LÊ THÁNH TÔNG (THẾ KỶ XV) – VỊ HOÀNG ĐẾ CANH TÂN KIẾN TẠO THỜI ĐẠI HOÀNG KIM HỒNG ĐỨC VÀ KHÁT VỌNG "HIỀN TÀI LÀ NGUYÊN KHÍ QUỐC GIA"
Lê Thánh Tông, tên huý là Lê Tư Thành, là vị hoàng đế thứ năm của vương triều Lê sơ trong lịch sử Việt Nam, trị vì từ năm 1460 đến khi băng hà vào năm 1497, là vị vua tại vị lâu nhất thời Lê sơ và lâu thứ hai trong cả triều đại Hậu Lê chỉ sau Lê Hiển Tông với 46 năm.
LÊ THÁNH TÔNG (THẾ KỶ XV) – VỊ HOÀNG ĐẾ CANH TÂN KIẾN TẠO THỜI ĐẠI HOÀNG KIM HỒNG ĐỨC VÀ KHÁT VỌNG "HIỀN TÀI LÀ NGUYÊN KHÍ QUỐC GIA"
Trong lịch sử các triều đại phong kiến Việt Nam, nếu phải chọn ra một thời kỳ mà quốc gia Đại Việt đạt tới đỉnh cao rực rỡ và toàn diện nhất về cả chính trị, quân sự, kinh tế, pháp luật, giáo dục lẫn văn học nghệ thuật, thì các nhà sử học cổ kim đều thống nhất gọi tên thời đại Hồng Đức dưới sự trị vì suốt ba mươi tám năm (1460 – 1497) của vua Lê Thánh Tông. Bước lên ngai vàng ở tuổi mười tám giữa lúc triều đình vừa trải qua những cơn biến loạn đẫm máu, vị Hoàng đế trẻ tuổi mang tư chất thiên tài ấy đã tiến hành một cuộc cải cách hành chính – pháp quyền sâu rộng bậc nhất lịch sử, biến Đại Việt thành một cường quốc văn minh và thịnh trị hàng đầu khu vực Đông Nam Á thế kỷ thứ mười lăm.
Sinh ngày 20 tháng 7 năm Nhâm Tuất (tức ngày 25 tháng 8 năm 1442) tại chùa Huy Văn (nay nằm ở ngõ Huy Văn, phố Tôn Đức Thắng, quận Đống Đa, Hà Nội), Hoàng tử Lê Tư Thành (còn có tên là Lê Hạo) là con trai thứ tư của vua Lê Thái Tông và Tiệp dư Ngô Thị Ngọc Giao. Tuổi thơ của Lê Tư Thành gắn liền với một câu chuyện đầy sóng gió nơi cung cấm: khi bà Ngô Thị Ngọc Giao đang mang thai hoàng tử trong cung thì bị Tuyên Từ Thái hậu Nguyễn Thị Anh (mẹ của vua Lê Nhân Tông) vì lòng đố kỵ nên tìm cớ gièm pha hãm hại. May nhờ có vợ chồng đại thần Nguyễn Trãi và lễ nghi học sĩ Nguyễn Thị Lộ hết lòng che chở, bí mật đưa bà Ngọc Giao trốn ra ngoài kinh thành ẩn náu tại chùa Huy Văn rồi sau đó lánh vào đất An Trường (Thanh Hóa), cậu bé Lê Tư Thành mới được chào đời bình an.
Chính những năm tháng ấu thơ sống ngoài hoàng cung, được tiếp xúc trực tiếp với đời sống bình dị của người dân lao động và sự dạy dỗ nghiêm cẩn của người mẹ hiền đức đã nuôi dưỡng trong tâm hồn chàng hoàng tử trẻ một sự thấu cảm sâu sắc đối với nỗi khổ của bách tính. Khi được đón trở lại kinh thành phong tước Bình Nguyên Vương rồi Gia Vương, Lê Tư Thành ngày đêm miệt mài đèn sách nơi tòa Kinh diên, thông suốt mọi sách vở bách gia chư tử, lịch sử, luật pháp và binh thư. Tháng 6 năm Canh Thìn (1460), sau khi các đại thần khai quốc công thần như Nguyễn Xí, Đinh Liệt, Lê Lăng dẹp tan cuộc phản loạn cướp ngôi của Lê Nghi Dân, toàn thể triều thần đã đồng lòng rước Gia Vương Lê Tư Thành mới mười tám tuổi lên ngôi Hoàng đế (Lê Thánh Tông), đặt niên hiệu là Quang Thuận (1460 – 1469) và sau đó là Hồng Đức (1470 – 1497).
Ngay từ những ngày đầu cầm quyền, Lê Thánh Tông đã thể hiện bản lĩnh của một nhà cải cách vĩ đại. Nhận thấy bộ máy hành chính cũ còn mang nặng tính chất quân quản phân quyền cho các quý tộc công thần dễ dẫn đến nạn bè phái, chuyên quyền và tham nhũng ở địa phương, nhà vua đã thực hiện cuộc đại cải cách hành chính năm 1466 – 1471: bãi bỏ các chức Tể tướng và Đại hành khiển trung gian, trực tiếp nắm quyền điều hành Lục bộ (Lại, Hộ, Lễ, Binh, Hình, Công); bên cạnh Lục bộ lại đặt ra Lục khoa và Ngự sử đài có quyền giám sát độc lập, kiểm tra chéo và đàn hặc bất kỳ quan lại nào làm trái phép nước, kể cả việc can gián những quyết định chưa hợp lý của chính nhà vua. Toàn bộ đất nước được chia lại thành mười ba đạo thừa tuyên thống nhất từ Bắc chí Nam, mỗi đạo đều phân định rành mạch ba ty phụ trách quân sự (Đô ty), dân sự (Thừa ty) và thanh tra tư pháp (Hiến ty) để không một cá nhân nào có thể thâu tóm độc quyền tại địa phương.
Để nắm bắt chính xác tình hình đời sống của nhân dân và sự liêm khiết của đội ngũ quan lại mà không bị che mắt bởi những bản tấu chương tô hồng nơi triều chính, vua Lê Thánh Tông nổi tiếng với thói quen thường xuyên cải trang vi hành một mình vào ban đêm hoặc những dịp lễ Tết khắp các ngõ ngách kinh thành Thăng Long và các vùng quê lân cận. Trong dân gian đến nay vẫn còn lưu truyền hàng chục giai thoại ấm áp và thú vị về những chuyến vi hành của vị minh quân này.
Có một lần vào chiều ba mươi Tết Nguyên đán, khi khắp kinh thành Thăng Long nhà nhà đều đang nô nức dán câu đối đỏ và chuẩn bị mâm cỗ cúng giao thừa, vua Lê Thánh Tông mặc bộ áo vải thô giản dị như một thầy đồ nghèo đi dạo dọc các phố phường. Đi tới một ngõ nhỏ nghèo nàn cuối kinh thành, nhà vua thấy có một túp lều tranh lụp xụp hoàn toàn vắng lặng, trước cửa không hề có lấy một mảnh giấy hồng điều dán câu đối Tết như mọi nhà. Nhà vua ghé vào hỏi thăm thì thấy một người phụ nữ nghèo đang ngồi chẻ củi bên bếp lửa lạnh; bà buồn bã kể rằng chồng mình làm nghề hốt rác, gánh phân thuê cho các nhà giàu nên cả xóm đều coi thường, chẳng có thầy đồ nào chịu viết câu đối Tết cho nhà bà cả.
Cảm thương trước thân phận người lao động nghèo khổ nhưng lương thiện làm nghề làm sạch đẹp cho đời, vị "thầy đồ lạ mặt" Lê Thánh Tông liền mỉm cười bảo bà đi mua giấy đỏ và mực tàu về để mình viết giúp. Chỉ trong chốc lát, nhà vua đã phóng bút viết tặng gia đình người gánh phân một đôi câu đối chữ Hán tuyệt đẹp, vừa tả đúng cái nghề mộc mạc của hai vợ chồng lại vừa mang khí phách sánh ngang bậc vương hầu: "Ý nhất nhung y, năng đảm thế gian nan sự / Đề tam xích kiếm, tận thu thiên hạ nhân tâm" (Khoác một tấm áo bào/áo tơi, gánh vác mọi việc khó nhọc nhất của thế gian / Cầm thanh kiếm/đòn gánh dài ba thước, thu phục trọn vẹn tấm lòng người thiên hạ!). Sáng mồng một Tết, các quan lại đi chúc Tết ngang qua ngõ nhỏ nhìn thấy nét chữ rồng bay phượng múa của bậc đế vương và ý tứ sâu sắc của đôi câu đối thì vô cùng kinh ngạc, từ đó không ai còn dám khinh rẻ gia đình người lao động nghèo ấy nữa.
Một lần khác đi vi hành qua vùng Sơn Nam, gặp một anh học trò nghèo đang vừa gánh củi đi bán vừa đọc sách kinh sử, Lê Thánh Tông bắt chuyện hỏi han sự học rồi ngỏ ý mời anh ta về kinh thành Thăng Long, hứa sẽ giới thiệu vào làm một chức quan nhỏ không cần phải qua thi cử vất vả. Thế nhưng, anh học trò nghèo đã thẳng thắn từ chối với lý do rằng triều đình của vua Lê Thánh Tông đang mở khoa thi công bằng để chọn người thực tài, nếu mình không chịu học hành đỗ đạt chính danh mà lại đi đường tắt nhờ cậy người quen để làm quan thì thật đáng xấu hổ với lương tâm! Vô cùng hài lòng trước khí tiết của người học trò và hiệu quả từ chính sách khoa cử của mình, nhà vua âm thầm ghi nhớ tên tuổi; đến kỳ thi Hội năm sau, chính anh học trò ấy đã đỗ Tiến sĩ và khi vào sân rồng bái kiến mới ngỡ ngàng nhận ra người khách qua đường năm xưa chính là Hoàng đế Lê Thánh Tông.
Thực vậy, chăm lo cho giáo dục và trọng dụng nhân tài chính là quốc sách hàng đầu trong suốt triều đại Lê Thánh Tông. Nhà vua cho mở rộng quy mô Văn Miếu – Quốc Tử Giám, xây dựng thêm nhà Thái học, kho chứa ván in sách (Bí thư khố) và định lệ cứ ba năm một lần mở kỳ thi Hương, thi Hội và thi Đình đều đặn. Trong ba mươi tám năm trị vì, ông đã tổ chức mười hai khoa thi Đại tỉ, lấy đỗ 501 vị Tiến sĩ (chiếm gần một phần năm tổng số Tiến sĩ của cả lịch sử khoa cử Việt Nam suốt hơn tám trăm năm!) và chín vị Trạng nguyên lừng danh.
Đặc biệt, vào mùa thu năm Giáp Thìn (1484, niên hiệu Hồng Đức thứ mười lăm), để biểu dương những bậc hiền tài đỗ đạt và răn dạy đạo đức làm quan cho muôn đời sau, vua Lê Thánh Tông đã hạ lệnh dựng các tấm Bia đá Tiến sĩ đặt trên lưng rùa tại Văn Miếu – Quốc Tử Giám. Trong bài văn bia khoa Nhâm Tuất do Hàn lâm viện Thừa chỉ Thân Nhân Trung vâng mệnh vua soạn thảo đã khắc ghi tư tưởng bất hủ làm kim chỉ nam cho mọi thời đại: "Hiền tài là nguyên khí của quốc gia, nguyên khí thịnh thì thế nước mạnh rồi lên cao, nguyên khí suy thì thế nước yếu rồi xuống thấp. Vì vậy các đấng thánh đế minh vương chẳng ai không lấy việc bồi dưỡng nhân tài, kén chọn kẻ sĩ, vun trồng nguyên khí làm việc đầu tiên!"
Song hành với giáo dục là hai công trình pháp quyền và chủ quyền lãnh thổ vĩ đại bậc nhất thời trung đại: bộ Quốc triều hình luật (thường gọi là Bộ Luật Hồng Đức) và tập Bản đồ Hồng Đức (Hồng Đức bản đồ). Bộ Quốc triều hình luật gồm 722 điều khoản được biên soạn cực kỳ chặt chẽ không chỉ bảo vệ kỷ cương quốc gia mà còn chứa đựng những tư tưởng nhân văn, tiến bộ vượt xa bộ luật nhà Đường, nhà Minh của Trung Hoa đương thời cũng như nhiều nước phương Đông. Lần đầu tiên trong lịch sử phong kiến, dưới sự chỉ đạo trực tiếp của vua Lê Thánh Tông, luật pháp Đại Việt công nhận quyền bình đẳng về thừa kế tài sản giữa con gái và con trai trong gia đình; bảo vệ quyền sở hữu tài sản riêng của người vợ khi chồng qua đời hoặc khi ly hôn; cho phép người vợ có quyền xin bỏ chồng nếu người chồng bỏ bê gia đình suốt năm tháng không đoái hoài; nghiêm cấm quan lại ức hiếp dân lành hoặc cưỡng cưới con gái nhà dân tại nơi trị nhậm; và quy định trách nhiệm của làng xã phải nuôi dưỡng người già cô đơn, trẻ mồ côi và người tàn tật không nơi nương tựa.
Đối với chủ quyền biên cương và biển đảo của Tổ quốc, sau khi cho các quan đo đạc vẽ xong bộ bản đồ quốc gia đầu tiên gồm mười ba đạo thừa tuyên vào năm 1490, vua Lê Thánh Tông đã ban hành lời训 dụ đanh thép như lời thề giữ nước thiêng liêng trước các quan trấn thủ biên thùy: "Một thước núi, một tấc sông của ta, lẽ nào lại nên vứt bỏ? Ngươi phải kiên quyết tranh biện, chớ cho họ lấn dần! Nếu họ không nghe, còn có thể sai sứ sang tận triều đình của họ, trình bày rõ điều ngay lẽ gian. Nếu ngươi dám đem một thước, một tấc đất của Thái Tổ làm mồi cho giặc, thì tội phải tru di!"
Không chỉ là bậc đại đế trị quốc và thượng võ, Lê Thánh Tông còn là một nhà thơ lớn bằng cả chữ Hán và chữ Nôm, người sáng lập hội thơ Tao Đàn (gồm hai mươi tám danh sĩ gọi là Tao Đàn nhị thập bát tú) do chính nhà vua làm Tao Đàn Nguyên súy để ngâm vịnh ca ngợi vẻ đẹp non sông gấm vóc và khí phách anh hùng của dân tộc. Khi ông băng hà vào tháng Giêng năm Đinh Tỵ (1497) ở tuổi năm mươi sáu, ông đã để lại một quốc gia Đại Việt hùng cường, văn hiến và thịnh trị bậc nhất trong lịch sử trung đại.



