Khác

Lê Trọng Tấn

Hà Nội18/08/2026xã Trường Xuân (Xã Trường Xuân)3 lượt xem0 lượt chia sẻ

Đại tướng Lê Trọng Tấn sinh ngày 1-10-1914 trong một gia đình trí thức yêu nước ở xã Yên Nghĩa, huyện Hoài Đức, tỉnh Hà Tây (nay là TP.Hà Nội), Lê Trọng Tấn (tên khai sinh là Lê Trọng Tố) từng là lính không quân của Pháp nhưng sớm giác ngộ cách mạng, tham gia Mặt trận Việt Minh năm 1944.

Lúc đầu ông được phân công làm công tác địch vận tại khu vực Hoàng Mai-Hà Nội. Tháng 3/1945, ông là thành viên trong ủy ban chuẩn bị khởi nghĩa tỉnh Hà Đông được cử về tuyên truyền, tổ chức và xây dựng LLVT tại ứng Hòa, La Khê, La Cả (Hà Đông). Tháng 8/1945, ông tham gia vào Ủy ban khởi nghĩa Hà Đông phụ trách quân sự. Sau đó ông được kết nạp vào Đảng Cộng sản Việt Nam.Trong những ngày đầu toàn quốc kháng chiến tháng 12/1946, ông chỉ huy Tiểu đoàn 60, Trung đoàn 37 chiến đấu tại mặt trận Hà Đông, một cửa ngõ quan trọng phía Tây Thủ đô, ông tổ chức diệt đồn Đồng Quan và giành thắng lợi trận đầu tiên. Ngày 23/8/1947, ông được bổ nhiệm giữ chức Khu trưởng Khu 10 khi đang giữ chức Trung đoàn trưởng Trung đoàn Sơn Tây.

Đại tướng Lê Trọng Tấn

Ngày 25/1/1948, ông được bổ nhiệm giữ chức Phó chủ tịch Khu 10. Năm 1949, theo quyết định của Bộ Tổng chỉ huy, Trung đoàn 209 chủ lực đầu tiên của Liên khu 10 chuyển thành trung đoàn mạnh, trực thuộc Bộ, mang danh hiệu Trung đoàn Sông Lô. Khi đó ông là Phó tư lệnh Liên khu 10 được bổ nhiệm là Trung đoàn trưởng kiêm Chính ủy đầu tiên của trung đoàn. Đại tá Đặng Văn Việt- nguyên Trung đoàn Trưởng Trung đoàn 174, đơn vị cùng được giao nhiệm vụ trong chiến dịch Biên giới Thu Đông 1950 kể lại: Lê Trọng Tấn chỉ huy Trung đoàn 209 được giao nhiệm vụ di chuyển từ hướng Nam lên, tấn công pháo đài Đông Khê. Lệnh nổ súng lúc 6 giờ ngày 16.9.1950 nhưng anh Tấn bị lạc đường, đến 18 giờ chúng tôi mới gặp được nhau. Mặc dù vậy, khi hội quân chúng tôi đã bàn bạc với nhau rất ăn ý. Đến trưa ngày 18.9, hai trung đoàn chúng tôi đã hoàn thành nhiệm vụ đập tan cứ điểm Đông Khê, mở màn cho thắng lợi chiến dịch Biên giới”. Chiến thắng Biên Giới 1950 được đánh giá là một sự kiện lịch sử quan trọng, đánh dấu bước ngoặt cơ bản, góp phần đưa cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp tiến lên giành thắng lợi quyết định.

Ngày 27/12/1950, Đại đoàn 312 được thành lập, ông là Đại đoàn trưởng kiêm Chính ủy đầu tiên, khi mới 36 tuổi. Với những bài học từ thực tiễn chiến trường và trưởng thành trong chiến đấu, trong Chiến dịch Điện Biên Phủ, Đại đoàn 312 do ông chỉ huy là đơn vị đánh trận mở đầu thắng lợi vào cứ điểm Him Lam ngày 13/3/1954. Sau thắng lợi này, Đại đoàn 312 tiếp tục được lệnh bám sát địch để đón thời cơ tổng công kích. Chiều 7.5.1954, một đơn vị của Đại đoàn 312 đã tấn công vào sở chỉ huy của Pháp, bắt sống Tướng De Castries cùng Bộ tham mưu Tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ. Sau này, De Castries cho biết: ông ta có vinh dự được làm bại tướng dưới tay Lê Trọng Tấn và đại đoàn của ông.

Năm 1964, khi tình hình chiến tranh bắt đầu có những biến đổi lớn cả về mặt chính trị, quân sự, cả ở đô thị, nông thôn và vùng rừng núi, Mỹ buộc phải chuyển hướng chiến lược từ “chiến tranh đặc biệt” sang “chiến tranh cục bộ”. Tướng Lê Trọng Tấn và Đại tướng Nguyễn Chí Thanh được Bộ Chính trị, Quân ủy Trung ương đặc phái vào miền Nam “giải bài toán” đánh Mỹ. Tướng Lê Trọng Tấn đảm nhiệm cương vị Phó Tư lệnh, Ủy viên Quân ủy Quân giải phóng miền Nam, đồng thời ông trực tiếp làm tư lệnh của nhiều chiến dịch. Theo Đại tá Nguyễn Nhật Minh - thư ký riêng của Đại tướng Lê Trọng Tấn, sau chiến dịch Mậu Thân năm 1968, trong quân đội ta nhiều người đã có tư tưởng đánh Mỹ - Ngụy bằng chiến tranh du kích hay chiến thuật nhỏ lẻ bằng bộ đội đặc công.

Nhưng Lê Trọng Tấn kiên quyết phản đối. Ông muốn đánh theo phương châm nếu đủ quân số thì phải đánh cấp chiến dịch, quân số cấp sư đoàn phải đánh trận sư đoàn chứ không được đánh trận cấp tiểu đoàn. Nhiều quân nhân cấp dưới khi nghe ông phân tích, rút kinh nghiệm với nhiều cán bộ đã bật khóc, cuối cùng đều tin tưởng vào sự chỉ huy của Lê Trọng Tấn. Chính vì vậy mà chúng ta đã có cuộc tiến công chiến lược năm 1972 và tổng tiến công năm 1975.

Đại tướng Lê Trọng Tấn( ngoài cùng bên phải) tại Sở chỉ huy chiến dịch Quảng Trị năm 1972

Với thắng lợi lớn từ đòn tiến công chiến lược Tây Nguyên, làm suy sụp tinh thần chế độ Việt Nam cộng hòa và quân đội Sài Gòn, Bộ Chính trị chỉ thị nhanh chóng đánh chiếm Huế, Đà Nẵng. Ngày 24-10-1973, Quân đoàn 1 (Binh đoàn Quyết Thắng) - Binh đoàn chủ lực cơ động đầu tiên của Quân đội ta bao gồm cả Sư đoàn 312 được thành lập. Khi đó, Thiếu tướng Lê Trọng Tấn được giao là Tư lệnh đầu tiên. Tháng 3-1975, ông được chỉ định làm Tư lệnh chiến dịch giải phóng TP Huế-Đà Nẵng. Tháng 4-1975, ông là Phó tư lệnh Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử kiêm Tư lệnh cánh quân phía Đông gồm Quân đoàn 2, Quân đoàn 4, Sư đoàn 3) tấn công vào Sài Gòn. Theo kế hoạch chiến dịch Hồ Chí Minh, 5 giờ 30 sáng 30-4-1975, các hướng đồng loạt nổ súng tiến công vào Sài Gòn. Với óc phán đoán, phân tích chiến lược tài tình, Trung tướng Lê Trọng Tấn đã đề nghị Quân ủy cho cánh quân của mình nổ súng trước các hướng khác. Lý do là lực lượng ta còn cách vùng ven từ 15 - 20km, phải vừa đánh vừa tiến quân, lại phải vượt sông Đồng Nai và sông Sài Gòn, nếu cùng nổ súng sẽ không đến kịp.Đại tướng Võ Nguyên Giáp lúc bấy giờ đã chuẩn y cho cánh quân phía đông đánh vào 18 giờ chiều 29-4 theo lời đề nghị của Trung tướng Lê Trọng Tấn, sớm hơn giờ G 12 tiếng. Cánh quân phía Đông do tướng Lê Trọng Tấn chỉ huy là đơn vị đầu tiên tiến vào Sài Gòn, đánh chiếm Dinh Độc Lập, bắt sống và buộc chính quyền của Dương Văn Minh đầu hàng vô điều kiện, kết thúc cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước vĩ đại của nhân dân ta.

Trong hơn 30 năm tham gia trận mạc, Đại tướng Lê Trọng Tấn có mặt ở hầu hết các chiến trường. Nhưng có 2 chiến dịch lớn quan trọng, ghi dấu ấn trong cuộc đời trận mạc của Đại tướng chính là chiến dịch Điện Biên Phủ 1954 và Chiến dịch Hồ Chí Minh giải phóng miền Nam thống nhất đất nước. Suốt cuộc đời hoạt động cách mạng, Đại tướng Lê Trọng Tấn, lần lượt đảm nhiệm các chức trách: Hiệu trưởng Trường Sĩ quan Lục quân, Viện trưởng Viện Khoa học Quân sự, Giám đốc Học viện Quân sự cao cấp, Phó tư lệnh Quân Giải phóng miền Nam, Phó tổng Tham mưu trưởng Quân đội nhân dân Việt Nam,... Nhưng đáng nói hơn, ông là Tư lệnh của những chiến dịch lớn và quan trọng trên các chiến trường quyết định: Bình Giã, Đồng Xoài, Bàu Bàng - Dầu Tiếng, Đường 9 Nam Lào, Mặt trận Trị Thiên (B5); Tư lệnh chiến dịch Huế - Đà Nẵng, Tư lệnh cánh quân duyên hải (do chính ông đề xuất thành lập) tiến vào Sài Gòn sớm nhất năm 1975; Tư lệnh chiến dịch biên giới Tây Nam 1978 - 1979 và biên giới phía Bắc 2-1979 lúc đó đã gần 70 tuổi, Đại tướng Lê Trọng Tấn vẫn khoác áo lính ra trận. Lê Trọng Tấn là vị tướng trận mạc, ông luôn có mặt ở những chiến trường gai góc, ác liệt và nóng bỏng nhất, có khả năng làm xoay chuyển cục diện trận đánh, trăm trận trăm thắng. Các nhà khoa học quân sự và quân đội các nước anh em kính nể, học tập ông về tài năng, đức độ và tầm nhìn chiến lược, chiến thuật, nghệ thuật quân sự kiệt xuất. Các cán bộ, chiến sĩ yêu mến gọi ông là “Giu-cốp của Việt Nam”, luôn đoàn kết, một lòng tin tưởng vào tài năng, đức độ, thông minh, sáng tạo, nhanh nhạy, quyết đoán của mình.

Năm 1973, trong một buổi gặp gỡ với các tướng lĩnh Việt Nam, Chủ tịch Cu-ba Phi-đen Ca-xtrô bắt tay tướng Lê Trọng Tấn rồi tươi cười hỏi mọi người xung quanh: “Đây có phải là vị tướng đánh hay nhất Việt Nam phải không?”. Đại tướng Võ Nguyên Giáp vui vẻ trả lời: “Đúng, đây là một trong những vị tướng giỏi nhất Việt Nam qua các thời đại”.

Bộ Tem về Đại tướng Lê Trọng Tấn được phát hành nhân kỷ niệm 100 năm ngày sinh của ông

Trong Hội thảo kỷ niệm 10 năm ngày mất Đại tướng Lê Trọng Tấn tháng 12-1996, Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã đánh giá tướng Tấn xứng đáng “hai lần anh hùng” do đã chỉ huy quân xuất sắc bắt sống tướng Đờ Cát ở Điện Biên Phủ năm 1954 và bắt sống nội các ngụy Sài Gòn 21 năm sau. Cả cuộc đời mình, Đại tướng đã mang hết tài năng và nghị lực phấn đấu thực hiện thắng lợi đường lối, nhiệm vụ chính trị, quân sự của Đảng, đồng thời có nhiều đóng góp lớn trong phát triển sáng tạo nghệ thuật quân sự Việt Nam, động viên mạnh mẽ tinh thần chiến đấu của quân và dân ta, góp phần đưa sự nghiệp kháng chiến cứu nước của nhân dân ta đi đến thắng lợi hoàn toàn.

Thượng tướng Ngô Xuân Lịch - Bí thư Trung ương Đảng, Ủy viên Thường vụ Quân ủy Trung ương, Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị trong bài phát biểu của mình tại Hội thảo khoa học kỷ niệm 100 năm ngày sinh Đại tướng Lê Trọng Tấn (1-10-1914 / 1-10-2014) đã viết về ông: “Cuộc đời hoạt động cách mạng của đồng chí Lê Trọng Tấn là tấm gương sáng của người cộng sản. Tên tuổi, sự nghiệp cùng những chiến công vang dội của đồng chí gắn liền với sự nghiệp cách mạng của Đảng, sự trưởng thành, lớn mạnh của QĐND Việt Nam anh hùng. Tấm gương của người chiến sĩ cộng sản Lê Trọng Tấn mãi trường tồn để mỗi chúng ta, nhất là cán bộ, chiến sĩ QĐND Việt Nam và thế hệ trẻ cả nước học tập, noi theo”.

Minh Vượng

TLTK:- Đại tướng Lê Trọng Tấn-Tổng tập, Nxb QĐND, Hà Nội, 2007; Đại tướng Lê Trọng Tấn, người của những chiến trường nóng bỏng”- NXB QĐND, 2014.

Bảo tàng Lịch sử Quốc gia

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn