Lê Quỳnh Chi - Chi đoàn 12C2 - đoàn trường THPT Sông Công
Tác phẩm "Những câu chuyện thời hoa lửa: Người lái đò cảm tử trên sông Ba Lòng" (đăng trên Báo Thanh Niên) là một thiên ký sự lịch sử đầy bi tráng, tái hiện chân thực cuộc đời và tinh thần cống hiến quên mình của cựu thanh niên xung phong Đỗ Quốc Phong. Câu chuyện bắt đầu từ bước ngoặt năm 1965, khi người trai trẻ đất Hà Tây gác lại giấc mơ giảng đường để gia nhập Đội TNXP đặc biệt K53 lướt vào tuyến lửa Trị - Thiên. Ý chí "hóa thép" của ông được tôi luyện từ lòng căm thù giặc sâu sắc khi tận mắ
Ông Đỗ Quốc Phong – Người lái đò cảm tử trên sông Ba Lòng và hành trình trọn đời vì đồng đội
Trong dòng chảy hào hùng của lịch sử dân tộc, có những con người đã dành trọn tuổi thanh xuân cho độc lập, tự do của Tổ quốc. Họ mang trong mình lý tưởng sống cao đẹp, sẵn sàng gác lại những ước mơ riêng để bước vào cuộc chiến đấu đầy gian khổ. Một trong những con người tiêu biểu ấy là ông Đỗ Quốc Phong – từ một chàng thư sinh đất Hà thành trở thành "người lái đò cảm tử" trên dòng sông Ba Lòng khốc liệt, rồi sau hòa bình lại trở thành người thủ lĩnh tận tụy của Hội Cựu Thanh niên xung phong thành phố Hà Nội. Cuộc đời ông là biểu tượng đẹp của thế hệ thanh niên "Ba sẵn sàng", những người đã viết nên bản anh hùng ca bất diệt của tuổi trẻ Việt Nam.
Hành trình ấy bắt đầu vào những năm tháng sục sôi khí thế cách mạng, khi phong trào "Ba sẵn sàng" lan tỏa khắp Thủ đô Hà Nội. Đáp lời kêu gọi thiêng liêng của Tổ quốc, chàng thanh niên Đỗ Quốc Phong đã gác lại giảng đường, chia tay gia đình và bạn bè để khoác lên mình màu áo Thanh niên xung phong. Ngày 16 tháng 8 năm 1965, ông cùng các đồng đội của Đội Thanh niên xung phong K53 làm lễ xuất quân tại Trường Đoàn, chính thức lên đường vào chiến trường Trị - Thiên đầy bom đạn.
Sau hơn hai tháng hành quân bằng đôi chân qua núi cao, vực sâu, vượt qua đói rét, sốt rét rừng và muôn vàn hiểm nguy, đơn vị của ông đặt chân đến vùng đất Quảng Trị. Đây là một trong những chiến trường ác liệt nhất cả nước, nơi từng tấc đất đều hứng chịu mưa bom bão đạn. Nhiệm vụ của đơn vị là mở tuyến đường chiến lược song song với đường mòn Hồ Chí Minh nhằm bảo đảm chi viện cho tiền tuyến miền Nam.
Giữa chiến trường ấy, dòng sông Ba Lòng trở thành huyết mạch giao thông vô cùng quan trọng nhưng cũng là mục tiêu đánh phá ác liệt của không quân Mỹ. Để bảo đảm việc vận chuyển bộ đội, vũ khí, lương thực và đưa thương binh vượt sông an toàn, ông Đỗ Quốc Phong đã tình nguyện nhận nhiệm vụ chèo đò độc mộc – một nhiệm vụ mà mỗi chuyến đi đều có thể là chuyến đi cuối cùng.
Để trở thành người lái đò, ông cùng đồng đội phải trải qua quá trình huấn luyện vô cùng gian khổ. Chiếc thuyền độc mộc nhỏ hẹp luôn chòng chành trên dòng nước xiết, chỉ cần sơ suất là có thể lật úp giữa dòng. Họ phải học cách đứng chéo chân để giữ thăng bằng, tay trái chống sào, tay phải điều khiển mái chèo, kiên trì tập luyện suốt nhiều tuần mới đủ khả năng điều khiển con thuyền trong điều kiện chiến tranh.
Công việc của người lái đò bắt đầu từ khoảng năm giờ chiều và chỉ kết thúc khi trời gần sáng. Đó cũng là thời điểm máy bay trinh sát và máy bay ném bom B-52 của Mỹ hoạt động dày đặc nhất. Trên đầu là tiếng động cơ gầm rú, phía dưới là dòng nước lạnh buốt cuộn chảy giữa những bãi đá ngầm. Mỗi chuyến đò đều là cuộc đấu trí và đấu lực với tử thần. Có đêm ông liên tục đưa bộ đội vượt sông vào chiến trường rồi lại quay trở ra chở thương binh. Máu, nước mắt và dòng nước Ba Lòng dường như hòa làm một trong ký ức không thể nào quên của người thanh niên xung phong năm ấy.
Để bảo toàn lực lượng, những người lái đò còn phải vận dụng nhiều kỹ thuật đặc biệt. Mỗi khi đối phương thả pháo sáng, cả người và thuyền phải tuyệt đối bất động, lợi dụng bóng tối và dòng nước để ngụy trang. Chỉ một tiếng động nhỏ hay một ánh lửa lóe lên cũng đủ khiến bom đạn trút xuống dữ dội. Chính trong hoàn cảnh khắc nghiệt ấy, lòng dũng cảm, sự bình tĩnh và bản lĩnh của ông Đỗ Quốc Phong đã được tôi luyện qua từng chuyến vượt sông.
