Lẽ sống của một anh hùng
hu Cẩm Phong tên thật là Trần Tiến, sinh ngày 12-8-1941, tại Hội An (Quảng Nam). Năm 1954, ông theo cha ra Bắc tập kết, học phổ thông ở Hải Phòng. Năm 1960, ông học Khoa Ngữ văn, Trường Đại học Tổng hợp Hà Nội; là Ủy viên Ban Chấp hành Hội Sinh viên Việt Nam, được kết nạp vào Đảng Lao động Việt Nam năm 1963. Tốt nghiệp đại học (năm 1964) loại xuất sắc, được chọn đi đào tạo ở nước ngoài nhưng ông đã xung phong vào Nam chiến đấu và bắt đầu làm phóng viên thông tấn tại Mặt trận Quảng-Đà, sau đó làm
Từ một sinh viên, Chu Cẩm Phong đã hòa nhập rất nhanh vào cuộc sống chiến đấu nơi gian nan nhất là chiến trường Khu 5. Không những vậy, ông còn rất gương mẫu, đầy trách nhiệm, luôn xung phong đi công tác những nơi nguy hiểm. Chỉ có thể lý giải là nhờ tinh thần yêu nước, sẵn sàng hy sinh vì lý tưởng độc lập, tự do cho Tổ quốc của lớp thanh niên thời ấy mà tiêu biểu là những người như Chu Cẩm Phong. Khu 5 khi ấy ác liệt, thiếu thốn, bộ đội phải vừa tự nuôi mình vừa chiến đấu. Bạn bè nhà văn kể lại, khi làm Bí thư chi bộ, ông phân công anh em trong cơ quan làm rẫy, lấy rau, làm nhà... rất rõ ràng, khoa học. Ông tháo chiếc nhẫn (mẹ cho dành khi cưới vợ) để cơ quan bán lấy tiền mua dụng cụ lao động. Còn rất trẻ nhưng Chu Cẩm Phong đã tự tích lũy kinh nghiệm bằng cách thường xuyên lao động cùng đồng bào dân tộc thiểu số để có vốn kiến thức hướng dẫn anh em mới cách phát rẫy, chọc lỗ, tỉa lúa... Ông thức đêm để đan “teo” (giỏ nhỏ) đựng thóc đi tỉa, đan cót đựng thóc khi thu hoạch... Công việc nguy hiểm nhất khi ấy là đi gùi cõng gạo, muối... lên cứ vì hay gặp máy bay, thám báo, biệt kích địch.
Lần ấy, vào mùa mưa năm 1970, đoàn đi lấy gạo bị địch phục kích, ông bình tĩnh nói: “Tôi đi trước, có gì tôi nổ súng, các anh phía sau tìm cách chạy thoát để tránh tổn thất...”. Biết trước là có thể hy sinh nhưng ông vẫn xung phong làm nhiệm vụ. Đó là suy nghĩ và hành động của một anh hùng đặt lý tưởng cộng sản lên trên hết. Nhật ký chiến tranh ghi lại những dòng chữ sáng ngời ánh lửa lẽ sống cao quý: “Sắp đến mình sẽ đi công tác, mình nhận đi lại Quảng-Đà, một nơi ác liệt nhất. Mình có thể sẽ hy sinh trong mùa xuân lịch sử này lắm”.
Người anh hùng ấy xác định: “Trước hết là một đảng viên rồi sau đó mới là một người văn nghệ”, tức là trước hết làm người chiến sĩ, sau đó mới làm người nghệ sĩ. Cũng là mối quan hệ hữu cơ, trước là làm tốt nhiệm vụ chính trị, lấy đó làm vốn sống, vốn trải nghiệm để sáng tác. Khi chiến trường cần có sáng tác để kêu gọi, cổ vũ, tuyên truyền, ông cùng đồng đội sẵn sàng. Trong Nhật ký chiến tranh, ngày 1-10-1967 ghi: “Công tác văn nghệ sắp đến cũng rất nặng nề và khẩn trương, tất nhiên, sứ mệnh của nó cũng rất vẻ vang. Đã đến lúc không thể đi được nữa mà phải chạy, chạy hết tốc lực. Đến lúc rồi đây. Hãy đem cả sức lực, trí tuệ và tài năng mình có hy sinh cho nhiệm vụ lịch sử này”.
Ngày 1-5-1971, địch đi càn, phát hiện hầm bí mật nơi ông cùng đồng đội đang trú ẩn, chúng cày tung nắp hầm, ném lựu đạn xuống và gọi hàng. Là người chỉ huy, ông khảng khái nói với 7 đồng chí đi cùng: Chúng ta có 5 AK, 2 súng ngắn, lựu đạn nữa. Đưa súng ra phía miệng hầm, quyết tử với địch. Và họ đã dũng cảm ngã xuống để đất nước nở hoa độc lập!


