Lê Thành Công – Vị tướng hậu cần gắn bó với chiến trường Nam Bộ
Thiếu tướng Lê Thành Công (1924–1999) là một cán bộ quân đội trưởng thành qua hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ, sau đó tiếp tục đảm nhiệm nhiều cương vị quan trọng trong công tác hậu cần của Quân khu 7. Cuộc đời binh nghiệp của ông gắn liền với chiến trường Nam Bộ, từ những ngày đầu kháng chiến đến công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc sau năm 1975.
Người con của Nhà Bè
Lê Thành Công quê tại xã Phước Long, huyện Nhà Bè, tỉnh Gia Định, nay thuộc Thành phố Hồ Chí Minh. Sinh ra trong vùng đất giàu truyền thống yêu nước, ông sớm chịu ảnh hưởng của phong trào đấu tranh cách mạng tại địa phương.
Sau Cách mạng Tháng Tám năm 1945, khi thực dân Pháp quay trở lại xâm lược Nam Bộ, nhiều thanh niên Nhà Bè lên đường tham gia kháng chiến. Lê Thành Công cũng nhập ngũ, biên chế vào Chi đội 2.
Từ năm 1945 đến 1948, ông lần lượt trưởng thành từ chiến sĩ lên Trung đội phó, Chính trị viên Trung đội, Trưởng ban Trinh sát và Trung đội trưởng. Năm 1949, ông đảm nhiệm Trưởng ban Trinh sát Trung đoàn 309.
Trưởng thành qua kháng chiến chống Pháp
Trong những năm 1951–1953, Lê Thành Công giữ nhiều chức vụ tại Huyện đội Long Thành, trong đó có Huyện đội phó kiêm Trưởng ban Quân báo, Chính trị viên và quyền Huyện đội trưởng.
Sau Hiệp định Giơnevơ năm 1954, ông tập kết ra miền Bắc và nhận nhiệm vụ tại Trung đoàn 556. Tuy nhiên, chỉ một năm sau, ông trở lại chiến trường miền Nam để tiếp tục hoạt động cách mạng.
Năm 1955, ông làm cán bộ binh vận liên tỉnh miền Đông Nam Bộ, tham gia xây dựng lực lượng vũ trang bí mật ở miền Tây Nam Bộ. Sau đó, ông lần lượt đảm nhiệm các cương vị chỉ huy tại Tây Bắc miền Đông và khu vực Bà Rịa – Long Khánh.
Gắn bó với những tuyến đường chi viện trên biển
Một dấu ấn quan trọng trong sự nghiệp của Lê Thành Công là quá trình chuẩn bị bến bãi tiếp nhận vũ khí từ miền Bắc vào chiến trường Nam Bộ.
Năm 1961, trên cương vị Phó Bí thư kiêm Trưởng ban Quân sự Bà Rịa, ông được giao nghiên cứu bến bãi tại Long Đất, Xuyên Mộc và tổ chức trinh sát đường biển.
Qua thực tế khảo sát, ông cùng đồng đội rút ra kinh nghiệm phải tổ chức ghe đi xa bờ, ra hải phận quốc tế để tránh sự kiểm soát của tàu địch. Sau đó, lực lượng tiếp tục khảo sát luồng lạch, xây dựng bến bãi và kho tàng, trong đó có khu vực sông Ray và bến Lộc An, chuẩn bị đón tàu từ miền Bắc chuyển vũ khí vào Nam.
Đây là công việc có ý nghĩa quan trọng đối với việc bảo đảm tuyến chi viện cho chiến trường Nam Bộ trong những năm chiến tranh.
Người tổ chức tiếp nhận vũ khí chi viện
Năm 1962, Lê Thành Công được bổ nhiệm Tỉnh đội trưởng Tỉnh đội Bà Rịa – Long Khánh và tham gia Đoàn tiếp nhận hàng chi viện của Trung ương vào Nam Bộ, các tỉnh miền Tây và Nam Trung Bộ.
Ông cùng Ban Chỉ huy tổ chức xây dựng bến bãi, hầm hào, kho tàng, chuẩn bị lương thực và đặc biệt chú trọng công tác giữ bí mật, phòng gian để bảo đảm an toàn cho những tuyến vận chuyển quan trọng.
Ngày 10/3/1964, Bộ Chỉ huy Miền thành lập Trung đoàn tiếp vận K10, Lê Thành Công giữ chức Chỉ huy phó kiêm Tham mưu trưởng.
