Anh hùng Lực lượng vũ trang

Lê Thị Sáu – Người nữ giao liên gần 20 năm không để lộ một bí mật

Anh hùng LLVTND Lê Thị Sáu (tức Trần Thị Biết, sinh năm 1929), quê xã Đức Hòa, huyện Đức Hòa, tỉnh Long An, tham gia kháng chiến từ năm 1947. Sau Hiệp định Giơ-ne-vơ 1954, bà được phân công ở lại miền Nam làm nhiệm vụ giao liên, trinh sát, xây dựng cơ sở và chuyển tin tức trong vùng đối phương kiểm soát. Gần 20 năm hoạt động, bà không để mất một tài liệu, không để lộ bí mật của tổ chức. Đặc biệt dịp Tết Mậu Thân 1968, dù bị thương nặng khi mang tài liệu, bà vẫn cố tìm đến cơ sở bí mật để bàn giao an toàn rồi mới đi chữa trị. Sau thời gian phục hồi, bà tiếp tục trở lại hoạt động giữa Sài Gòn. Ngày 10/2/1970, Lê Thị Sáu được tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân giải phóng.

Tây Ninh22/08/2026Xã Thạnh Mỹ Tây (Đoàn xã Thạnh Mỹ Tây)2 lượt xem0 lượt chia sẻ

Trong chiến tranh, có những chiến công được ghi bằng những trận đánh lớn, những mục tiêu bị tiêu diệt hay những vị trí được chiếm giữ. Nhưng cũng có những chiến công diễn ra âm thầm hơn rất nhiều: một bức thư được đưa đến đúng nơi, một tài liệu tuyệt mật vượt qua hàng loạt trạm kiểm soát, một cơ sở được giữ kín giữa vùng đối phương kiểm soát.

Cuộc đời hoạt động của Lê Thị Sáu, tức Trần Thị Biết, là một câu chuyện như thế.

Bà sinh năm 1929, quê xã Đức Hòa, huyện Đức Hòa, tỉnh Long An. Sớm được giác ngộ cách mạng, năm 1947, khi khoảng 17–18 tuổi, Lê Thị Sáu đã tham gia kháng chiến chống Pháp.

Sau Hiệp định Giơ-ne-vơ năm 1954, trong khi nhiều cán bộ, chiến sĩ tập kết ra Bắc, bà được tổ chức phân công ở lại miền Nam.

Công việc không ồn ào nhưng cực kỳ nguy hiểm: làm liên lạc, giao thông, xây dựng cơ sở và thu thập tin tức trong vùng đối phương kiểm soát để báo cáo lên cấp trên.

Từ đó, gần như cả cuộc sống của Lê Thị Sáu gắn với những con đường bí mật.

Bà phải đi qua nhiều địa bàn khác nhau, sử dụng nhiều vỏ bọc khác nhau, làm quen với những cơ sở khác nhau. Nhưng suốt gần 20 năm hoạt động, tài liệu ghi nhận một điều đặc biệt:

Lê Thị Sáu chưa từng làm mất một tài liệu và chưa từng để lộ một bí mật của tổ chức.

Đó là một thành tích rất lớn đối với một người làm công tác giao liên và trinh sát giữa vùng bị kiểm soát.

Mùa Đông năm 1967, trong lúc quân Mỹ mở cuộc phản công mùa khô lần thứ hai, Lê Thị Sáu được điều tới một địa bàn rừng núi hoàn toàn xa lạ.

Để theo dõi tình hình và giữ đường dây liên lạc, bà được bố trí vào làm công cho một gia đình giàu có.

Ban ngày, bà sống như một người làm thuê bình thường.

Nhưng phía sau vỏ bọc ấy là một nhiệm vụ khác.

Lê Thị Sáu phải quan sát tình hình, giữ liên lạc với cơ sở, nhận tin, chuyển tin và tuyệt đối không để bất kỳ ai nghi ngờ.

Bà khéo léo hòa mình vào cuộc sống thường ngày, giữ được vỏ bọc an toàn và liên tục cung cấp thông tin phục vụ hoạt động của bộ đội chủ lực miền Đông Nam Bộ trong chiến dịch mùa đông năm 1967.

Đầu năm 1968, nhiệm vụ của Lê Thị Sáu lại thay đổi.

Lần này bà được điều thẳng vào Sài Gòn, vừa làm giao thông liên lạc, vừa làm trinh sát phục vụ các lực lượng mũi nhọn chuẩn bị tiến công thành phố.

Đó là thời điểm không khí trong và ngoài Sài Gòn vô cùng căng thẳng.

Các trạm kiểm soát dày đặc.

Việc đi lại khó khăn.

Chỉ một sơ suất nhỏ cũng có thể làm lộ cả đường dây.

Ngày 28 Tết Mậu Thân, trên đường đi thực hiện nhiệm vụ, Lê Thị Sáu bất ngờ rơi vào một trận phục kích.

Bà bị thương rất nặng ở chân.

Trong người vẫn còn tài liệu.

