Khác

Lễ Thành Hầu - Nguyễn Hữu Cảnh

Đồng Nai20/10/2026Nguyễn Phước Tiến (Đoàn Trường Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh)1 lượt xem0 lượt chia sẻ

Lễ Thành Hầu - Nguyễn Hữu Cảnh

Thế kỷ XVII ghi dấu một giai đoạn phức tạp trong lịch sử phong kiến Việt Nam với các cuộc chuyển dịch không gian sinh tồn mạnh mẽ của người Việt về phương Nam. Cuộc phân tranh của hai nhà Trịnh - Nguyễn kéo dài đã chia cắt đất nước gần 200 năm. Để duy trì sự tồn tại và củng cố vị thế trước tiềm lực quân sự vượt trội của chính quyền chúa Trịnh ở Đàng Ngoài, các vị chúa Nguyễn ở Đàng Trong không còn con đường nào khác ngoài việc tập trung phát triển kinh tế và không ngừng mở rộng lãnh thổ về phía Nam. Đến thời chúa Nguyễn Phúc Chu (1691 – 1725), công cuộc mở cõi đã tiến đến vùng đất Nông Nại (bao gồm khu vực Đồng Nai - Sài Gòn ngày nay) và dải đất Tây Nam Bộ. Bấy giờ, địa hình Nam Bộ vẫn chủ yếu là rẫy hoang, đầm lầy và rừng rậm tự nhiên. Dù trên thực tế đã có ba nhóm cư dân cùng sinh sống rải rác, bao gồm người Việt di cư tự do, các nhóm di dân người Hoa "phản Thanh phục Minh" (như nhóm Trần Thượng Chùa ở Cù lao Phố và Dương Ngạn Địch ở Mỹ Tho), cùng cư dân Khmer bản địa, nhưng tình hình xã hội vẫn rơi vào trạng thái tự phát và thiếu ổn định. Vùng đất này hoàn toàn trống vắng một bộ máy hành chính chính thức, chưa có sự hiện diện của luật pháp, hệ thống thuế khóa hay sự bảo hộ quân sự từ chính quyền trung ương Đại Việt.Thực trạng đó đặt ra một yêu cầu lịch sử cấp bách cho chính quyền chúa Nguyễn: phải nhanh chóng tổ chức quản lý nhà nước, thiết lập thể chế hành chính chính thức nhằm biến vùng đất khai phá tự do thành một bộ phận lãnh thổ hợp pháp, có chủ quyền không thể tranh cãi.

  1. Thân thế và thời trẻ của Nguyễn Hữu Cảnh

Nguyễn Hữu Cảnh (1650 – 1700), tên thật là Nguyễn Hữu Kính (hoặc Nguyễn Hữu Thành), sinh ra tại thôn Phước Long, xã Chương Tín, huyện Phong Lộc (nay thuộc xã Vạn Ninh, huyện Quảng Ninh, tỉnh Quảng Bình). Tuy sinh ra ở xứ Quảng Bình, nguyên quán gốc của dòng họ ông vốn thuộc làng Gia Miêu, huyện Tống Sơn, tỉnh Thanh Hóa (nay là xã Hà Long, huyện Hà Trung, tỉnh Thanh Hóa) vùng đất tổ khai quốc của chúa Nguyễn. Ông xuất thân trong một danh gia võ tướng có truyền thống văn võ hiển hách bậc nhất Đàng Trong. Ông là cháu dòng dõi của Khai quốc công thần Nguyễn Trãi và là con trai thứ ba của Đệ nhất công thần Chiêu Vũ hầu Nguyễn Hữu Dật là vị đại tướng tài ba đã có công lớn giúp các chúa Nguyễn xây dựng hệ thống lũy Thầy kiên cố để bảo vệ bờ cõi phía Bắc. Sinh ra trong một gia đình mà cha và các anh em đều là những tướng lĩnh kiệt xuất của triều đình, Nguyễn Hữu Cảnh đã sớm thừa hưởng nền tảng giáo dục gia phong