Sự khốc liệt của chiến tranh không chỉ đến từ bom đạn mà còn từ những tháng ngày thiếu ăn, thiếu ngủ, bệnh sốt rét rừng và cường độ lao động vượt quá sức chịu đựng của con người. Kỷ niệm đau thương nhất đối với ông là chứng kiến đồng đội hy sinh ngay trước mắt khi một quả bom đánh trúng hầm trú ẩn của đơn vị. Những người đồng chí thân thiết mãi mãi nằm lại nơi chiến trường. Nỗi đau ấy không khiến ông chùn bước mà càng thôi thúc ông tiếp tục chiến đấu, quyết tâm hoàn thành nhiệm vụ để xứng đáng với sự hy sinh của đồng đội.
Trong những năm tháng chiến đấu tại Ba Lòng, ông còn có cơ duyên được gặp nhiều cán bộ chỉ huy cấp cao. Đặc biệt, ông luôn ghi nhớ lần được chèo đò đưa đồng chí Lê Khả Phiêu, khi đó là Chính ủy Trung đoàn 9, vượt sông. Thấy người chiến sĩ Thanh niên xung phong gầy gò nhưng vẫn kiên cường bám trụ nơi bến đò, đồng chí đã ân cần động viên và biểu dương tinh thần dũng cảm của ông. Sự ghi nhận ấy trở thành nguồn động viên lớn lao để ông tiếp tục hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ được giao.
Cuối năm 1967, với những thành tích đặc biệt xuất sắc trong chiến đấu và phục vụ chiến đấu, ông Đỗ Quốc Phong là một trong hai đại biểu tiêu biểu của Đội Thanh niên xung phong K53 được tham dự Đại hội Chiến sĩ thi đua Quân khu Trị - Thiên và vinh dự được trao tặng danh hiệu "Dũng sĩ Quyết thắng" cùng nhiều phần thưởng cao quý. Sau đó, ông tiếp tục được cử ra Bắc học tập rồi công tác trong ngành giáo dục. Những năm tháng chiến tranh cũng mang về cho ông nhiều phần thưởng cao quý như Huân chương Chiến sĩ vẻ vang, Huân chương Chiến sĩ giải phóng, Huân chương Kháng chiến, Huân chương Chiến công cùng nhiều bằng khen của Đảng và Nhà nước.
Chiến tranh kết thúc, đất nước bước vào thời kỳ hòa bình và xây dựng, nhưng hành trình cống hiến của người chiến sĩ năm xưa vẫn chưa bao giờ dừng lại. Nghỉ hưu năm 2004, ông tiếp tục đảm nhiệm cương vị Chủ tịch Hội Cựu Thanh niên xung phong thành phố Hà Nội từ năm 2005 đến năm 2023, đồng thời là Ủy viên Đoàn Chủ tịch Trung ương Hội Cựu Thanh niên xung phong Việt Nam.
Nếu như thời chiến, ông dành tuổi trẻ để mở những con đường ra tiền tuyến, thì trong thời bình, ông lại mở những con đường của nghĩa tình. Ông không quản ngại tuổi cao sức yếu, lặn lội khắp các chiến trường xưa tìm kiếm hài cốt đồng đội, vận động xây dựng hàng trăm ngôi nhà tình nghĩa, chăm lo đời sống cho các cựu Thanh niên xung phong có hoàn cảnh khó khăn và những nạn nhân chịu di chứng chất độc da cam. Ông còn dành nhiều thời gian gặp gỡ học sinh, sinh viên, đoàn viên thanh niên để kể lại những câu chuyện về một thời hoa lửa, truyền ngọn lửa yêu nước và tinh thần cống hiến cho thế hệ trẻ hôm nay.
Điều khiến nhiều người kính trọng nhất ở ông không chỉ là những chiến công trong chiến tranh mà còn là tấm lòng luôn hướng về đồng đội. Ông từng tâm sự: "Mình còn sống trở về là may mắn hơn hàng vạn đồng đội rồi. Vì thế, mình phải sống sao cho xứng đáng với họ." Chính suy nghĩ giản dị ấy đã trở thành động lực để ông cống hiến không ngừng nghỉ suốt cuộc đời.
Nhìn lại chặng đường gần cả một thế kỷ của ông Đỗ Quốc Phong, người ta thấy hiện lên hình ảnh đẹp của một con người luôn sống vì Tổ quốc, vì nhân dân và vì đồng đội. Từ người lái đò cảm tử trên dòng Ba Lòng năm xưa đến người "giữ lửa" cho truyền thống Thanh niên xung phong hôm nay, ông đã viết nên một bản anh hùng ca bằng chính cuộc đời mình. Ông và những đồng đội của mình chính là những "bông hoa lửa" rực rỡ nhất, nở giữa khói lửa chiến tranh để đất nước có được mùa xuân hòa bình.
Cuộc đời ông là minh chứng sinh động cho chân lý rằng lòng yêu nước không chỉ được thể hiện trong những năm tháng chiến tranh mà còn tiếp tục tỏa sáng bằng trách nhiệm, nghĩa tình và sự cống hiến trong thời bình. Hình ảnh người thanh niên Hà Nội chèo chiếc thuyền độc mộc giữa mưa bom bão đạn trên dòng sông Ba Lòng sẽ mãi là biểu tượng cao đẹp của chủ nghĩa anh hùng cách mạng Việt Nam, nhắc nhở các thế hệ hôm nay và mai sau phải biết trân trọng hòa bình, gìn giữ độc lập dân tộc và tiếp tục viết tiếp những trang sử vẻ vang của đất nước.



