trên nguyên tắc "mục sở thị" (phải tận mắt chứng kiến, nghiên cứu thực địa chứ không chỉ nghe kể lại).

Khi được triều đình cử vào trấn thủ vùng đất mới giải phóng Thuận Hóa (Quảng Trị, Thừa Thiên Huế ngày nay), ông đã miệt mài khảo sát địa hình, phong tục, sản vật và con người nơi đây để viết nên bộ sách Phủ biên tạp lục. Đây là bộ tư liệu lịch sử, địa lý vô cùng quý giá, và đặc biệt là bằng chứng lịch sử không thể chối cãi khẳng định chủ quyền của Việt Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa ngay từ thế kỷ XVIII.

Bên cạnh đó, ông còn để lại những công trình vĩ đại khác như Đại Việt thông sử (ghi chép về vương triều Hậu Lê), Vân đài loại ngữ (tác phẩm mang tính bách khoa toàn thư hệ thống hóa toàn bộ tri thức về triết học, khoa học tự nhiên, địa lý, ngôn ngữ), và Kiến văn tiểu lục (ghi chép về những điều tai nghe mắt thấy về lịch sử, văn hóa dân tộc). Sách của Lê Quý Đôn không chỉ rộng lớn về số lượng mà còn sâu sắc về chất lượng, thể hiện một tư duy duy vật phôi thai, luôn đề cao vai trò của thực tiễn và lao động sản xuất.

Tư tưởng giáo dục và nhân sinh của ông được đúc kết qua những lời răn dạy sâu sắc cho thế hệ mai sau. Ông quan niệm học là để hành, để giúp đời chứ không phải để vinh thân phì gia. Câu nói bất hủ của ông về các yếu tố nền tảng để giữ vững sự bình yên cho quốc gia luôn là bài học đắt giá cho mọi thời đại:

"Phi nông bất ổn, phi công bất phú, phi thương bất hoạt, phi trí bất hưng"
(Không có nông nghiệp thì xã hội không ổn định; không có công nghiệp thì không giàu có; không có thương mại thì xã hội không năng động; không có tri thức thì đất nước không thể hưng thịnh).

Lê Quý Đôn trút hơi thở cuối cùng vào năm 1784 tại quê mẹ ở Hà Nam, hưởng thọ 58 tuổi. Sự ra đi của ông là một tổn thất vô cùng lớn lao cho nền học thuật nước nhà. Lê Quý Đôn đã đi xa, nhưng di sản văn hóa, tinh thần hiếu học và kho tàng tri thức khổng lồ mà ông để lại đã trở thành tài sản vô giá của dân tộc Việt Nam. Ông mãi mãi là niềm tự hào, là tấm gương ngời sáng cho ý chí chinh phục đỉnh cao tri thức của bao thế hệ người Việt.


Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn