Bài viết

Lê Thị Bích Tròn, quê ở tỉnh Thanh...

Tháng 8-1967, Trung đoàn 3 của Sư đoàn 324 cùng du kích địa phương đánh thêm một trận thắng trên Cao điểm 82, thuộc xã Gio An (gần đồn Cồn Tiên). Anh em vừa giải quyết công tác thương binh, liệt sĩ xong, thì được lệnh bàn giao địa bàn và rút ra bờ bắc sông Bến Hải củng cố bổ sung.

Hà Tĩnh16/04/2026Ban Biên tập tổng hợp3 lượt xem0 lượt chia sẻ

Nhạc sĩ Huy Thục (giữa) cùng hát với các CCB nơi chiến trường xưa bài “Tiếng đàn Ta lư” nhân kỷ niệm 40 năm Ngày giải phóng Quảng Trị. Ảnh: Vinh Thành.

Quân số đơn vị chỉ còn một phần tư, giày dép, quần áo, ba lô, súng đạn... còn dính đầy đất đỏ nơi chiến trận. Chưa kịp tắm giặt, bỗng được lệnh: Tập trung xem văn công!

Sân khấu là địa đạo tầng âm, phía trên có cây xanh che mắt máy bay Mỹ. Ghế ngồi bằng những cây gỗ nhỏ thẳng, được buộc 2-3 cây tạo thành từng dãy hàng ngang, có cọc trụ chứa đủ 5 đến 7 chục người. Mỗi tiểu đoàn thay nhau tới xem một lượt. Là món ăn tinh thần hiếm có, vô cùng quý giá của đồng đội từ miền Bắc thân yêu.

Văn công có khoảng vài chục người, gồm diễn viên, nhạc công nam, nữ khoác áo lính. Biểu diễn ban ngày với các loại nhạc cụ dân tộc gọn nhẹ, dễ cơ động như ác-coóc-đê-ông, đàn nguyệt, sáo nhị, thập lục và đàn bầu... Các ca khúc mới viết, các ca sĩ chưa thuộc, phải cầm giấy hát theo tiếng đàn.

Chúng tôi lắng nghe như nuốt lấy từng âm thanh. Các bài ca: Đường ra mặt trận, Ơi dòng suối La La, Tiếng hát trên đường quê hương, Trên cao điểm 82, Tiếng đàn Ta lư v.v..

Tất cả lắng nghe vừa hân hoan vừa xúc động, không ít người rơi nước mắt.

Khi hết chương trình, nhạc sĩ Huy Thục như thấy được sự xúc động lớn từ khán giả. Anh đã nán lại sân khấu vài phút, cảm ơn và nói: “Chiến công là của các đồng chí, chúng tôi chỉ góp thêm những nốt nhạc cho thành bài ca...”.

Sau đó, anh em xin những mảnh giấy có lời ca về nhân nha hát khi có điều kiện trên đường hành quân hay trong hầm chốt chờ địch.

Anh em hát bất cứ lúc nào, rồi tự “phịa” những lời ca mang tâm tư tình cảm của riêng mình. Dù không ai động viên hoặc nghiêm cấm (phịa), một số cán bộ chính trị chỉ nhắc nhở không được (!), nhất là không được “phịa” mục đích ý nghĩa của ca khúc. Thế mà anh em cứ tự “phịa” từ vài câu của một bài hát. Có bài anh em phịa trọn vẹn như ca khúc: Tiếng đàn Ta lư của nhạc sĩ Huy Thục. Mở đầu có lời ca: “Đi chiến trường, gùi trên vai nặng trĩu, đàn Ta lư em cất tiếng ca vui cùng núi rừng. Mừng thắng trận quê em!...”. Cùng giai điệu âm nhạc ấy, anh em “phịa”: “Đi chiến trường, mùa khô năm bảy mốt, bộ ưu tiên cấp ép, cấp E mới được đi tàu, vào đến tận ga Sy...”.

Do yêu thích ca hát, lại có những dòng nhạc thấm thía từng nhịp bước đi của tuổi trẻ, tôi cũng đã “phịa” lời của bài hát Tiếng hát trên đường quê hương. Bài này, mở đầu lời ca tác giả viết: “Ai đã tới miền quê em Quảng Trị-Thừa Thiên, qua Đường 9, tình Gio Linh lắng trong giọng hò”. Khoảng cuối năm 1970, tức là bài hát đã ra đời được 3 năm, tôi đã “phịa” đoạn mở đầu, thật tự nhiên để hát cho riêng mình: “Lê Thị Bích Tròn của anh, quê ở tỉnh Thanh, xã Hợp Thắng, huyện Triệu Sơn, chính thôn Hòa Bình”...

Chả là sau khi thuộc bài hát, tôi tham gia Chiến dịch Mậu Thân rồi bị thương lần đầu. Tôi phải về một đơn vị khác chiến đấu, sống gần một đơn vị thanh niên xung phong có quê toàn Thanh Hóa. Phần lớn là nữ, mở đường Trường Sơn sát tận chiến trường phục vụ đầy gian khổ hy sinh; cùng độ tuổi mười tám đôi mươi xinh đẹp, phải sống trong môi trường khắc nghiệt. Sáu tháng không có một ngày nắng ở miền rừng (Dốc Ho, Cầu Khỉ), áo quần ướt át, hôi hám. Nhiều người đầy ghẻ lở, hắc lào. Ăn uống thiếu thốn, lại sên cắn muỗi đốt, sốt rừng... Nhưng các cô vẫn yêu đời, hăng say công việc trong mưa bom bão đạn để bảo vệ con đường cho xe ta vào chiến trường tiếp viện. Các cô vẫn hát, vẫn động viên nhau hoàn thành nhiệm vụ. Các cô còn giúp đỡ đơn vị tôi nhiều việc như chuyển đạn, kéo pháo, thay lá ngụy trang. Hái rau măng làm thực phẩm, khâu vá áo quần...

Trong rừng sâu, núi thẳm chỉ có bộ đội và TNXP, tôi đã thương yêu một cô tên là Lê Thị Bích Tròn. Cô hay hát, hát hay nhất là bài Tiếng hát trên đường quê hương. Một tình thương bao la, say đắm nhưng vô cùng tỉnh táo bởi tính kỷ luật tự giác và là danh dự người cán bộ, đảng viên của một tập thể đã được Đảng, Nhà nước tuyên dương Anh hùng LLVT nhân dân. Khi cùng đơn vị tiếp tục vào mặt trận, tôi nhớ Tròn, và đã “sáng tác” ra câu hát: “Lê Thị Bích Tròn của anh quê ở tỉnh Thanh, xã Hợp Thắng, huyện Triệu Sơn, chính thôn Hòa Bình”.

Xã Hợp Thắng, huyện Triệu Sơn không có thôn Hòa Bình. Thôn Hòa Bình ngày ấy tôi “phịa” có ý đến ngày đất nước hòa bình, tôi sẽ quyết tâm về xã Hợp Thắng tìm em.

Đầu mùa mưa năm 1971, đơn vị chúng tôi vừa giúp nước bạn Lào đánh Mỹ tròn một mùa khô. Khi kéo pháo về đến biên giới (Cổng Trời-vùng Cha Lo trên Đường 12A), mọi người bị ướt át, bùn lầy, rét mướt nhưng rất vui mừng được gặp nhiều phụ nữ Việt Nam ra đón, đó là anh chị em của Binh trạm 12. Tôi ấm lên bởi trong đó có Tròn.

Tròn kể: “Em hết nghĩa vụ TNXP 3 năm, xin chuyển sang bộ đội. Được thủ trưởng Đoàn 559 nhận làm lính thông tin. Nay qua tổng đài, biết phiên hiệu đơn vị anh về qua, em nói đồng đội cùng ra đón...”. Thật xúc động, nhưng chúng tôi gặp nhau rồi chia tay vội vã. Mùa xuân 1972, tôi tham gia giải phóng Quảng Trị. Ngày 20-7, tôi bị thương nặng ở Thành cổ. Được đồng đội nhanh chóng cấp cứu, chuyển dần ra miền Bắc an điều dưỡng nhiều năm. Do vết thương quá nặng, tôi rất buồn vì phải xa đơn vị anh hùng và tự ti không liên lạc với Tròn nữa.

Đất nước thống nhất, tôi đã là “thương binh tàn mà không phế”, vẫn có vợ hiền đảm đang. Vợ tôi cũng từng là chiến sĩ Trường Sơn, Đường Hồ Chí Minh huyền thoại.

40 năm sau chiến tranh, tôi đọc lại những dòng nhật ký ghi từ những năm tháng ác liệt, hào hùng. Và đó đây, vẫn vang lên những ca khúc về Quảng Trị yêu thương. Tự nhiên tôi lại lẩm nhẩm theo giai điệu của bài hát “Tiếng hát trên đường quê hương” bằng những lời ca tôi viết về Lê Thị Bích Tròn.

Một lần đi tàu Thống Nhất tôi đã xuống ga Thanh Hóa. Theo địa chỉ của bài ca năm xưa, tôi thuê xe ôm đến huyện Triệu Sơn, rồi đến UBND xã Hợp Thắng gặp ngay đồng chí Chủ tịch hội CCB và Ban liên lạc Cựu TNXP hỏi tin về Tròn. Mọi người đều vui vẻ trả lời: “Quê tôi có cô Tròn ấy đấy. Sau chiến tranh cô ấy vẫn sống sót trở về; đã lấy chồng cùng binh trạm, quê Hà Tây; đã có đủ con gái, con trai, cùng gia đình chuyển vào Tây Nguyên xây dựng vùng kinh tế mới”.

Tôi xin địa chỉ qua thân nhân của cô. Rồi biên thư, nhắn tìm qua báo chí, phát thanh truyền hình đến nay vẫn chưa có hồi âm!

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn