Bài viết

Lê Thước – hơn bốn mươi năm tìm lại Nguyễn Du phía sau Truyện Kiều

Từ những trang gia phả ở Tiên Điền đến các tập thơ chữ Hán phân tán trong dân gian, Giáo sư Lê Thước dành hơn bốn mươi năm tìm kiếm, đối chiếu và dựng lại chân dung Nguyễn Du. Nhờ công việc âm thầm ấy, hậu thế không chỉ biết tác giả Truyện Kiều mà còn được đọc gần như trọn vẹn di sản thơ chữ Hán của đại thi hào.

Hà Tĩnh24/08/2026Chi Đoàn trường TH&THCS Nguyễn Du (Tuy Đức)2 lượt xem0 lượt chia sẻ

Đầu thế kỷ XX, Truyện Kiều đã sống trong lời ăn tiếng nói của người Việt. Người ta thuộc Kiều, bói Kiều, lẩy Kiều và dùng những câu thơ của Nguyễn Du để giãi bày tâm sự.

Nhưng có một nghịch lý: rất nhiều người biết tác phẩm, còn cuộc đời của người viết nên tác phẩm ấy lại chìm trong những khoảng mờ.

Nguyễn Du sinh vào năm nào? Gia đình và quê quán của ông ra sao? Ông đã đi qua những biến động nào của thời đại? Ngoài Truyện Kiều, ông còn để lại những tác phẩm gì? Nhiều câu hỏi tưởng cơ bản nhưng lúc bấy giờ chưa có câu trả lời đầy đủ và thống nhất.

Nhà giáo trẻ Lê Thước quyết định đi tìm những câu trả lời ấy.

Ông sinh ngày 13/4/1891 tại làng Trung Lễ, huyện Đức Thọ, tỉnh Hà Tĩnh, trong một gia đình có truyền thống khoa bảng. Trung Lễ cũng là quê hương của nhiều nhà giáo, nhà khoa học nổi tiếng; nằm không xa Tiên Điền – quê của Nguyễn Du ở huyện Nghi Xuân.

Từ nhỏ, Lê Thước vừa học chữ Hán vừa tham gia công việc đồng áng. Ông nổi tiếng “học hay, cày giỏi”, có vốn hiểu biết sâu về kinh điển nhưng không tách mình khỏi cuộc sống của người dân quê.

Năm 27 tuổi, Lê Thước dự khoa thi Hương cuối cùng tại trường Nghệ và đỗ đầu, được trao danh hiệu Giải nguyên. Nếu sinh sớm hơn một vài thập niên, kết quả ấy có thể mở ra cho ông con đường làm quan.

Nhưng Lê Thước sống đúng vào thời điểm nền khoa cử Hán học kết thúc.

Ông cũng không muốn tìm một chức quan trong bộ máy thuộc địa. Thay vì dừng lại với vinh quang của một khoa thi đã thuộc về quá khứ, ông tiếp tục học tại Trường Cao đẳng Sư phạm Hà Nội, tiếp nhận thêm tiếng Pháp và phương pháp giáo dục phương Tây.

Năm 30 tuổi, Lê Thước tốt nghiệp thủ khoa ban văn học và được bổ nhiệm giảng dạy tại Trường Quốc học Vinh. Từ đây, ông bắt đầu cuộc đời của một người thầy, đồng thời bước vào con đường nghiên cứu văn hóa dân tộc.

Một trong những công việc sớm nhất và quan trọng nhất của ông là tìm hiểu Nguyễn Du.

Lê Thước không bằng lòng với việc nhắc lại các giai thoại được truyền miệng. Ông tìm đến quê hương và hậu duệ của đại thi hào, đọc gia phả dòng họ Nguyễn Tiên Điền, đối chiếu thư tịch và thu thập những tác phẩm còn được lưu giữ.

Cách làm ấy rất quan trọng vào thời điểm nghiên cứu văn học Việt Nam còn ở buổi đầu. Lê Thước coi cuộc đời một tác giả là đối tượng cần được khảo sát bằng chứng cứ, chứ không chỉ là phần dẫn nhập được viết theo trí nhớ hoặc lời truyền.

Năm 1924, ông cùng Phan Sĩ Bàng xuất bản Truyện cụ Nguyễn Du. Đây là một trong những công trình đầu tiên dựng lại có hệ thống thân thế, gia đình, hành trạng và sự nghiệp của tác giả Truyện Kiều dựa trên tư liệu dòng họ cùng những thư tịch có thể kiểm chứng.

Cuốn sách còn giới thiệu một số bài thơ chữ Hán của Nguyễn Du. Số lượng khi ấy chưa nhiều, nhưng đó là bước mở đầu cho một hành trình sưu tầm kéo dài hơn bốn thập niên.

Qua khảo cứu, Lê Thước cũng tham gia làm sáng tỏ nguồn cốt truyện mà Nguyễn Du đã dựa vào để sáng tác Đoạn trường tân thanh. Ông xác định tác phẩm liên quan trực tiếp là Kim Vân Kiều truyện của Thanh Tâm Tài Nhân, thay vì một số giả thuyết thiếu chính xác từng được nêu trước đó.

Phát hiện ấy không làm giảm giá trị của Truyện Kiều. Trái lại, việc đặt hai tác phẩm cạnh nhau càng cho thấy tài năng sáng tạo của Nguyễn Du: từ một câu chuyện văn xuôi của Trung Quốc, ông đã tạo nên một kiệt tác thơ mang ngôn ngữ, tâm hồn và tư tưởng nhân đạo sâu sắc của người Việt.

Trong khi nghiên cứu Nguyễn Du, Lê Thước vẫn dành phần lớn cuộc đời cho nghề dạy học.

Ông từng dạy tại Quốc học Vinh, làm công tác thanh tra giáo dục, rồi được điều ra Hà Nội. Trong các tiết học, ông không muốn học trò chỉ thuộc lòng sách vở. Ông đưa học sinh đi thăm di tích, danh thắng, cửa biển, đồng muối, ruộng lúa và các cơ sở sản xuất; tổ chức làm vườn, ươm cây, làm mộc và thực hành lao động.

Đối với Lê Thước, học phải đi cùng hành. Một người học văn không thể xa rời lịch sử và đời sống; người học về đất nước phải biết quan sát chính con người, cảnh vật và lao động trên đất nước ấy.

Chính quyền thuộc địa nhiều lần điều chuyển ông đến những nơi khác nhau. Ông từng công tác ở Lạng Sơn và Thanh Hóa. Năm 1943, ông bị nhà chức trách bảo hộ cách chức.

Nhưng việc mất chức không khiến người thầy từ bỏ con đường đã chọn.

Sau Cách mạng Tháng Tám, Lê Thước tham gia Hội đồng Giáo dục, góp ý cho chính sách và kế hoạch đào tạo của nước Việt Nam mới. Sau khi hòa bình được lập lại ở miền Bắc, ông làm việc tại Ban Tu thư Bộ Giáo dục.

Cùng các học giả như Huỳnh Lý và Trương Chính, ông biên dịch, hiệu đính, chú thích những tác phẩm Hán–Nôm được lựa chọn để giảng dạy ở bậc trung học và đại học. Công việc ấy giống như dựng một cây cầu: một đầu là kho văn bản cổ viết bằng thứ chữ ngày càng ít người đọc được, đầu kia là thế hệ học sinh đang trưởng thành trong nền giáo dục mới.

Lê Thước sau đó công tác tại cơ quan bảo tàng thuộc Bộ Văn hóa. Ông tiếp tục sưu tầm, chỉnh lý hàng nghìn văn bản Hán–Nôm và góp phần chuẩn bị cơ sở cho việc nghiên cứu, đào tạo chuyên ngành này.

Dù đảm nhiệm nhiều công việc, ông chưa bao giờ rời cuộc tìm kiếm đã bắt đầu từ năm 1924.

Thơ chữ Hán của Nguyễn Du khi ấy bị phân tán trong nhiều nguồn. Có bài nằm trong tập chép tay của dòng họ; có văn bản được sao lại nhiều lần nên xuất hiện những chữ khác nhau; cũng có tác phẩm chưa xác định chắc chắn thứ tự và thời điểm sáng tác.

Muốn dựng lại các tập thơ, người nghiên cứu phải tìm kiếm nhiều bản, đọc chữ viết tay, so sánh từng câu, nhận diện chỗ chép thiếu hoặc chép nhầm rồi mới phiên âm, dịch nghĩa và chú thích.

Lê Thước cùng Trương Chính kiên trì thực hiện công việc ấy.

Năm 1965, nhân dịp kỷ niệm 200 năm sinh Nguyễn Du, công trình Thơ chữ Hán Nguyễn Du được xuất bản, giới thiệu 249 bài thơ. Từ vài bài được công bố trong Truyện cụ Nguyễn Du năm 1924 đến bộ sưu tập gần như đầy đủ năm 1965 là một khoảng cách hơn bốn mươi năm.

Bốn mươi năm ấy không chỉ là thời gian chờ đợi. Đó là hàng nghìn ngày tìm bản chép, đọc chữ cũ, đối chiếu tư liệu, xác định văn bản và trao đổi với đồng nghiệp.

Nhờ công trình của Lê Thước và Trương Chính, người đọc được tiếp cận ba tập thơ quan trọng gồm Thanh Hiên thi tập, Nam trung tạp ngâmBắc hành tạp lục.

Nếu Truyện Kiều cho thấy Nguyễn Du qua số phận Thúy Kiều, thì thơ chữ Hán đưa người đọc đến gần hơn với chính con người ông: một trí thức nhiều day dứt, chứng kiến cảnh đói nghèo, chiến tranh, đổi thay triều đại và đau đáu trước thân phận con người.

Công trình sưu tầm giúp chân dung Nguyễn Du trở nên đầy đủ hơn. Ông không còn chỉ là tác giả của một kiệt tác, mà hiện lên như một nhà thơ lớn với cả một thế giới tư tưởng và cảm xúc được ghi lại qua nhiều chặng đời.

Giáo sư Lê Thước mất ngày 3/10/1976 tại Hà Nội. Ông để lại hình ảnh một trí thức bước ra từ khoa thi Hương cuối cùng nhưng không khép mình trong nền học vấn cũ. Ông tiếp nhận phương pháp mới để bảo tồn, giải thích và truyền lại di sản của cha ông.

Điều đáng quý nhất trong cuộc tìm kiếm của Lê Thước là sự bền bỉ.

Ông không viết về Nguyễn Du theo cảm hứng nhất thời. Từ cuốn sách năm 1924 đến công trình năm 1965, ông dành hơn bốn mươi năm nối những mảnh tư liệu rời rạc thành một chân dung có căn cứ.

Nhờ người thầy quê Trung Lễ ấy, hậu thế không chỉ tiếp tục đọc Truyện Kiều. Chúng ta còn biết rõ hơn người đã viết nên tác phẩm, con đường đời ông từng trải và những bài thơ chữ Hán suýt bị thời gian làm cho phân tán.

Lê Thước đã dành gần nửa thế kỷ để tìm lại Nguyễn Du phía sau những câu Kiều.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn