Lê Thiết Hùng
Năm 1946, Lê Thiết Hùng được Chính phủ phong quân hàm Thiếu tướng. Ông là vị tướng đầu tiên của Quân đội Nhân dân Việt Nam. Giấy chứng minh thư sĩ quan do Bộ Quốc phòng cấp đầu năm 1959 cũng ghi rõ: Tư lệnh trưởng Bộ Tư lệnh Pháo binh Lê Thiết Hùng, cấp bậc Thiếu tướng từ năm 1946.
Thiếu tướng Lê Thiết Hùng sinh tại làng Đông Thôn, tổng Thông Lãng (nay là xã Hưng Thông), huyện Hưng Nguyên, tỉnh Nghệ An trong một gia đình có truyền thống yêu nước. 15 tuổi ông rời quê hương, rời Việt Nam ra nước ngoài, tham gia hoạt động yêu nước. Đó là mùa Thu năm 1923, dưới sự hướng dẫn của ông Võ Trọng Đài (thường gọi là ông Ngoét Đài) người làng Phù Xá đã có gia đình ở Xiêm (nay là Thái Lan), 12 thanh niên xứ Nghệ sang Xiêm. Cùng đi chuyến này có Lê Hồng Phong và Phạm Hồng Thái. Từ làng Phù Xá, đoàn có một hành trình đầy khó khăn vất vả, qua Hương Sơn, qua Lào rồi sang Xiêm. Cuối cùng, họ đến đích và ở lại Trại Cày của Cố Đi (tức nhà yêu nước Đặng Thúc Hứa). Tại Trại Cày, những thanh niên này vừa học tiếng Trung Quốc vừa lao động chờ thời cơ sang Quảng Châu (Trung Quốc).
Sang Quảng Châu (Trung Quốc), ông gặp đồng chí Lý Thụy (bí danh của lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc) và được giới thiệu vào học trường Quân sự Hoàng Phố. Chính đồng chí Lý Thụy đã đổi tên cho ông là Lê Quốc Vọng với ý nghĩa luôn luôn nhớ về Tổ quốc…
Trường quân sự Hoàng Phố thành lập năm 1924 theo yêu cầu của Tổng thống Tôn Trung Sơn với Chính phủ Liên bang Xô Viết. Trường được xây dựng tại đảo Hoàng Phố trên sông Tây Giang cách Quảng Châu 25km. Đây là một trường quân sự lớn hồi đó và được sự huấn luyện của các cố vấn quân sự Liên Xô, mà người đứng đầu là Cố vấn Bô-rô-đin. Trường quân sự Hoàng Phố tổ chức theo mô hình của Hồng quân Liên Xô, do chuyên gia quân sự Liên Xô huấn luyện; ngoài huấn luyện bộ binh còn có lớp chuyên ngành như lớp: Pháo binh, công binh, thông tin liên lạc. Hiệu trưởng của trường là Tưởng Giới Thạch. Ông Lê Thiết Hùng nhớ lại trong tập hồi ký Đầu nguồn (Nxb Văn học, 1975): “số học viên trường quân sự Hoàng Phố người Việt Nam hơn 200 người”.
Ông vào học lớp bộ binh. Cùng khoá học với ông có 8 người Việt Nam, trong đó 3 người học lớp pháo binh, số còn lại là vào khoa khác. Mỗi tháng, những học viên người Việt Nam này lại dành ra 2 ngày ngược thuyền từ Hoàng Phố về Quảng Châu học tập lý luận chính trị do Nguyễn Ái Quốc giảng dạy.
Tốt nghiệp trường Võ bị Hoàng Phố (Trung Quốc), ông tham gia quân đội Tưởng Giới Thạch, từ chức vụ trung đội trưởng bộ binh ông được thăng dần lên đến quân hàm đại tá (đại hiệu).
Thiếu tướng Lê Thiết Hùng.
Nhiệm vụ của ông là lấy tin tức, tài liệu chuyển cho Đảng Cộng sản Trung Quốc. Để hoàn thành nhiệm vụ, ông đặt vấn đề nhờ một người đồng hương thế hệ trước – về sau trở thành bố vợ của ông – cụ Hồ Học Lãm tìm cách lấy tài liệu, các bản kế hoạch tác chiến của quân đội Tưởng vào khu căn cứ Xô Viết của Đảng cộng sản Trung Quốc. Để có tài liệu, cụ Hồ Học Lãm ban ngày đi làm phải đọc thật kỹ và nhập tâm các tài liệu. Tối về nhà, nhớ ra chép lại để bí mật chuyển đi. Ngoài ra ông còn bỏ ra khá nhiều tiền, vàng để mua chuộc các sỹ quan khác để moi tin tức chuyển cho Đảng Cộng sản Trung Quốc.
Những tin tức quan trọng như việc quân đội Tưởng cấm chở gạo xuôi sông Như Thuỷ và Cống Giang, các sư đoàn của Trương Huy Mân, Đàm Đào Nguyên, Lưu Hoà Dĩnh vừa tăng quân và trang bị thêm vũ khí... đã được chuyển cho Hồng quân Trung Quốc hết sức bí mật. Hoặc kế hoạch tấn công vào cơ quan đầu não của Đảng Cộng sản Trung Quốc năm 1930 do Tưởng Giới Thạch phê chuẩn, phạm vi và mục tiêu ở vùng tứ giác La Lâm - Nghi Hoàng - Lê Xuyên - Thụy Kim, cũng được Lê Thiết Hùng gửi sang phía Quân giải phóng Trung Quốc. Nhờ đó, các đợt tấn công của quân đội Tưởng vào khu Xô Viết của Đảng cộng sản Trung Quốc đều bị thất bại.
Tháng 7-1937, phát xít Nhật mở rộng chiến tranh, chiếm vùng Nam Kinh, Thượng Hải, Hán Khẩu, Từ Châu... Tưởng Giới Thạch rút quân về Trùng Khánh thuộc tỉnh Tứ Xuyên. Lúc này, Lê Thiết Hùng xin chuyển về Binh đoàn vận tải, chỉ huy một tiểu đoàn vận tải chạy tuyến đường Giang Tây - Hồ Nam - Quý Châu. Thời gian này, ông được phong hàm đại tá (đại hiệu) và được bổ nhiệm làm Hiệu trưởng trường huấn luyện đào tạo lính lái xe tăng, xe thiết giáp, xe vận tải và lính kỹ thuật. Chính trong thời gian này, ông đã tranh thủ học lái xe tăng, nắm vững nguyên lý máy móc các loại xe.
Chính từ vị trí chỉ huy tiểu đoàn vận tải, ông đã giúp Bát Lộ quân ở vùng Hoa Bắc súng đạn và trang thiết bị y tế. Cụ thể, chỉ trong nửa năm 1939, khoảng 30 tấn gồm vũ khí, trang bị y tế và thuốc men... được ông bàn giao cho Bát Lộ quân Trung Quốc một cách kín đáo, khôn khéo linh hoạt.
Mùa hè năm 1940, tình hình cách mạng trong nước có những diễn biến mới. Lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc và đồng chí Phùng Chí Kiên viết thư yêu cầu ông rời bỏ hàng ngũ quân đội Tưởng Giới Thạch về nhận nhiệm vụ mới. Cụ Hồ Học Lãm – lúc này đã là bố vợ ông – lấy lý do sức khoẻ kém, xin cho ông chuyển vùng về Hoa Nam. Về đến Quế Lâm ông gặp lại Nguyễn Ái Quốc và báo cáo hoạt động của mình trong Bộ Tổng tham mưu Quốc dân đảng. Đồng chí Nguyễn Ái Quốc cử ông về nước nhận nhiệm vụ mới vào đầu năm 1941.
Thiếu tướng Lê Thiết Hùng và gia đình ông bà Hồ Học Lãm.
Trở về Tổ quốc, đứng chân ở đầu nguồn Pắc Bó – tỉnh Cao Bằng, ông mang bí danh là Đinh. Lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc dặn ông trước mắt nghiên cứu tình hình các mặt rồi sẽ bàn công tác.
