Lê Thị Tám – cựu Thanh niên xung phong từng
Mô tả ngắn: Tác phẩm "Khoảng trời lửa đạn và nụ cười thanh xuân giữa rừng Trường Sơn" mang đến góc nhìn của người trẻ Gen Z về những năm tháng chiến tranh, khởi nguồn từ cuộc trò chuyện cùng bà Lê Thị Tám – cựu Thanh niên xung phong từng kiên cường bám trụ tại tuyến đường 20 Quyết Thắng. Từ những ký ức chân thực về mưa bom bão đạn đến tinh thần lạc quan phi thường của tuổi 18 năm xưa, bài viết không chỉ khắc họa lại một thời kỳ "hoa lửa" hào hùng mà còn là lời tự ngẫm sâu sắc
Thú thực, khi Đoàn trường phát động cuộc thi "Câu chuyện thời hoa lửa" đợt 1 với "chỉ
tiêu" mỗi lớp K60, K61 phải nộp tối thiểu 18 bài dự thi, ý nghĩ đầu tiên lóe lên trong đầu
tôi là: "Lại thêm một cái deadline nữa". Với những sinh viên đang bù đầu giữa lịch học
dày đặc, bài tập nhóm và vô vàn áp lực tuổi trẻ, mục đích ban đầu của tôi có lẽ chỉ là
viết cho xong để lấy 2 điểm rèn luyện ngoại khóa. Lúc bấy giờ, lịch sử trong tâm trí tôi
vẫn chỉ là những dòng chữ in nghiêng khô khan, nằm lặng lẽ trong các cuốn giáo trình.
Thế nhưng, những suy nghĩ nông cạn ấy đã hoàn toàn sụp đổ sau buổi chiều cuối tuần
tôi đến thăm nhà bà Lê Thị Tám – một cựu Thanh niên xung phong từng kiên cường
bám trụ trên tuyến đường Trường Sơn khói lửa. Cuộc gặp gỡ đó không đơn thuần chỉ
cung cấp chất liệu để tôi hoàn thành bài viết, mà thực sự đã tạo nên một sự thức tỉnh
mạnh mẽ trong nhận thức của một người trẻ đang sống ở thế kỷ 21.
Trong không gian nhỏ nhắn thoang thoảng mùi dầu gió và hương chè mạn, bà Tám –
nay đã bước sang tuổi thất thập – nở nụ cười hiền hậu, móm mém chào đón tôi. Đôi
bàn tay gân guốc, điểm xuyết những vết đồi mồi của bà run run lật từng tấm ảnh đen
trắng ố vàng, mờ nhạt dấu vết thời gian. Bà bắt đầu dòng hồi tưởng về Trường Sơn
những năm 1968 - thời điểm cuộc kháng chiến chống Mỹ bước vào giai đoạn khốc liệt
nhất.
Khung cảnh khi ấy không phải là những con số thống kê vĩ mô về hàng triệu tấn bom
đạn mà ta hay nghe trên truyền hình. Trong tâm trí bà, Trường Sơn ngày ấy là mùi khét
lẹt buồn nôn của đất đá bị thiêu rụi bởi bom napan. Là những cánh rừng già trụi lủi,
mang đầy thương tích với những hố bom sâu hoắm, lở loét. Là tiếng gầm rú của máy
bay địch xé toạc màng nhĩ, ám ảnh đến mức len lỏi vào cả những giấc ngủ không trọn
vẹn.
Năm đó, bà Tám vừa tròn 18 tuổi.
18 tuổi – độ tuổi mà sinh viên chúng tôi bây giờ vẫn đang được chở che trong vòng tay
gia đình, vẫn quẩn quanh với những mâu thuẫn cùng bố mẹ về con đường tương lai,
hay có khi ôm mặt khóc nức nở chỉ vì một điểm C môn học, hay một lời bình phẩm vô
tình trên mạng xã hội. Thế nhưng, tuổi 18 của bà Tám, cũng như của hàng vạn người
trẻ thời ấy, là quyết định tự tay cắt phăng mái tóc dài, khoác lên bộ quân phục màu
xanh lá, giấu kín lá thư nhà viết vội dưới đáy balo, rồi hiên ngang bước vào nơi ranh
giới tử sinh chỉ mỏng như sợi mành. Họ lên đường mang theo một lời thề khắc cốt ghi
tâm: "Tất cả vì miền Nam ruột thịt".
Nhiệm vụ của tiểu đoàn bà Tám tại tuyến đường 20 Quyết Thắng khi ấy là lấp hố bom,
phá bom nổ chậm, thông đường cho xe tăng và xe tải vận chuyển đạn dược, lương
thực chi viện cho miền Nam.