Đơn vị tổ chức tiếp nhận, vận chuyển vũ khí, đạn dược và hàng hóa từ Bến Tre qua Đồng Tranh, Rừng Sác, sau đó đưa lên Hắc Dịch và chuyển tiếp về Chiến khu Đ để dự trữ, cấp phát cho các lực lượng chiến đấu.
Người chỉ huy hậu cần trên chiến trường
Từ năm 1965, Lê Thành Công tiếp tục đảm nhiệm các cương vị trong lực lượng hậu cần của Miền. Năm 1966, ông trở thành Đoàn phó rồi Đoàn trưởng Đoàn Hậu cần 81.
Trong những năm 1971–1975, ông giữ chức Đoàn trưởng Đoàn Hậu cần 814. Công việc của ông gắn trực tiếp với nhiệm vụ bảo đảm vật chất, vũ khí và các điều kiện cần thiết cho lực lượng vũ trang trên chiến trường.
Tiếp tục cống hiến sau ngày đất nước thống nhất
Sau năm 1975, Lê Thành Công không nghỉ ngơi mà tiếp tục phục vụ trong quân đội.
Năm 1976, ông được điều về làm Cục phó Cục Hậu cần Quân khu 7. Đến tháng 11/1980, ông giữ chức Cục phó kiêm Chủ nhiệm Hậu cần Mặt trận 479.
Trong thời gian này, ông cùng cơ quan hậu cần Quân khu thực hiện đồng thời hai nhiệm vụ: xây dựng hậu phương hậu cần và bảo đảm hậu cần cho lực lượng vũ trang Quân khu thực hiện nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc cũng như nhiệm vụ quốc tế tại Campuchia.
Các nội dung được chú trọng gồm bảo đảm cho lực lượng làm nhiệm vụ ở biên giới, phòng chống sốt rét, cứu chữa thương binh, bệnh binh, sản xuất – chế biến và công tác hậu cần giúp bạn.
Phó Tư lệnh Quân khu 7
Tháng 5/1988, Lê Thành Công được bổ nhiệm làm Phó Tư lệnh Quân khu 7 và được thăng quân hàm Thiếu tướng.
Trên cương vị mới, ông tiếp tục đóng góp kinh nghiệm tích lũy qua nhiều năm chiến đấu và công tác hậu cần vào nhiệm vụ xây dựng lực lượng vũ trang Quân khu.
Tháng 4/1989, ông chuyển sang làm Tổng Giám đốc Tổng Công ty miền Đông.
Những phần thưởng cao quý
Với những đóng góp trong quá trình hoạt động cách mạng và phục vụ quân đội, Lê Thành Công được Đảng và Nhà nước trao tặng nhiều phần thưởng cao quý.
Trong đó có Huân chương Độc lập hạng Nhì, Huân chương Quân công hạng Nhì, Huân chương Chiến thắng hạng Nhì, Huân chương Kháng chiến chống Mỹ hạng Nhất, ba Huân chương Chiến sĩ giải phóng hạng Nhất, Nhì, Ba, Huy chương Quân kỳ Quyết thắng và Huy hiệu 50 năm tuổi Đảng cùng nhiều phần thưởng khác.
Những năm cuối đời
Sau một thời gian lâm bệnh, Thiếu tướng Lê Thành Công qua đời vào tháng 1/1999.
Ông để lại dấu ấn của một cán bộ trưởng thành từ cơ sở, trải qua nhiều vị trí chỉ huy trong chiến tranh và sau đó tiếp tục đóng góp cho công tác hậu cần, xây dựng lực lượng vũ trang Quân khu 7 trong thời bình.
Dấu ấn của Thiếu tướng Lê Thành Công
Lê Thành Công là một trong những cán bộ tiêu biểu của lực lượng vũ trang Quân khu 7, với gần như trọn cuộc đời gắn bó với chiến trường Nam Bộ. Từ một chiến sĩ nhập ngũ năm 1945, ông từng bước trưởng thành qua công tác trinh sát, quân báo, chỉ huy đơn vị và đặc biệt là công tác hậu cần. Trong kháng chiến chống Mỹ, ông có nhiều đóng góp trong việc tổ chức bến bãi, tiếp nhận và vận chuyển vũ khí chi viện cho chiến trường. Sau năm 1975, ông tiếp tục đảm nhiệm các cương vị quan trọng trong ngành hậu cần Quân khu 7 và Mặt trận 479, góp phần bảo đảm cho lực lượng vũ trang thực hiện nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc và nhiệm vụ quốc tế. Cuộc đời ông là hình ảnh của một người cán bộ tận tụy, trưởng thành qua chiến đấu và luôn tiếp tục cống hiến trong thời bình.


