Cựu chiến binh

LÊ VĂN BA - NƠI TUỔI TRẺ ĐƯỢC RÈN LUYỆN TRƯỞNG THÀNH

Một chỗ đủ trang trọng để người sau hiểu rằng trước khi trở thành một người lớn tuổi được con cháu gọi bằng những danh xưng thân thuộc, ông từng là một chàng trai khoảng hai mươi mốt tuổi, đã rời Thiệu Hóa và có một phần thanh xuân ở chiến trường Quảng Trị.

Thanh Hóa15/09/2026Xã Thiệu Hóa (Xã Thiệu Hóa)1 lượt xem0 lượt chia sẻ

Với tôi, Quảng Trị không chỉ là một địa danh. Hai tiếng ấy đứng cạnh một phần tuổi trẻ đã đi rất xa nhưng chưa bao giờ hoàn toàn rời khỏi ký ức. Tôi là Lê Văn Ba, sinh năm 1951, quê Thiệu Hóa. Năm 1972, khi khoảng hai mươi mốt tuổi, tôi nhập ngũ. Quãng quân ngũ của tôi gắn với Trung đoàn 66, Sư 34, trên chiến trường Quảng Trị – một địa bàn đặc biệt khốc liệt trong những năm cuối của cuộc kháng chiến chống Mỹ. Tôi mang cấp bậc Trung sĩ và đến năm 1975, khi khoảng hai mươi bốn tuổi, quãng quân ngũ khép lại. Ba năm nếu đặt bên cả một đời người có thể không dài, nhưng ba năm từ tuổi hai mươi mốt đến hai mươi bốn lại là một phần rất lớn của thanh xuân, nhất là khi những năm ấy nằm giữa một giai đoạn lịch sử mà mỗi ngày trôi qua đều mang sức nặng của chiến tranh.

Năm 1972, tôi rời Thiệu Hóa trong lúc đất nước vẫn còn chia cắt, cuộc kháng chiến chống Mỹ chưa đi đến hồi kết. Người hôm nay nhìn lại đã biết năm ấy Quảng Trị trở thành một trong những nơi chiến sự diễn ra đặc biệt ác liệt, biết năm 1973 Hiệp định Paris được ký kết và biết đến năm 1975 đất nước mới đi đến ngày thống nhất. Nhưng chàng trai hai mươi mốt tuổi của năm 1972 không thể đứng ở cuối con đường mà nhìn ngược lại như chúng ta hôm nay. Tôi chỉ biết mình đang bước vào quân ngũ giữa lúc đất nước còn chiến tranh, còn phía trước sẽ dài bao nhiêu, gian khó đến đâu và bao giờ trở về thì không ai có thể nói chắc.

Chính vì thế, ngày rời quê mang trong nó một cảm giác rất khác với một chuyến đi bình thường. Thiệu Hóa khi ấy không phải một cái tên trên giấy tờ. Đó là nơi tôi đã lớn lên, là những gì quen thuộc đến mức khi còn ở nhà ít khi nghĩ sẽ có ngày mình nhớ da diết. Con người thường chỉ hiểu sâu giá trị của một nơi sau khi phải rời xa nó. Quê hương cũng vậy. Khi bước đi, ta mới biết mình mang theo trong lòng nhiều hơn những gì tưởng tượng: hình bóng gia đình, nhịp sống quen, những dự định đời thường còn chưa kịp thực hiện.

Ở tuổi hai mươi mốt, tôi cũng có những mong muốn rất bình thường của một người trẻ. Không ai ở tuổi ấy chỉ biết nghĩ đến chiến tranh. Người trẻ vẫn muốn có tương lai, muốn được làm việc, dựng xây cuộc sống, được ở gần những người thân yêu. Nhưng thế hệ chúng tôi lớn lên trong một hoàn cảnh mà ước mơ riêng nhiều lúc phải đặt cạnh trách nhiệm chung của đất nước. Tôi bước vào hàng ngũ không phải bởi mình không biết nhớ nhà, mà chính vì biết quê hương đáng quý nên càng hiểu rằng có những lúc mỗi người phải góp phần giữ lấy điều mình yêu thương.

Quảng Trị từ đó bước vào đời tôi.

Không phải như một câu chuyện huyền thoại.

Mà như một phần thực sự của tuổi trẻ.

Trung đoàn 66, Sư 34 – những năm tháng học cách đứng vững

Quãng quân ngũ của tôi gắn với Trung đoàn 66, Sư 34. Tôi mang cấp bậc Trung sĩ. Từ những dữ kiện ấy không thể tự suy ra tôi đã trực tiếp tham gia trận đánh nào, đảm nhiệm vị trí cụ thể ra sao hay có một chiến công riêng biệt nào. Nhưng có một điều không cần phải tưởng tượng thêm: tôi đã có những năm tuổi trẻ trong quân ngũ trên chiến trường Quảng Trị giữa thời kỳ chiến tranh rất khốc liệt. Chỉ riêng hoàn cảnh ấy cũng đủ để hiểu trách nhiệm của người lính khi đó không thể là một điều nhẹ nhàng.