Ông làm việc hàng ngày với các đồng chí Lê Quảng Ba, Bằng Giang… Thiếu tướng Lê Quảng Ba sau này kể lại:
“Tôi nghĩ bụng, Bác bảo đồng chí Hùng ở lại chắc hẳn là có ý định gì đây, vì từ sau khi đồng chí Phùng Chí Kiên hy sinh thì chỉ có đồng chí Hùng có mặt ở Pắc Bó, là người duy nhất được đào tạo về quân sự một cách chính quy, cơ bản và hệ thống ở trường Võ bị Hoàng Phố. Vào một buổi trưa, tôi và anh Lê Thiết Hùng đang ngồi bàn công việc như thường lệ, thì Bác đến. Người bảo chúng tôi: “Phong trào Việt Minh càng phát triển thì địch sẽ tìm cách đối phó... ở đây bây giờ đã có một số súng ống... và rải rác mỗi người một nơi... Vì vậy đồng chí Lê Đinh hãy cùng đồng chí Lê Quảng Ba bàn với nhau nên tổ chức lực lượng cầm súng như thế nào. Các đồng chí làm kế hoạch rồi báo cáo”...
Hai ông đều thống nhất về tiêu chuẩn là trước hết chọn những người trung thành với cách mạng, dũng cảm, khoẻ mạnh, có súng và được thử thách trong thực tế. Trong số 43 học viên dự lớp học ở Nậm Quang (Tĩnh Tây, tỉnh Quảng Tây, Trung Quốc) chọn ngay được các đồng chí Bằng Giang, Đức Thành, Bế Sơn Cương, Thế An. Sau đó, ông Lê Thiết Hùng chọn thêm 5 người địa phương hoạt động sôi nổi vào đội để thành lập đội vũ trang đầu tiên ở Pắc Bó gồm có 12 người. Đó là Đội du kích Pắc Bó – một trong những đơn vị vũ trang đầu tiên của Quân đội Nhân dân Việt Nam. Có 1 đội viên nữ là bà Nông Thị Trưng.
Đội du kích Pắc Bó do Lê Quảng Ba làm Đội trưởng, Lê Thiết Hùng làm Chính trị viên. Từ khi cầm quân, Lê Thiết Hùng đã chỉ huy lực lượng vũ trang hùng cứ ở các vùng biên giới Cao Bằng, Lạng Sơn, Quảng Yên, Móng Cái, tiếp đó là Chiến khu IV... Trung tướng Trần Độ đã trân trọng đánh giá ông là “Một vị tướng cội”.
4. Cảm nghĩ của bản thân
Sau khi tìm hiểu về nhân chứng lịch sử này, trong lòng em dâng lên nhiều cảm xúc khó tả.
Chúng em cảm thấy biết ơn – biết ơn những con người đã không tiếc tuổi trẻ, không tiếc máu xương để đổi lấy nền độc lập hôm nay. Nếu không có họ, có lẽ chúng em sẽ không được sống trong một đất nước hòa bình, không được đến trường, không được mơ ước về tương lai.
Chúng em cũng cảm thấy tự hào – tự hào vì dân tộc Việt Nam tuy nhỏ bé nhưng lại có một ý chí vô cùng lớn lao. Chính những con người như ông đã làm nên sức mạnh ấy.
Và hơn hết, chúng em tự nhắc nhở bản thân phải sống tốt hơn, học tập chăm chỉ hơn. Bởi trách nhiệm của thế hệ trẻ hôm nay không phải là cầm súng ra chiến trường, mà là xây dựng đất nước ngày càng phát triển, xứng đáng với những gì thế hệ đi trước đã hy sinh.
Lịch sử không chỉ nằm trong sách vở, mà còn sống trong ký ức của những con người đã đi qua chiến tranh. Những nhân chứng như Lê Thiết Hùng chính là cầu nối giữa quá khứ và hiện tại, giúp chúng ta hiểu rằng: mỗi tấc đất quê hương đều thấm đẫm sự hy sinh.
Câu chuyện về ông không chỉ là một bài học lịch sử, mà còn là ngọn lửa thắp sáng trong lòng thế hệ trẻ – nhắc nhở chúng em phải sống xứng đáng hơn với Tổ quốc.



