Lê Thị Sảnh
vùng đất Trí Phải, huyện Thới Bình, tỉnh Cà Mau, câu chuyện về Má Lê Thị Sảnh vẫn được các thế hệ trân trọng nhắc nhớ. Cuộc đời Má gắn với những năm tháng chiến tranh gian khổ, với nghĩa tình sâu nặng dành cho cán bộ, chiến sĩ và đặc biệt là với cây vú sữa miền Nam – món quà mộc mạc đã vượt trùng khơi đến với Bác Hồ kính yêu.
Trong những năm kháng chiến, Má Lê Thị Sảnh là Hội trưởng Hội Phụ nữ Cứu quốc xã Trí Phải. Dẫu cuộc sống gia đình còn nhiều thiếu thốn, Má vẫn mở rộng vòng tay nuôi giấu, chở che cho cán bộ, bộ đội. Hết đơn vị này đến đơn vị khác về đóng quân trong xóm, Má đều tận tình lo từng bữa ăn, chỗ nghỉ.
Nhắc lại những năm tháng ấy, bà Đỗ Thị Cư – người con thứ bảy của Má, thường được gọi thân mật là cô Bảy – xúc động kể:
“Má nuôi bộ đội, cán bộ hết tốp này tới tốp khác. Hồi còn nhỏ ở với Má, tôi nấu cơm cho bộ đội đến nám hết cả tay. Mỗi năm Má làm hai, ba lu mắm cũng để dành cho bộ đội. Má dỡ chà dưới sông, cá lớn thì đem bán, còn lại đều để bộ đội ăn. Hồi đó, bộ đội đóng ở nhiều nhà trong xóm nên Má san sẻ cho mấy nhà cùng lo.”
Không chỉ chăm lo cơm áo, Má còn âm thầm tham gia nhiều công việc cách mạng. Từ sự dìu dắt của Má, cô Bảy sớm trở thành một giao liên nhỏ tuổi. Những lá thư được giấu kín trong lai quần rộng, vượt qua tai mắt của quân thù để đến đúng địa chỉ. Có lần, Má nấu cháo, rót vào chai rồi đặt trong giỏ; cô Bảy cầm thêm chiếc cần câu, giả vờ đi câu cá để mang cháo đến cho thương binh.
Đó là những công việc thầm lặng nhưng luôn cận kề hiểm nguy. Cô Bảy nhớ lại, nếu bị phát hiện, người làm cách mạng có thể phải trả giá bằng chính mạng sống của mình. Ông Tư Quý, ông Năm Dê đã bị kẻ thù sát hại dã man. Vợ ông Tư Quý khi ấy đang mang thai, chính Má Lê Thị Sảnh đã cưu mang, đưa đi sinh nở rồi tiếp tục chăm lo, chở con của ông đi chữa bệnh. Trong hoàn cảnh khốc liệt, Má không chỉ là chỗ dựa của cán bộ, chiến sĩ mà còn là người mẹ giàu lòng nhân hậu của những gia đình chịu nhiều mất mát vì cách mạng.
Năm 1954, Hiệp định Genève về đình chỉ chiến sự ở Việt Nam được ký kết. Cà Mau được giao một trọng trách đặc biệt: trở thành khu vực tập kết 200 ngày của lực lượng kháng chiến miền Nam trước khi lên đường ra Bắc.
Trong những ngày tiễn đưa cán bộ, chiến sĩ tập kết, Má Lê Thị Sảnh thường nghe bộ đội kể về cuộc đời bôn ba tìm đường cứu nước của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Càng nghe, Má càng cảm phục và kính yêu Người. Từ đáy lòng, Má mong muốn được gửi ra Bắc một món quà mang hương vị quê hương, thay cho tình cảm của đồng bào miền Nam đối với Bác.
Sau nhiều đêm suy nghĩ, Má quyết định chọn một cây vú sữa – loài cây gần gũi với đất và người Nam Bộ. Má gọi cô Bảy sang vườn nhà ông Nguyễn Văn Đương xin một cây vú sữa nhỏ, cao chừng 20 cen-ti-mét, mang về ươm trong chiếc bình tích bằng sành. Cây còn bé nhỏ, nhưng trong đó chất chứa biết bao niềm tin, nỗi nhớ và ước nguyện của Má cùng đồng bào miền Nam.
Trong buổi lễ tiễn đưa bộ đội tập kết ra Bắc, Má Lê Thị Sảnh bước lên khán đài, hai tay nâng niu cây vú sữa nhỏ. Má chân tình gửi gắm:
“Má muốn gửi các con cây vú sữa nhỏ này ra kính tặng Cụ Hồ và đồng bào miền Bắc. Các con chuyển giúp Má được không?”
Má trao cây vú sữa cho đồng chí Nguyễn Trung Kiên, thường gọi là Ba Kiên, cán bộ thuộc Tiểu đoàn 307, rồi ân cần căn dặn:
“Ra ngoài đó, các con thưa với Cụ Hồ, thưa với cô bác miền Bắc rằng bà con trong này luôn hướng về Cụ Hồ, hướng về miền Bắc.”
Lời dặn của Má giản dị mà tha thiết. Đó không chỉ là lời của một người mẹ Cà Mau gửi đến Bác Hồ, mà còn là tiếng lòng của biết bao người dân miền Nam đang ngày đêm hướng về miền Bắc ruột thịt.
Trên con tàu Kilinski của Ba Lan, ba thanh niên được giao nhiệm vụ thay nhau chăm sóc cây vú sữa. Giữa biển khơi, nước ngọt vô cùng khan hiếm, nhưng các anh vẫn chắt chiu từng bát nước để tưới cây. Trải qua nhiều ngày lênh đênh trong sóng gió, cây vú sữa nhỏ vẫn giữ được màu lá xanh tươi, như giữ trọn niềm tin mà Má Lê Thị Sảnh và đồng bào Cà Mau đã gửi gắm.
Sáng mồng Một Tết Nguyên đán năm Ất Mùi 1955, con tàu cập bến Sầm Sơn, tỉnh Thanh Hóa. Từ đây, cây vú sữa được đưa theo đồng chí Nguyễn Văn Kỉnh, Ủy viên Thường vụ Trung ương Cục miền Nam, lên tàu hỏa ra Thủ đô Hà Nội.
Ngày 26-1-1955, tức mồng Ba Tết, đồng chí Lê Đức Thọ và đồng chí Nguyễn Văn Kỉnh thay mặt đồng bào miền Nam kính tặng Bác Hồ cây vú sữa của Má Lê Thị Sảnh. Khi biết đây là món quà của đồng bào nơi tận cùng phía Nam Tổ quốc gửi tặng, Bác vô cùng xúc động.
Bác trồng cây bên bờ ao, cạnh ngôi nhà 1954 – nơi Người sống và làm việc trong bốn năm đầu tại Khu Phủ Chủ tịch. Vốn là loài cây ưa khí hậu nóng, cây vú sữa miền Nam khó thích nghi với mùa đông giá rét ở miền Bắc. Vì vậy, dù bận trăm công nghìn việc, Bác vẫn dành thời gian tự tay vun gốc, tưới nước và chăm sóc cây.
Mùa đông đến, Bác nhắc các đồng chí phục vụ bện rơm quấn quanh thân, lấy mùn tấp vào gốc để giữ ấm. Khi mùa mưa bão về, Người lại căn dặn anh em chằng chống, không để cây ngã đổ. Dưới sự chăm sóc ân cần của Bác, cây vú sữa nhỏ bé từ quê hương Cà Mau dần bén rễ, vươn cành và xanh tốt giữa lòng Thủ đô.
Tháng 5-1958, Bác Hồ chuyển sang sống và làm việc tại ngôi nhà sàn. Cuối năm ấy, Bác đề nghị chuyển cây vú sữa về trồng phía sau nhà sàn để thuận tiện chăm sóc. Từ nơi làm việc, mỗi ngày Bác đều có thể nhìn thấy cây. Bóng cây vú sữa vì thế trở thành hình ảnh thân thương của miền Nam luôn hiện hữu trong trái tim Người.
