Lê Thị Huệ (1930)
Bà Lê Thị Huệ (bí danh Thanh Văn, Năm Vạn), sinh ngày 31 tháng 3 năm 1930 tại làng Hoà An, quận Cao Lãnh, tỉnh Sa Đéc (nay là phường Hoà Thuận, thành phố Cao Lãnh, tỉnh Đăng Tháp).
Năm 1942-1944. hà học tại trường tiểu học Hoà An, sau đó học trường trung học Gia Long, Sài Gòn. Bà đã được chị ba tên là Lê Thị Thuỷ, đoàn trưởng Phụ nữ cứu quốc tỉnh Sa Đéc (sau bà Sâu Ngài) hướng bà theo con đường cách mạng và gắn bó cuộc đời mình với công tác phụ nữ
Bà chính thức tham gia cách mạng khi vũa trên 16 tuổi (khoảng tháng 6 năm 1946), sinh hoạt trong tổ Phụ nữ cứu quốc xà Hoà An. Tháng 9/1947, bà là tổ trường tổ phụ nữ của quốc sử Hoà An. Tháng ot năm 1948, bà là đoàn phó, sau là đoàn trường Ban Chấp hành Phụ nữ cứu quốc xã Hòa An
Tháng 8-1948, bà được kết nạp vàn Đảng Cộng sản Đông Dương (nay là Đảng Cộng sản Việt Nam) Từ tháng 02/1949 đến 01/1951, bà là đoàn phó rồi đoàn trường Ban Chấp hành Phụ nữ cứu quốc huyện Cao Lãnh. Tháng 01/1951, bà là Uỷ viên Ban Chấp hành Phụ nữ cứu quốc tỉnh Sa Đéc (sau là tỉnh Long Châu Sa). Tháng 12/1953 đến 10/1954. bà là Uỷ viên Ban Chấp hành Phụ một xã Mỹ Ngài và giáo viên dạy bình dân học vụ ở kênh Ông Kho (cân cử kháng chiến).
Sau thời gian tập kết chuyển quân theo Hiệp định Genève (1954), bà được bố trí ở lại, rút vào hoạt động bị mặt. Cuối năm 1954, bà là Uỷ viên Ban Phụ vận tỉnh Kiến Phong, được phân công bám địa bàn hai xã Mỹ Ngài và Hoà An.
Năm 1959, do bị lộ, bà được rút về cơ quan Tỉnh uỷ, làm cộng tác viên phụ trách phụ vận và học sơ cấp chính trị tại trường Đáng Trần Phủ của Khu uỷ, sau đó về mở lớp đào tạo cán bộ cốt cán phụ vận cho cơ sở
Tháng 11 năm 1960, bà được điều về làm Huyện uỷ viên Huyện uỷ Cao Lãnh, phụ trách hai xã Tân An (nay là Mỹ Tân). Mỹ Ngãi và sau đó bà được phân công về xã Tân Tịch và Tịnh Thới. Trước chủ trương khôi phục lại các đoàn thế thanh niên, phụ nữ, nông dân đã giải tán (1954), bà cùng với cán bộ Thanh vận và Nông vận tháo Điều lệ cho các tổ chức đoàn thể hoạt động trở lại.
Tháng 10/1961, bà là Trưởng Ban Phụ vận tỉnh Kiến Phong. Ngày 01/6/1962, bà học trung cấp chính trị Trường Đáng Nguyễn Ái Quốc miền Nam.
Ngày 08/3/1963, thành lập Hội Liên hiệp Phụ nữ Giải phóng tỉnh Kiến Phong, bà được bầu làm Hội trưởng Ban Chấp hành Hội Liên hiệp Phụ nữ Giải phòng tỉnh Kiến Phong, Uỷ viên Thường vụ Ban Chấp hành Phụ nữ Khu Trung Nam Bộ. Tỉnh uỷ viên Tỉnh uỷ Kiến Phong.
Tháng 6/1967 đến 3/1968, bà được phân công phụ trách ba xã: Hoà An, Tân Thuận Đông. Tân Thuận Tây, vùng tiếp giáp thị xã Cao Lãnh.
Tháng 10/1968, bà được rút lên Hội Liên hiệp Phụ nữ Giải phóng Khu 8 (Khu Trung Nam Bộ). Từ tháng 10/1973 đến 3/1976, bà là Hội Phó ban Chấp hành Phụ nữ Khu Trung Nam Bộ, được phân công hoạt động trên chiến trường Gò Công. Mỹ Tho và Bến Tre.
Năm 1974, bà được cử tham gia phái đoàn phụ nữ miền Nam ra Hà Nội dự Đại hội Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam (lần thứ IV).
Cuối năm 1974, bà trở về miền Nam. Đầu năm 1975, chuẩn bị giải phóng miền Nam, bà là thành viên Ban Chỉ huy tiển phương của Khu uỷ Khu 8. Tháng 6/1976, bà được điều về công tác tại tỉnh Đồng Tháp và được bầu làm Hội trường Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam tỉnh Đồng Tháp, khoá đầu tiên sau giải phóng miền Nam, thông nhất đất nước và là Tỉnh uỷ viên.
Tháng 7/1981 đến 5/1982, bà là Uỷ viên Ban Chấp hành Trung ương Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam. Tháng 5/1982 đến 11/1985, bà là Uỷ viên Đảng đoàn, Uỷ viên Ban Thư ký Trung ương Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam.
Tháng 11/1985 đến 01/1989, bà là Phó ban Dân vận Tỉnh uỷ Đồng Tháp. Tháng 02/1989, hà nghỉ hưu tại xã Hòa An, thành phố Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp (nay là phường Hoà Thuận, thành phố Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp).
Ở tuổi ngoài tám mươi, bà vẫn tích cực tham gia các hoạt động xã hội và đóng góp cho quê hương. Bà là Chủ nhiệm CLB cán bộ Hội Phụ nữ hưu trí tỉnh Đồng Tháp, Uỷ viên Thường vụ Hội Khuyên học. Uỷ viên Thường trực Hội Bảo trợ người khuyết tật, trẻ mồ côi và bệnh nhân nghèo, Uỷ viên Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tỉnh Đồng Tháp. Chủ nhiệm CLB Ông bà cha mẹ mẫu mực, con châu hiều thảo phường Hoà Thuận...
Bà Lê Thị Huệ đã được Đảng, Nhà nước tăng Huy hiệu 65 năm tuổi Đảng. Huân chương Độc lập hạng Nhì. Huân chương Quyết thắng hạng Nhất, Huân chương Kháng chiến hạng Nhất, Huân chương Lao động hạng Nhì và nhiều hình thức khen thưởng khác.



