LÊ VĂN DUYỆT (1763 - 1832) - TIỀN GIANG NHÂN VẬT CHÍ
Lê Văn Duyệt sinh năm 1763 tại thôn Long Hưng, huyện Kiến Hưng, đạo Trường Đồn (nay là xã Long Hưng, huyện Châu Thành, tỉnh Tiền Giang).
Năm 1780, ông theo phò chúa Nguyễn Phúc Ánh, được phong chức Cai cơ. Trong hai năm 1784 và 1785, ông hộ giá Nguyễn Phúc Ánh sang Xiêm (Thái Lan) lánh nạn. Năm 1788, ông là người góp công lớn trong việc giúp Nguyễn Phúc Ánh chiếm được đất Gia Định. Năm 1800, ông chỉ huy quân Nguyễn đánh chiếm cửa Thị Nại và thành Quy Nhơn (Bình Định).
Năm 1802, ông được vua Gia Long (tức Nguyễn Phúc Ánh) phong Khâm sai Chưởng tả quân dinh Bình Tây tướng quân, tước Quận công. Sau đó, ông cùng với Trung quân Nguyễn Văn Thành và Hậu quân Lê Chất được lệnh mang quân bình định miền Bắc; rồi lãnh chức Kinh lược sứ Thanh - Nghệ.
Năm 1813, ông được vua Gia Long cử làm Tổng trấn Gia Định thành, trông coi mọi việc ở vùng đất Nam Bộ, gồm năm trấn Biên Hòa, Gia Định, Định Tường, Vĩnh Long và Hà Tiên. Năm 1815, ông được triệu về Kinh. Năm 1820, ông được vua Minh Mạng cử làm Tổng trấn Gia Định thành lần thứ 2; và tại vị cho đến lúc mất vào năm 1832, thọ 69 tuổi.
Trong thời gian trấn nhậm Nam Bộ, ông có công lao to lớn trên các phương diện: giữ vững an ninh vùng biên giới tây nam của đất nước; tổ chức đào kênh Vĩnh Tế - một con kênh có giá trị về nhiều mặt ở miền tây Nam Bộ; khuyến khích dân chúng đẩy mạnh việc khẩn hoang để mở mang diện tích ruộng đất canh tác nông nghiệp; biết trọng dụng nhân tài; kiên quyết trừng trị bọn tham quan ô lại; có chính sách hợp lý đối với Thiên chúa giáo; mở cửa, thông thương với bên ngoài, nhất là đối với một số nước phương Tây; có chính sách đối ngoại khôn khéo, vừa mềm dẽo, vừa cương quyết,…
Nhìn chung, ông là một đại công thần của triều Nguyễn. Cựu Thủ tướng Võ Văn Kiệt, trong buổi “Tọa đàm về nhân vật Lê Văn Duyệt” được tổ chức tại thành phố Hồ Chí Minh ngày 7-8-2000, đã có nhận xét: “Lê Văn Duyệt là một tài năng lớn về chính trị, kinh tế và quân sự” (Trích từ tạp chí Xưa và Nay số 78B/8-2000).
Năm 1833, người con nuôi của ông là Lê Văn Khôi đã khởi binh chống lại triều đình. Hai năm sau, cuộc khởi binh bị đàn áp đẫm máu. Vốn có tỵ hiềm với ông, vua Minh Mạng ra lệnh san bằng phần mộ của ông và dựng lên đó tấm bia có ghi tám chữ: “Quyền yêm Lê Văn Duyệt phục pháp xứ” (Đây là nơi tên yêm hoạn Lê Văn Duyệt chịu phép nước). Nỗi oan khuất của ông mãi đến năm 1848 mới được vua Tự Đức giải tỏa.
Hiện nay, lăng mộ của ông - mà nhân dân quen gọi là Lăng Thượng công, Lăng Đức Tả quân hay Lăng Ông Bà Chiểu - tọa lạc tại vùng Bà Chiểu, quận Bình Thạnh, Thành phố Hồ Chí Minh. Hằng năm, đến ngày giỗ kỵ của ông (30 tháng 7 âm lịch), nhân dân thường đến đây lễ bái rất đông. Ở Long Hưng (Châu Thành, Tiền Giang) cũng có phần mộ của ông và được nhân dân quanh năm hương khói. Về sự việc này, Tiến sĩ Nguyễn Minh Tường viết: “Lê Văn Duyệt được nhân dân Sài Gòn, nhân dân Nam Bộ thờ phụng, đó chính là sự đánh giá công bằng về một con người đã mang lại nhiều điều tốt lành cho họ”. Ông có người em là Lê Văn Phong cũng là một công thần của nhà Nguyễn. Hiện nay có 10 tỉnh, thành phố có con đường được mang tên Lê Văn Duyệt gồm: Đà Nẵng, Bình Thuận, Bình Dương, Bình Phước, Bà Rịa - Vũng Tàu, Tiền Giang, Vĩnh Long, Bạc Liêu, An Giang và Thành phố Hồ Chí Minh.