Ngay từ nhỏ, ông không chỉ được gia đình chăm lo cho việc học tập kinh sử,trị quốc an bang, mà còn thông thạo binh thư yếu lược, luyện tập võ nghệ, cung kiếm và thuật cưỡi ngựa đánh trận. Đến năm 20 tuổi, ông đã nổi tiếng khắp vùng là một thanh niên tài trí vẹn toàn, giỏi cả văn lẫn võ. Với tài năng hơn người đó, ông đã theo chân cha ra xông pha nơi chiến trường Quảng Bình từ rất sớm. Qua các cuộc chạm trán trực tiếp với quân Trịnh, ông tỏ ra là một người chỉ huy thông minh, gan làm, dũng cảm và có chiến thuật quân sự sắc bén. Nhờ những chiến công hiển hách lập được khi tuổi đời còn rất trẻ, ông đã gây ấn tượng mạnh với  chúa Nguyễn Phúc Tần và được đặc cách phong giữ chức Cai cơ là một chức võ quan bậc cao trong bộ máy quân sự thời bấy giờ khi mới vừa bước sang tuổi 20. Với ngoại hình uy nghi, vóc dáng dũng mãnh, nước da ngăm đen cùng phong thái kiên cường, dũng mãnh trên chiến trường, tướng sĩ và nhân dân thời bấy giờ đã kính trọng gọi ông bằng biệt danh "Hắc Hổ"

  1. Thiết lập Dinh Trấn Biên

Mùa xuân năm Mậu Dần (1698) yêu cầu cấp thiết về việc chính thức hóa chủ quyền tại vùng đất mới, chúa Nguyễn Phúc Chu đã hạ chiếu bổ nhiệm Chưởng cơ Nguyễn Hữu Cảnh làm Kinh lược sứ miền Nam. Nương theo đường biển, ông dẫn dắt đoàn công kinh ngược dòng sông Đồng Nai, cập bến Cù Lao Phố trung tâm thương cảng sầm uất nhất bấy giờ để tiến hành khảo sát thực địa, hoạch định ranh giới và tổ chức lại toàn bộ không gian Nam Bộ. Tại đây, Kinh lược sứ Nguyễn Hữu Cảnh đã triển khai một cuộc cải cách địa giới hành chính mang tính bản nền khi gom trọn vùng đất Nông Nại – Sài Gòn rộng lớn để thành lập đơn vị hành chính cấp phủ đầu tiên là Phủ Gia Định. 

Dưới cấp phủ, ông tiến hành thành lập các dinh trấn và đơn vị hành chính sơ khai: lấy vùng đất Nông Nại lập thành huyện Phước Long và dựng dinh Trấn Biên (bao quát không gian các tỉnh Đồng Nai, Bình Dương và Bà Rịa - Vũng Tàu ngày nay); đồng thời lấy vùng đất Sài Gòn lập thành huyện Tân Bình và dựng dinh Phiên Trấn (bao phủ phạm vi rộng lớn gồm TP. Hồ Chí Minh, Long An và Tây Ninh hiện nay). Song song với việc hoạch định địa giới, Nguyễn Hữu Cảnh đã thiết lập một bộ máy cai trị hoàn chỉnh từ cấp phủ, dinh xuống đến tận làng xã. Tại mỗi dinh, ông đặt ra bộ ba quan lại nòng cốt gồm Lưu thủ phụ trách quân sự an ninh, Cai bạ phụ trách tài chính thuế khóa và Ký lục phụ trách tư pháp hành chính. Để giúp việc cho bộ máy điều hành, hai ty chuyên trách cũng được thành lập là Xá sai ty (chuyên xử lý kiện tụng, thảo văn án) và Lại ty (chuyên quản lý thu chi ngân sách). Ở cấp cơ sở, ông đặt ra các chức Xá trưởng, Hương trưởng để trực tiếp quản lý dân cư thôn xã, đồng thời bố trí lực lượng quân binh gồm các cơ, đội, thuyền thủy bộ tinh binh phụ trách tuần tra, giữ gìn trật tự trị an và bảo vệ biên cương. 

Bằng việc thiết lập các dinh trấn, đo đạc ruộng đất, lập sổ địa bạ - hộ tịch và bố trí bộ máy hành chính chuyên nghiệp, cuộc kinh lý năm 1698 của Nguyễn Hữu Cảnh đã chính thức đưa gần 65.000km2 đất đai phương Nam gia nhập vào bản đồ hành chính Đàng Trong, trở thành chiếc chìa khóa vàng đánh dấu mốc khai sinh chính thức của thành phố Sài Gòn - TP. Hồ Chí Minh và tỉnh Đồng Nai trên bản đồ hiện nay.

  1. Chinh phạt mở mang bờ cõi phương Nam

Sự nghiệp của Nguyễn Hữu Cảnh tinh thông tài năng văn trị và bản lĩnh quân sự, mà ở đó, các chiến dịch kinh lý và bình định phương Nam của ông chính là những nốt nhạc kiệt xuất trong bản hùng ca mở cõi. Không chỉ là một nhà quản lý tài ba, ông còn là một danh tướng xông pha nơi hòn tên mũi giáo, mở rộng dải biên viễn phía Nam của Đại Việt qua chuỗi Nam chinh kéo dài từ năm 1692 đến năm 1700.

Mốc son quân sự đầu tiên trong hành trình Nam tiến của ông bắt đầu vào tháng 8 năm Nhâm Thân (1692), khi vua Chiêm Thành là Bà Tranh đem binh xua quân quấy phá dinh Bình Khang (nay thuộc vùng Khánh Hòa). Trước tình hình biên cương bị đe dọa, đầu năm 1693, Chúa Nguyễn Phúc Chu đã giao cho Nguyễn Hữu Cảnh chức Thống binh cầm quân tiến đánh dẹp loạn. Bằng tài cầm quân mưu lược, ông nhanh chóng đánh tan lực lượng đối phương, bắt sống Bà Tranh cùng các thủ hạ, thu phục lòng dân và vỗ an vùng đất mới, tiến tới đổi nước Chiêm Thành thành trấn Thuận Thành. Chưa dừng lại ở đó, vào năm 1694, khi cuộc dấy loạn của A Ban tiếp tục bùng phát gây mất ổn định khu vực, Nguyễn Hữu Cảnh một lần nữa vâng mệnh xuất binh, dẹp tan lực lượng nổi dậy, trả lại sự bình yên cho nhân dân và được triều đình tin tưởng bổ nhiệm làm Chưởng cơ Trấn thủ dinh Bình Khang.

Sau khi hoàn thành xuất sắc sứ mệnh lịch sử kinh lý và lập Phủ Gia Định vào năm 1698, Nguyễn Hữu Cảnh tiếp tục đối mặt với thử thách quân sự lớn nhất ở dải đất miền Tây. Cuối năm 1699, vua Chân Lạp là Nặc Ông Thu dấy binh quấy nhiễu, làm phiền nhiễu đời sống lưu dân vùng biên giới. Tháng 7 năm 1699, Chúa Nguyễn Phúc Chu lại cử ông làm Thống suất đại binh tiến thẳng xuống phương Nam bình định. Bằng uy danh lừng lẫy, tài chỉ huy quân sự sắc bén kết hợp với chính sách chiêu an, tâm lý chiến khéo léo, Nguyễn Hữu Cảnh nhanh chóng đè bẹp sức phản kháng vào đầu năm 1700 mà không gây tổn thất lớn cho nhân dân hai nước, buộc Nặc Ông Thu phải giương cờ hàng phục. Sau chiến thắng vang dội, ông không vội rút quân mà tiến về đóng giữ tại Mỹ Tho và cù lao Cây Sao (tức Cù lao Ông Chưởng, An Giang ngày nay), kiểm soát toàn bộ tuyến giao thương huyết mạch trên sông Tiền và sông Hậu, giữ vững trật tự an ninh cho toàn bộ không gian Tây Nam Bộ.

Qua từng chặng đường nối tiếp mở cõi từ Bình Khang, Gia Định cho đến vùng sông nước An Giang, các cuộc Nam chinh của Nguyễn Hữu Cảnh là một quá trình mở mang bờ cõi mang uy của nhà chúa Nguyễn tỏa khắp Nam Bộ, từng bước củng cố thế lực chống lại họ Trịnh với vùng đồng bằng châu thổ mới trù phú. Dùng uy vũ để thu phục, dùng nhân trị để an dân, và dùng sự hiện diện quân sự để bảo hộ vững chắc chủ quyền quốc gia trên vùng đất mới.

  1. Đặt nền móng kiến thiết vùng đất trù phú mới

Trọng trách lớn lao của Lễ Thành hầu Nguyễn Hữu Cảnh chính là chuyển hóa vùng đất Nam Bộ từ vùng khai phá tự do, tự phát trở thành một bộ phận lãnh thổ mang chủ quyền của chính quyền Đàng Trong và Đại Việt nói chung.

Trước hết cần phải trải qua quá trình "tụ dân lập ấp, chuyển di lưu dân thành đinh hộ" mang tầm quan trọng đặt biệt trong ổn định lượng dân cư. Theo ghi chép trong Đại Nam thực lục (Quyển 7) và Gia Định thành thông chí (Mục Thực hóa chí), trước năm 1698, bối cảnh nhân khẩu vùng đất Nông Nại – Sài Gòn vốn mang tính chất phân tán, tự phát; hàng vạn người Việt xiêu tán do chiến tranh Trịnh - Nguyễn sống ngoài sự bảo hộ của triều đình dưới phận "lưu dân". Bằng việc thiết lập Phủ Gia Định, Nguyễn Hữu Cảnh đã thực hiện một bước ngoặt lớn về chính sách nhân khẩu: cho tiến hành "phụ đinh - đăng bạ", tức là thu nhận người dân xiêu tán, lập sổ hộ tịch (đinh bạ) và sổ địa bạ, chính thức chuyển hóa lực lượng "lưu dân tha phương" thành "lương dân hợp pháp" của chúa Nguyễn.