Quân đội dạy con người sống trong một nhịp khác. Một người ở quê có thể quen với những quyết định của riêng mình, nhưng khi đã vào hàng ngũ, mọi thứ phải đặt trong nề nếp chung. Mỗi người chỉ là một phần của tập thể, nhưng phần ấy không vì nhỏ mà được phép lỏng lẻo. Người lính phải hiểu rằng mình làm tốt phần của mình thì người bên cạnh mới có thêm sự tin cậy; nếu một người tùy tiện, tập thể cũng sẽ chịu ảnh hưởng. Trong hoàn cảnh chiến tranh, ý nghĩa ấy càng rõ.

Cấp bậc Trung sĩ đối với tôi là một dấu mốc của quãng đời quân ngũ. Tôi không từ cấp bậc ấy mà kể thêm một chức vụ chưa được xác nhận. Điều còn lại sâu hơn là cảm giác mình đã đi từ một người thanh niên của quê nhà vào một môi trường nơi trách nhiệm không chỉ được nói bằng lời. Nó được đo bằng cách sống qua từng ngày, bằng khả năng giữ kỷ luật, giữ tinh thần và không buông phần việc thuộc về mình dù hoàn cảnh có khó khăn.

Nhiều năm sau, tôi càng hiểu rằng sức bền của con người hiếm khi được tạo ra trong một khoảnh khắc. Nó được hình thành qua rất nhiều ngày tưởng như giống nhau. Hôm nay giữ vững. Ngày mai lại tiếp tục. Có những lúc tuổi trẻ muốn mọi thứ diễn ra nhanh, muốn sớm nhìn thấy kết quả, nhưng chiến tranh và đời lính buộc con người phải biết chịu đựng những khoảng thời gian dài mà không thể đoán trước điều gì đang chờ phía trước. Từ đó, người ta học được sự bền bỉ không phải như một khẩu hiệu, mà như một cách tồn tại.

Tôi từng khoảng hai mươi mốt tuổi khi bước vào hàng ngũ. Đó là tuổi còn đủ trẻ để đôi lúc nghĩ mọi điều phía trước đều có thể chờ mình. Nhưng ở Quảng Trị, giữa bối cảnh chiến trường khốc liệt, tuổi trẻ ấy phải học nhanh hơn về giới hạn và trách nhiệm. Điều đó không có nghĩa tôi muốn biến chiến tranh thành nơi tôi luyện con người theo một cách lãng mạn. Chiến tranh không đáng được ca ngợi. Điều đáng trân trọng là trong một hoàn cảnh mà con người không mong muốn, rất nhiều người trẻ vẫn biết đứng vào vị trí của mình và sống có trách nhiệm.

Đó là điều tôi nhớ về tuổi trẻ của mình.

Không phải mình đã phi thường ra sao.

Mà là mình đã cố gắng đứng vững trong thời đại của mình.

Đồng đội – những người cùng mang tuổi trẻ đến một miền khốc liệt

Nếu chỉ kể đời lính bằng chữ “tôi”, câu chuyện sẽ luôn thiếu một phần quan trọng. Quân ngũ là đời sống của tập thể, và chiến trường càng khiến con người hiểu rõ rằng không ai tồn tại hoàn toàn đơn độc. Mỗi người lính đến từ một quê hương khác nhau, mang theo một mái nhà, một gia đình và một tuổi trẻ riêng. Nhưng khi đứng trong cùng hàng ngũ, những khoảng cách ấy dần nhường chỗ cho một mối liên hệ rất đặc biệt: đồng đội.

Tôi không có ý kể lại một sự kiện cụ thể để chứng minh tình đồng đội. Có những tình cảm không cần một biến cố lớn mới trở nên sâu sắc. Sống bên nhau giữa một thời chiến tranh, biết người bên cạnh cũng nhớ quê như mình, cũng có những người thân đang chờ, cũng có một tương lai từng nghĩ tới – chừng ấy đã đủ để những con người xa lạ trở nên gần nhau. Tình đồng đội nhiều khi chính là sự hiểu rằng mình không phải người duy nhất đang cố gắng.

Trên một chiến trường được biết đến bởi mức độ khốc liệt như Quảng Trị, sức mạnh tập thể càng có ý nghĩa. Nhưng tôi không gắn vào mình hay những người đồng đội những hành động cụ thể chưa được kể lại. Điều tôi muốn nhớ là phẩm chất của sự hiện diện: có những người đã từng ở bên nhau vào đúng những năm trẻ nhất của đời người, đã cùng đi qua một thời mà chỉ những người sống trong đó mới hiểu hết sức nặng của mỗi ngày.

Nhiều chục năm sau, một người đồng đội cũ có thể nhớ tôi không phải như người hôm nay, mà như một Lê Văn Ba ở tuổi hai mươi mốt, hai mươi hai, hai mươi ba. Trong ký ức của họ, khuôn mặt ấy có thể vẫn còn trẻ. Và trong ký ức của tôi, họ cũng vậy. Thời gian làm con người già đi, nhưng có một điều rất lạ: ký ức về đồng đội thường giữ họ ở đúng độ tuổi mà ta từng gặp.

Bởi vậy, đồng đội giữ hộ nhau tuổi trẻ.

Không nhất thiết bằng những câu chuyện thật lớn.

Mà bằng việc từng có mặt trong đời nhau ở một thời rất đặc biệt.

Có những năm tháng sau này không ai khác có thể hiểu hoàn toàn như những người đã cùng trải qua. Một thế hệ con cháu có thể đọc về Quảng Trị trong sách, có thể biết những mốc lịch sử, nhưng cảm giác của một người trẻ thực sự sống trong những năm ấy chỉ có thể được giữ lại qua ký ức của những người trong cuộc.

Tôi nghĩ sự tri ân dành cho thế hệ người lính cũng nên có một chỗ cho tình đồng đội như thế. Không chỉ biết ơn từng cá nhân, mà còn hiểu rằng sức mạnh của người lính nằm rất nhiều trong việc họ biết đứng bên nhau, cùng giữ một niềm tin và cùng gánh trách nhiệm của thời đại.

Từ Quảng Trị đến năm đất nước sang trang

Tôi nhập ngũ năm 1972, một năm chiến sự đặc biệt dữ dội. Sang 1973, Hiệp định Paris được ký kết, nhưng chiến tranh chưa kết thúc và đất nước vẫn chưa thống nhất. Tôi tiếp tục trong quân ngũ cho đến năm 1975. Vì không có tháng xuất ngũ cụ thể, tôi không gắn bản thân với bất kỳ sự kiện hay thời điểm riêng nào của năm đó. Điều có thể nói chắc chắn là quãng quân ngũ của tôi bắt đầu giữa chiến tranh và kết thúc trong chính năm lịch sử đất nước đi đến thống nhất.

Ba năm ấy đưa tôi từ khoảng hai mươi mốt đến hai mươi bốn tuổi. Một con người thay đổi rất nhiều trong khoảng thời gian đó. Khi bước đi, tôi vẫn mang nhiều nét của một thanh niên mới vào đời; khi quãng quân ngũ khép lại, tôi đã hiểu thêm về trách nhiệm, về sự bền bỉ và về giá trị của những điều trước kia tưởng quá bình thường.

Đặc biệt là hai chữ hòa bình.

Người sinh ra trong hòa bình có thể hiểu hòa bình bằng sách vở, bằng những ngày lễ, bằng những câu chuyện của cha ông. Người đã sống tuổi trẻ trong chiến tranh lại thường hiểu nó bằng những điều nhỏ hơn. Hòa bình là khi một người trẻ có thể nghĩ tới nhiều năm phía trước mà không phải đặt chiến tranh vào mọi dự định. Là khi gia đình có thể lo cho công việc, cho con cái, cho mùa màng, cho một mái nhà. Là khi một chuyến đi đơn giản chỉ là một chuyến đi, không mang theo sức nặng của việc không biết khi nào trở lại.

Tôi đi qua Quảng Trị trong tuổi trẻ nên càng về sau càng quý những ngày không có gì đặc biệt.

Một buổi sáng bình thường.

Một bữa cơm gia đình.

Một người con đi học.

Một người lớn đi làm.

Những điều ấy không xuất hiện trong những trang sử lớn, nhưng chính đó là hình dáng đẹp nhất của hòa bình. Một đất nước bình yên là nơi con người được quyền sống rất nhiều ngày không cần trở thành nhân chứng của lịch sử.

Năm 1975, quãng quân ngũ của tôi khép lại. Không cần dựng lại một cảnh trở về mới hiểu được ý nghĩa của việc bước khỏi một thời chiến tranh để tiếp tục sống đời thường. Người trở về mang theo không chỉ ký ức về một đơn vị hay một địa danh. Anh ta còn mang theo một thước đo khác về những điều đáng quý.

Sau Quảng Trị, quê nhà càng trở nên gần gũi.

Sau những năm quân ngũ, một ngày bình yên càng trở nên có giá trị.

Sau khi từng sống trong tập thể, người ta hiểu sâu hơn thế nào là lòng tin.

Và sau khi tuổi trẻ đã đi qua giữa chiến tranh, con người càng mong thế hệ sau không bao giờ phải sống một tuổi trẻ giống mình.

Đó không phải mong muốn xóa đi quá khứ.

Đó là mong lịch sử thật sự có ý nghĩa.

Để hai tiếng Quảng Trị trở thành một lời nhắc về lòng biết ơn

Nhiều năm đã trôi qua kể từ tuổi hai mươi mốt. Khi một người đã đi gần hết một đời, những điều từng tưởng rất lớn có thể trở nên nhẹ hơn, còn những thứ tưởng nhỏ lại ngày càng quý. Tôi không mong con cháu nhớ mình bằng những lời ca ngợi quá mức. Tôi càng không mong chúng nghĩ rằng người lính nào của chiến trường Quảng Trị cũng phải có một câu chuyện phi thường.

Chỉ cần nhớ đúng một con người.

Lê Văn Ba, sinh năm 1951, quê Thiệu Hóa, nhập ngũ năm 1972, quãng quân ngũ gắn với Trung đoàn 66, Sư 34, tại chiến trường Quảng Trị, mang cấp bậc Trung sĩ, và xuất ngũ năm 1975.

Sau những dòng ấy là ba năm tuổi trẻ.

Ba năm không thể lấy lại.

Ba năm đặt giữa một thời chiến tranh khốc liệt.

Nhưng điều tôi muốn gửi lại không phải chỉ là câu chuyện về gian khó. Nếu chỉ nhớ quá khứ bằng nỗi đau, người sau sẽ khó nhìn thấy vì sao thế hệ trước đã cố gắng đến vậy.

Chúng tôi mong hòa bình.

Và khi hòa bình đã trở thành cuộc sống thường ngày của con cháu, đó chính là một câu trả lời đẹp.

Người trẻ hôm nay có quyền có những ước mơ rất khác. Không cần phải khoác áo lính để chứng minh lòng yêu nước. Có thể yêu quê hương bằng việc học cho tử tế, làm nghề cho đàng hoàng, gìn giữ gia đình, biết trách nhiệm với cộng đồng, không sống thờ ơ với lịch sử và không coi những điều đang có là đương nhiên.

Lòng biết ơn không nên dừng lại ở một phút tưởng niệm.

Nó nên trở thành một cách sống.

Khi biết đã có những người từng dành tuổi trẻ cho đất nước, ta càng phải biết dùng tuổi trẻ hôm nay một cách có ích.

Khi biết có những thế hệ từng đi qua chiến trường, ta càng phải quý một ngày được sống không có chiến tranh.

Khi biết quê hương đã có những người con từng lên đường, ta càng có lý do để sống sao cho quê hương ngày càng tốt đẹp hơn.

Mai này, nếu một người con cháu nghe đến hai tiếng Quảng Trị, tôi mong trong tâm trí họ không chỉ có một địa danh của chiến tranh. Hãy để nơi ấy còn là một vùng ký ức của rất nhiều tuổi trẻ, trong đó có một người con Thiệu Hóa tên Lê Văn Ba.

Không cần dựng cho ông một tượng đài bằng những điều chưa từng được xác nhận.

Chỉ cần dành cho ông một chỗ trong ký ức gia đình và quê hương.

Một chỗ đủ trang trọng để người sau hiểu rằng trước khi trở thành một người lớn tuổi được con cháu gọi bằng những danh xưng thân thuộc, ông từng là một chàng trai khoảng hai mươi mốt tuổi, đã rời Thiệu Hóa và có một phần thanh xuân ở chiến trường Quảng Trị.

Thời gian có thể đưa chiến tranh ngày một xa, nhưng lòng tri ân không nên xa theo năm tháng. Với Lê Văn Ba, ba năm 1972–1975 không chỉ là một đoạn đời đã qua; đó là phần tuổi trẻ được gửi lại giữa một thời đất nước gian nan. Quảng Trị vì thế còn mang một ý nghĩa khác: nơi một người con Thiệu Hóa từng sống những năm thanh xuân trong hàng ngũ, để rồi nhiều thập niên sau, tên ông vẫn có thể được nhắc lại bằng sự kính trọng bình dị. Khi thế hệ sau còn biết sống xứng đáng với hòa bình mình đang có, đó cũng là lúc tuổi trẻ của những người đi trước tiếp tục được gìn giữ trong miền tri ân của quê hương.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn
LÊ VĂN BA - NƠI TUỔI TRẺ ĐƯỢC RÈN LUYỆN TRƯỞNG THÀNH | Câu chuyện thời hoa lửa