LÊ THỊ TÁM – NGƯỜI NỮ CHỈ HUY KIÊN CƯỜNG BÁM ĐẤT, BÁM DÂN BÊN DÒNG THẠCH HÃN
Nguyễn Ngọc Ánh
Quảng Trị là vùng đất đã trải qua những năm tháng chiến tranh vô cùng khốc liệt. Giữa bom đạn, những làng quê ven sông Thạch Hãn vẫn có những con người âm thầm bám đất, bám dân, vừa chiến đấu, vừa gây dựng phong trào.
Trong số đó có một người phụ nữ quê Triệu Phong.
Tên bà là Lê Thị Tám.
Sinh năm 1939 tại xã Triệu Thượng, huyện Triệu Phong, Lê Thị Tám bước vào hoạt động từ cơ sở. Từ năm 1963, bà làm du kích xã.
Từ một nữ du kích, Lê Thị Tám lần lượt trưởng thành qua nhiều nhiệm vụ: xã đội phó, xã đội trưởng kiêm bí thư xã đoàn, bí thư đảng ủy xã, bí thư phụ nữ huyện rồi chính trị viên phó huyện đội.
Công việc thay đổi.
Trách nhiệm ngày càng lớn.
Nhưng có một điều không thay đổi: Lê Thị Tám luôn ở rất gần chiến trường và nhân dân quê hương mình.
Tháng 2 năm 1965, một thử thách lớn đến với người nữ chỉ huy.
Lê Thị Tám chỉ có trong tay một tổ du kích gồm 7 người.
Phía đối phương là lực lượng của một tiểu đoàn tại khu vực thị xã Quảng Trị.
Chênh lệch lực lượng rất lớn.
Nhưng tổ du kích không rời trận địa.
Dưới sự chỉ huy của Lê Thị Tám, bảy con người nhỏ bé ấy kiên trì chiến đấu, dựa vào địa hình và sự phối hợp của từng thành viên để chống trả.
Đối phương tiến công.
Bị đánh bật.
Rồi tiếp tục phản kích.
Lần thứ hai bị đẩy lui.
Đến đợt thứ ba, những người du kích vẫn giữ vững vị trí.
Ba đợt phản kích của một tiểu đoàn đã bị tổ du kích bảy người đánh lui.
Chỉ vài tháng sau, Lê Thị Tám lại thực hiện một trận đánh táo bạo khác.
Ngày 8 tháng 9 năm 1965, trên dòng Thạch Hãn, hai ca nô đối phương xuất hiện.
Lần này, lực lượng của Lê Thị Tám còn ít hơn.
Chỉ ba du kích.
Đặc biệt, trận đánh diễn ra giữa ban ngày.
Ba người phải đối mặt với mục tiêu cơ động trên sông trong điều kiện rất dễ bị phát hiện. Nhưng Lê Thị Tám vẫn bình tĩnh tổ chức chiến đấu.
Kết quả, tổ du kích bắn chìm cả hai ca nô.
Những trận đánh như thế dần làm nên tên tuổi của người nữ chỉ huy quê Triệu Phong.
Nhưng Lê Thị Tám không chỉ chiến đấu tại những địa bàn quen thuộc.
Nhiều lần, dù các căn cứ được canh phòng nghiêm ngặt, đồng chí vẫn xung phong dẫn lực lượng tiến vào những khu vực như Ái Tử, La Vang và thị xã Quảng Trị để thực hiện nhiệm vụ.
Trong quá trình chiến đấu, Lê Thị Tám đã chỉ huy đơn vị tham gia hơn 100 trận, góp phần diệt 450 địch, bắt 32 tên, phá hủy 27 xe tăng, bắn rơi 2 máy bay và đánh chìm 2 ca nô.
Nhưng nếu chỉ nhìn vào những trận đánh, vẫn chưa thể thấy hết cuộc đời hoạt động của Lê Thị Tám.
Bởi có một mặt trận khác không kém phần gian nan.
Đó là giữ dân, xây dựng cơ sở và gây dựng phong trào ngay giữa vùng chiến sự.
Có những thời điểm đối phương đánh phá rất ác liệt.
Đường liên lạc với cấp trên bị cắt đứt.