Tôi ngồi lặng đi, sống lưng ớn lạnh khi nghe bà thuật lại quá trình phá bom. Khẩu lệnh
lúc bấy giờ là: "Máu có thể đổ, nhưng đường không thể tắc". Cứ mỗi khi đợt B52 rải
thảm vừa dứt, khói bụi mịt mù chưa kịp tan, những cô gái với thân hình bé nhỏ, cân
nặng chưa đầy 45kg lại vác cuốc, vác xẻng, quẩy đôi quang gánh lao vội ra mặt đường.
Dưới chân đất vẫn nóng rẫy, họ vừa hối hả cuốc đất lấp hố bom, vừa ngay ngáy nỗi lo
những quả bom từ trường, bom nổ chậm ghim sâu dưới lòng đất có thể phát nổ bất cứ
lúc nào. Có những đồng đội đã ngã xuống ngay trước mắt bà, hòa máu xương vào
mảnh đất Trường Sơn đỏ lửa. Những người ở lại thậm chí chẳng có thời gian để bi
thương gào thét. Họ nuốt nước mắt vào trong, tay cuốc tay xẻng thoăn thoắt hơn nữa
để đoàn xe tiếp viện kịp thời lăn bánh trước lúc rạng đông.
Tôi tò mò hỏi bà: "Ngày đó bom đạn bủa vây suốt ngày đêm, bà và mọi người có sợ hy
sinh không ạ?"
Bà bật cười. Nụ cười tươi tắn làm xô lệch những nếp nhăn nơi khóe mắt, toát lên vẻ
kiên cường của cô gái tuổi đôi mươi ngày nào: "Sợ chứ cháu! Hồi mới đặt chân tới
chiến trường, cứ nghe tiếng bom rít là mấy chị em lại ôm nhau khóc nức nở, run bần
bật. Nhưng rồi cũng quen. Sợ thì có sợ, nhưng buồn chán thì không. Cứ dứt tiếng bom
là mấy chị em lại kéo nhau ra suối gội đầu bằng lá rừng, nhường nhau từng mẩu lương
khô cứng đanh, củ sắn lùi cháy đen, rồi hát hò rộn rã. Hát to lắm, tiếng hát át cả tiếng
bom cháu ạ!"
Thì ra, giữa lằn ranh sinh tử khốc liệt ấy, những người trẻ thời đó không hề cam chịu
bằng sự gượng ép hay bi quan. Họ bước qua khói lửa chiến tranh bằng một trái tim
thuần khiết, yêu đời, đầy chất lãng mạn và một lý tưởng sống vĩ đại. Với họ, sự hy sinh
khi ấy nhẹ tựa lông hồng, bởi ai nấy đều chung một niềm tin mãnh liệt: Khi Tổ quốc gọi
tên, họ sẵn sàng hiến dâng tất cả.
Rời khỏi nhà bà Tám lúc thành phố đã rực rỡ ánh đèn, đường xá nhộn nhịp xe cộ, tiếng
còi xe hối hả vang lên. Ngắm nhìn dòng người bình yên ngược xuôi, tôi chợt thấy
chạnh lòng và xen chút hổ thẹn. Sinh viên chúng tôi thật may mắn khi được sinh ra lúc
đất nước đã hòa bình, bầu trời trong xanh không còn dấu tích của máy bay ném bom.
Nhưng có vẻ như cuộc sống êm đềm và đầy đủ đôi lúc lại khiến chúng tôi trở nên mỏng
manh, dễ dàng gục ngã trước những "áp lực đồng trang lứa" hay những nỗi hoang
mang vô hình trên mạng ảo.
Bài dự thi này với tôi giờ đây không còn mang tính chất đối phó để đổi lấy 2 điểm ngoại
khóa nữa. Nó đã trở thành một bài học sâu sắc về lòng biết ơn. Câu chuyện của bà
Tám không yêu cầu thế hệ mai sau phải đền đáp bằng những lời lẽ sáo rỗng, to tát. Nó
giống như một cái vỗ vai ân cần, thức tỉnh những người trẻ tuổi: Đừng để thanh xuân
trôi qua một cách nhạt nhòa, vô nghĩa!
Thanh xuân của bà Tám đã rực cháy oanh liệt giữa mưa bom bão đạn, thì thanh xuân
của sinh viên K60, K61 chúng tôi ngày nay cũng phải sống sao cho trọn vẹn và xứng
đáng. Cuộc chiến của thế hệ chúng ta không còn nằm ở ngoài mặt trận, mà hiện diện
trên giảng đường, trong phòng thí nghiệm, trên không gian mạng và trên chặng đường
đưa đất nước hội nhập quốc tế. Lấy "câu chuyện thời hoa lửa" làm kim chỉ nam tinh
thần, thế hệ trẻ chúng ta nhất định sẽ viết tiếp những trang sử mới, huy hoàng và đáng
tự hào không thua kém thế hệ đi trước.