Song song đó, tiến trình mở rộng dân cư còn thể hiện tư tưởng "hòa tập biên dân" sắc bén đối với các cộng đồng đa sắc tộc tại chỗ. Sử cũ ghi nhận, đối với bộ phận di dân người Hoa tản cư sang, ông cho lập các xã tự quản đặc thù như xã Thanh Hà ở Trấn Biên và xã Minh Hương ở Phiên Trấn để thu nộp thuế khóa và nhập tịch; đối với người Khmer bản địa (sử cũ gọi là "thổ dân"), ông thi hành chính sách chiêu an, tôn trọng phong tục nhằm giữ vững trật tự xã hội. Từ chỗ sống rải rác giữa chốn "mãng xà, hổ bãi", hàng vạn hộ dân thuộc nhiều nguồn gốc đã được quy tụ thành các đơn vị thôn, ấp, phường, xã có tổ chức chặt chẽ, gắn kết sinh mệnh và quyền lợi gắn liền với từng thửa ruộng khai phá. Chính sách "quy dân, định ấp" này không chỉ giúp chính quyền Đàng Trong nắm chắc nguồn thuế khóa và lực lượng binh dịch, mà còn biến vùng đất biên viễn hoang vu thành những xóm làng trù phú.

Để vỗ về dải đất mới kinh lý và đặt nền móng lâu dài cho sự nghiệp kiến thiết Nam Bộ, Kinh lược sứ Nguyễn Hữu Cảnh đã thực thi hàng loạt chính sách kinh tế - xã hội vừa nghiêm cẩn về thể chế, vừa nhân bản trong thuật trị quốc.

Về kinh tế và nông nghiệp, nhằm nhanh chóng biến vùng đất hoang hoang vắng thành đồng ruộng trù phú, ông áp dụng chính sách khuyến nông dựa trên tinh thần chiêu đinh khai hoang. Như bộ quốc sử Đại Nam thực lục (Quyển 7) có ghi chép, ông cho phép cư dân tự do khai phá, phân chiếm đất đai để làm ăn sinh sống. Nhằm giảm bớt gánh nặng cho dân lưu tán trong giai đoạn đầu lập nghiệp, ông cho định lại ngạch thuế đinh, thuế điền một cách hợp lý, đồng thời miễn giảm các khoản xâu dịch, phu dịch nặng nề, giúp người dân yên tâm cày cấy, nhanh chóng ổn định gia đình.

Về xã hội và thương mại, Nguyễn Hữu Cảnh thể hiện tầm nhìn lớn qua chính sách tụ dân, lập xã, hòa tập các sắc tộc. Theo bộ địa chí Gia Định thành thông chí (Mục Thành phố chí và Thượng tập) của Trịnh Hoài Đức: Đối với lực lượng di dân người Hoa "phản Thanh phục Minh" tản cư sang, ông không cưỡng ép đồng hóa mà cho phép họ tổ chức thành các đơn vị hành chính - xã hội tự quản đặc thù: quy tụ người Hoa ở dinh Trấn Biên thành xã Thanh Hà (vùng Cù lao Phố, nay thuộc Đồng Nai) và người Hoa ở dinh Phiên Trấn thành xã Minh Hương (vùng Chợ Lớn, nay thuộc TP. Hồ Chí Minh). Chính sách khuyến thương, trọng nông kết hợp này đã đưa Cù lao Phố và Chợ Lớn nhanh chóng vươn lên thành những thương cảng, đô thị buôn bán sầm uất bậc nhất Đàng Trong thời bấy giờ. Đối với cư dân Khmer bản địa, ông thi hành chính sách chiêu an, tôn trọng phong tục tập quán, tín ngưỡng và địa vị sinh sống lâu đời của họ. Việc kết hợp mềm dẻo giữa luật pháp Đại Việt và chính sách an dân đã tạo dựng một môi trường hòa hợp đa sắc tộc (Việt - Hoa - Khmer), đoàn kết cùng nhau đẩy mạnh công cuộc chinh phục tự nhiên, khai phá vùng đất sông nước phương Nam.

Chính nhờ những chính sách linh hoạt, mềm dẻo trên kết hợp hài hòa giữa phát triển nông nghiệp, thương mại và hòa hợp dân tộc, Nguyễn Hữu Cảnh đã đánh dấu mốc chủ quyền  lên vùng đất Nam Bộ năng động mang nhiều màu sắc mới mẻ với những nét đặc trưng riêng, thắp sáng sức sống cho cả một vùng biên viễn trù phú, đặt nền móng bền vững cho sự phát triển của Nam Bộ cho đến tận ngày nay

  1.  Kết cục bi tráng của bậc tiền nhân mở cõi

Sau khi dẹp yên vùng biên giới Tây Nam, Nguyễn Hữu Cảnh đóng quân tại cồn Cây Sao (An Giang). Do làm việc lao tụy đường dài, lại chịu tác động của sương gió lam sơn chướng khí vùng sông nước, ông lâm bệnh nặng. Vào ngày Tết Đoan ngọ (mùng 5 tháng 5 năm Canh Thìn - 1700), dù sức khỏe đã rất yếu, ông vẫn miễn cưỡng ra gượng dự tiệc để động viên tướng sĩ, dẫn đến trúng phong và thổ huyết. Đến ngày 16 tháng 5 âm lịch năm 1700, trên đường kéo quân về lại Gia Định, ông trút hơi thở cuối cùng tại Rạch Gầm (Sầm Giang, Tiền Giang), hưởng thọ 51 tuổi. Nghe tin ông mất, Quốc chúa Nguyễn Phúc Chu vô cùng đau xót, truy tặng ông chức Hiệp tán Công thần, Đặc tiến Chưởng Dinh, thụy là Trung Cần. Linh cữu của ông được đưa về an táng tại quê nhà Quảng Bình. Dưới thời nhà Nguyễn, các vua Gia Long, Minh Mạng, Thiệu Trị tiếp tục truy phong ông là Khai quốc công thần, Thượng đẳng thần, Vĩnh An hầu và đưa vào thờ tại Thái miếu.

Ba thế kỷ trôi qua kể từ mùa xuân năm Mậu Dần (1698), di sản của Thống suất Lễ Thành hầu Nguyễn Hữu Cảnh đánh dấu mốc son chói lọi từ thuở mang gươm đi mở cõi, đặt nền móng vĩnh cửu cho sự hình thành và phát triển của vùng đất Sài Gòn - Gia Định - TP. Hồ Chí Minh. Bằng tầm nhìn chiến lược của một vị quan văn võ toàn tài, ông không chỉ định hình ranh giới địa lý - hành chính cho Phủ Gia Định với hai dinh Trấn Biên và Phiên Trấn, mà còn xác lập chủ quyền chính thức của Đại Việt trên dải đất phương Nam giúp hoàn thiện dải đất hình chữ S cho hậu thế mai sau. Quan trọng hơn, chính sách "tụ dân lập ấp", lập sổ đinh bạ, địa bạ cùng tư tưởng trị quốc bao dung, hòa tập các cộng đồng Việt - Hoa - Khmer của ông đã đặt ra "mã di sản" cốt lõi cho một kinh đô sông nước: một đô thị mở, hào sảng, đa dạng văn hóa và nghĩa tình đậm chất Nam Bộ để phát triển. 

Sài Gòn đã trải qua hành trình lịch sử hơn 300 năm hình thành và phát triển (hướng tới cột mốc 400 năm từ những ngày đầu lưu dân khai khống). Nơi đây từ vùng sông nước hoang sơ chốn Nông Nại xưa đã vươn mình thành "Hòn ngọc Viễn Đông", và nay là trung tâm kinh tế, văn hóa, khoa học - công nghệ năng động bậc nhất cả nước. Giá trị lịch sử trường tồn của Sài Gòn - Gia Định - TP. Hồ Chí Minh không chỉ nằm ở quy mô đô thị hay tiềm lực kinh tế, mà còn ở tinh thần tiên phong, bản lĩnh khai phá và lòng bao dung được trao truyền liên tục từ các bậc tiền nhân. Hình bóng vị tướng kinh lược năm xưa nay vẫn sống động qua tên đường, mái đền, cù lao và trong tâm khảm của người dân Nam Bộ, như một lời nhắc nhở kiêu hãnh về nguồn cội mở cõi và trách nhiệm giữ gìn, phát triển dải đất phương Nam trù phú của Tổ quốc.


Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn
Lễ Thành Hầu - Nguyễn Hữu Cảnh | Câu chuyện thời hoa lửa