Lê Thị Tám phải sống trong hầm bí mật hàng tháng trời.
Trong hoàn cảnh ấy, việc tồn tại đã khó. Nhưng đồng chí vẫn tiếp tục hoạt động.
Ban ngày hay ban đêm, khi có điều kiện, Lê Thị Tám lại tìm cách gặp gỡ quần chúng, tuyên truyền, vận động và gây dựng cơ sở.
Đồng chí hiểu rằng một người cán bộ có thể bị cô lập, một đơn vị có thể phải rút đi, nhưng nếu lòng dân vẫn còn thì phong trào vẫn có thể tiếp tục.
Vì thế, Lê Thị Tám kiên trì bám đất, bám dân.
Từng người dân tin cậy được vận động.
Từng tổ chức được hình thành.
Từ những hạt nhân ban đầu, đồng chí góp phần chủ yếu xây dựng được 3 tổ đảng, 6 tổ du kích, 4 tổ đấu tranh chính trị và 359 cơ sở tin cậy.
Đó không đơn thuần là những con số.
Phía sau mỗi cơ sở là một con người chấp nhận nguy hiểm để tham gia hoặc giúp đỡ cách mạng.
Phía sau mỗi tổ du kích là những người dân bình thường đứng lên bảo vệ quê hương.
Và phía sau mạng lưới ấy là sự kiên trì của những cán bộ cơ sở như Lê Thị Tám.
Có lần, đồng chí còn vận động được một trung đội phòng vệ dân sự nổi dậy phá bốt, trở về với nhân dân.
Chính sự gắn bó ấy khiến Lê Thị Tám được người dân địa phương yêu mến và che chở.
Khi khó khăn, nhân dân bảo vệ cán bộ.
Khi liên lạc bị gián đoạn, nhân dân trở thành những mắt xích giúp phong trào tiếp tục tồn tại.
Và khi chiến trường bước sang những ngày cuối cùng của mùa Xuân năm 1975, Lê Thị Tám một lần nữa trực tiếp cầm quân.
Lúc này, người nữ du kích năm nào đã trở thành một cán bộ chỉ huy dày dạn kinh nghiệm.
Đồng chí chỉ huy một đại đội bộ đội địa phương truy kích đối phương tới Mỹ Chánh, diệt và bắt nhiều người.
Đó là một hình ảnh đặc biệt trong hành trình của Lê Thị Tám.
Năm 1963, bà bắt đầu từ một người du kích xã.
Mười hai năm sau, trong mùa Xuân 1975, bà đã đứng ở vị trí chỉ huy cả một đại đội truy kích trên chính quê hương từng phải sống những tháng ngày dưới hầm bí mật.
Lê Thị Tám được tặng 2 Huân chương Chiến công giải phóng hạng Ba và 4 bằng khen.
Ngày 3 tháng 6 năm 1976, Chủ tịch nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa tặng Lê Thị Tám danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân.
Cuộc đời hoạt động của Lê Thị Tám cho thấy một hình ảnh rất đặc biệt của người phụ nữ trong chiến tranh.
Bà vừa là người du kích cầm súng, vừa là người chỉ huy, vừa là cán bộ xây dựng cơ sở, lại vừa làm công tác vận động quần chúng.
Có lúc chỉ huy bảy người chống lại những đợt phản kích của một tiểu đoàn.
Có lúc cùng hai đồng đội đánh ca nô giữa ban ngày trên sông Thạch Hãn.
Có lúc phải sống hàng tháng trong hầm bí mật nhưng vẫn không rời địa bàn.
Và có lúc lại đi từng nơi, gặp từng người để gây dựng những cơ sở cách mạng từ chính trong nhân dân.
Từ nữ du kích xã Triệu Thượng đến chính trị viên phó Huyện đội Triệu Phong, hành trình của Lê Thị Tám gắn với một lời thề không thành văn: còn dân thì còn bám dân, còn đất thì còn bám đất. Chính từ những con người kiên trì ở lại giữa vùng chiến sự như bà, những cơ sở nhỏ bé đã kết thành một phong trào đủ sức tồn tại qua những năm tháng ác liệt và đi đến mùa Xuân năm 1975.