Sau khi Bác Hồ qua đời, nhân dân xã Trí Phải đã lập Phủ thờ để tưởng nhớ công lao và bày tỏ lòng thành kính đối với Người. Năm 1990, nhân kỷ niệm 100 năm Ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh, cán bộ Khu di tích Chủ tịch Hồ Chí Minh tại Phủ Chủ tịch đã chiết một cành từ chính cây vú sữa miền Nam năm xưa. Tỉnh ủy Minh Hải giao Bảo tàng tỉnh ra Hà Nội tiếp nhận, đưa cây về trồng trong khuôn viên Phủ thờ Bác tại xã Trí Phải.
Sáng ngày 19-5-1990, lễ bàn giao và đón nhận cây vú sữa được tổ chức trong không khí trang nghiêm, xúc động. Sau hơn ba mươi năm được nhân dân địa phương tận tình chăm sóc, cây đã cao lớn, cành lá sum suê và cho nhiều quả ngọt. Từ cây ấy, người dân tiếp tục ươm hạt, nhân giống và trồng thêm nhiều cây trong khuôn viên Phủ thờ cũng như tại các gia đình trong xã.
Mỗi khi cây cho quả chín, Ban Quản lý Phủ thờ lựa chọn những quả đẹp nhất, ngon nhất kính dâng lên bàn thờ Bác. Những trái vú sữa ngọt lành không chỉ là sản vật của quê hương mà còn là biểu tượng của lòng biết ơn, của niềm tin son sắt và tình cảm thủy chung mà người dân Cà Mau dành cho Bác Hồ.
Năm 2004, nhân kỷ niệm 50 năm sự kiện tập kết ra Bắc, tỉnh Cà Mau xây dựng Bia kỷ niệm Bác Hồ với cây vú sữa miền Nam trên phần đất của gia đình Má Lê Thị Sảnh. Công trình ghi dấu nơi cây vú sữa nhỏ được Má gửi gắm cho cán bộ, chiến sĩ mang ra Bắc kính tặng Bác Hồ. Mốc xây dựng năm 2004 được xác nhận trên Cổng thông tin điện tử tỉnh Cà Mau.
Hướng đến kỷ niệm 70 năm sự kiện tập kết ra Bắc, vào cuối tháng 5-2024, lãnh đạo Tỉnh ủy, Ủy ban nhân dân tỉnh Cà Mau cùng các cơ quan liên quan đã khảo sát thực tế, quyết định trùng tu, nâng cấp Bia kỷ niệm và khu mộ của Má Lê Thị Sảnh, hình thành một khuôn viên di tích trang nghiêm. Lãnh đạo tỉnh cũng chỉ đạo xây dựng kế hoạch bảo quản, trùng tu công trình thường xuyên, để nơi đây trở thành địa chỉ giáo dục truyền thống cho các thế hệ.
Ngày 8-10-2024, Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh Cà Mau ký quyết định xếp hạng Bia kỷ niệm Bác Hồ với cây vú sữa miền Nam là Di tích lịch sử cấp tỉnh. Sáng ngày 12-11-2024, tỉnh Cà Mau long trọng tổ chức lễ khánh thành và công bố quyết định xếp hạng di tích tại Ấp 10, xã Trí Phải, huyện Thới Bình. Báo Cà Mau xác nhận đầy đủ mốc thời gian này.
Trước lúc đi xa, Má Lê Thị Sảnh vẫn đau đáu căn dặn con cháu phải cố công chăm sóc, gìn giữ cây vú sữa. Với Má, chăm cây cũng chính là gìn giữ niềm tin, lòng thủy chung và tình cảm hiếu kính của những người con miền Nam đối với Bác Hồ.
Ngày nay, trên quê hương Trí Phải, nhiều gia đình vẫn trồng cây vú sữa trong vườn nhà như một biểu tượng thiêng liêng. Từ cây non chỉ cao hai mươi cen-ti-mét trong chiếc bình tích bằng sành năm nào, một câu chuyện lớn về lòng dân đã được viết nên. Trong câu chuyện ấy, Má Lê Thị Sảnh hiện lên thật bình dị mà cao quý: một người mẹ giàu lòng yêu nước, một người phụ nữ kiên trung với cách mạng và là người đã gửi tấm lòng son sắt của đất phương Nam đến với Bác Hồ kính yêu.