Nếu bị bắt, nguy cơ không chỉ là tính mạng của bản thân mà còn là sự an toàn của cả cơ sở và những người đang hoạt động bên trong thành phố.

Trong tình trạng bị thương, Lê Thị Sáu vẫn không tìm đường tới bệnh viện ngay.

Bà cố gắng:

lết từng đoạn đường để tìm đến địa điểm hộp thư liên lạc bí mật.

Chỉ khi tới được nhà cơ sở, bà mới báo cáo tình hình và:

bàn giao toàn bộ tài liệu.

Khi bí mật đã được bảo đảm, cơ sở mới tìm cách đưa bà vào một bệnh viện trong thành phố.

Lê Thị Sáu phải điều trị suốt hai tháng.

Những vết thương để lại hậu quả nặng nề. Khi ra viện, bà đi đứng không vững, tay chân cử động khó khăn.

Với nhiều người, như vậy có lẽ đã đủ để rời khỏi công tác nguy hiểm.

Nhưng Lê Thị Sáu muốn trở lại.

Bà bắt đầu tập luyện.

Từng bước một.

Từng động tác một.

Suốt ba tháng, bà kiên trì tập đi, tập vận động để khắc phục thương tật.

Khi cảm thấy mình đã có thể đi lại tương đối vững vàng, điều đầu tiên Lê Thị Sáu làm là:

xin tổ chức cho trở lại công tác.

Nguyện vọng được chấp thuận.

Và người nữ giao liên vừa trải qua thương tích nặng lại tiếp tục mang tài liệu đi giữa Sài Gòn trong lúc cuộc Tổng tiến công và nổi dậy năm 1968 vẫn đang diễn ra.

Khi ấy, công tác kiểm soát trong thành phố, vùng ven và các khu tiếp giáp càng nghiêm ngặt hơn trước.

Nhưng Lê Thị Sáu vẫn tìm được cách vượt qua các trạm kiểm soát, đưa tài liệu tới đúng nơi quy định và tiếp tục giữ cho đường dây liên lạc hoạt động.

Điều đáng quý ở Lê Thị Sáu không chỉ là sự gan dạ trong những tình huống nguy hiểm.

Cuộc sống riêng của bà cũng đầy khó khăn.

Hoạt động giữa Sài Gòn, bà còn phải nuôi bố mẹ chồng và sáu người con nhỏ.

Để giữ vỏ bọc và duy trì cuộc sống, bà phải sống giữa một thành phố có nhiều cảnh xa hoa. Nhưng bản thân Lê Thị Sáu lại cực kỳ tiết kiệm.

Kinh phí tổ chức cấp cho công tác, bà luôn cố gắng sử dụng ít nhất có thể.

Bà chủ động xin giảm phần chi tiêu của mình và tìm cách tự kiếm thêm bằng nghề:

bán cháo rong.

Gia đình sống rất đạm bạc.

Nhưng số tiền ít ỏi kiếm được từ việc bán cháo và chăn nuôi gia cầm, bà vẫn dành dụm một phần để:

mua quà gửi cho đồng đội.

Đó là một nét rất đặc biệt trong câu chuyện về người nữ cán bộ này.

Bản thân bà phải nuôi một gia đình đông người, vừa hoạt động bí mật, vừa đối mặt với nguy cơ bị bắt bất cứ lúc nào, nhưng vẫn luôn nghĩ đến những người đang cùng mình làm nhiệm vụ.

Chính sự tận tụy, kín đáo và cách sống chân thành ấy giúp Lê Thị Sáu nhận được sự che chở của quần chúng cơ sở.

Người dân tin bà.

Đồng đội tin bà.

Và tổ chức cũng tin bà.

Khi được tuyên dương Anh hùng, Lê Thị Sáu là cán bộ đại đội bậc trưởng thuộc Phòng 2, Cục Tham mưu Quân khu 7.

Bà đã được tặng 1 Huân chương Chiến công Giải phóng hạng Nhì1 Huân chương Chiến công Giải phóng hạng Ba.

Ngày 10 tháng 2 năm 1970, Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam tặng Lê Thị Sáu danh hiệu:

Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân giải phóng.

Nếu phải chọn một hình ảnh để nhớ về Lê Thị Sáu, có lẽ không phải là một trận đánh dữ dội.

Mà là hình ảnh một người phụ nữ bị thương nặng vào những ngày giáp Tết Mậu Thân, chân không còn đi nổi nhưng vẫn cố lết đến cơ sở bí mật để giao tài liệu trước khi chịu đi chữa trị.

Bởi với bà, trước khi nghĩ đến vết thương của mình, điều quan trọng nhất vẫn là:

tài liệu phải an toàn, bí mật phải được giữ kín và nhiệm vụ phải hoàn thành.

Đó là câu chuyện về Lê Thị Sáu – người nữ giao liên gần 20 năm hoạt động giữa vùng đối phương kiểm soát mà không để mất một tài liệu, không để lộ một bí mật của tổ chức.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn