Lê Văn Duyệt (1764- 1832) hai lần làm Tổng trấn Gia Định với những cải cách kinh tế táo bạo
Như nhà sử học Dương Trung Quốc đã viết trong một bài báo cách đây vài năm: “Sử học về vùng đất phía Nam với công cuộc nam tiến của dân tộc, vai trò của các Chúa Nguyễn và triều đại nhà Nguyễn đối với sự nghiệp dựng nước, việc đánh giá lại không ít nhân vật lịch sử như Lê Văn Duyệt, Phan Thanh Giản, Trương Vĩnh Ký, Nguyễn An Ninh... và đặc biệt là những đóng góp to lớn của nhân dân Nam Bộ trong những thử thách lịch sử thời hiện đại và đương đại của cách mạng Việt Nam luôn là đề tài hấp dẫn cho các nhà nghiên cứu lịch sử…”.
Vài nét về thân thế sự nghiệp của Lê Văn Duyệt
Lê Văn Duyệt sinh năm 1764 trong một gia đình nông dân tại làng Hòa Khánh, nay thuộc xã Hòa Khánh, huyện Cái Bè, tỉnh Tiền Giang. Cha mẹ ông sinh ra 4 anh em, ông là con cả. Từ thuở nhỏ, Lê Văn Duyệt đã sớm bộc lộ tư chất thông minh, lanh lẹ và rất thích chọi gà. Sách "Kể chuyện các quan thái giám trong lịch sử Việt Nam" cho biết: “Khi mới sinh ra Duyệt, người cha ngắm nhìn con và cảm thấy có phần không vui. Duyệt trông khác hẳn những đứa trẻ khác, hình thể nhỏ nhắn và không có ngọc hành. Tuy nhiên Duyệt vẫn là một đứa trẻ khỏe mạnh, hay ăn chóng lớn”. Bấy giờ ở Định Tường có một thầy Tàu nổi tiếng xem tướng giỏi. Ông Toại liền đưa Duyệt đến ra mắt thầy. Sau một hồi ngắm nhìn Duyệt, thầy cười khà khà rồi bảo: “Ông chẳng phải lo làm gì, cơ thể nó tuy bất bình thường nhưng nó vẫn có đủ vợ lẽ nàng hầu. Sau này nó sẽ vinh hiển, ông sẽ được nhờ vào nó”. Nghe thầy tướng nói, cha ông yên tâm hơn và cho Lê Văn Duyệt học hành đầy đủ sách vở đạo Nho, đọc cả các sách binh thư theo sở thích. Dù mang khuyết tật bẩm sinh, song Lê Văn Duyệt là người mang hoài bão rất lớn. Bộ sử Đại Nam liệt truyện khi chép chuyện về Lê Văn Duyệt có viết rằng khi còn trẻ, ông thường nói “Làm trai sinh ở thời loạn, nếu không trở thành đại tướng cầm quân, công danh được ghi vào sử sách thì sao xứng là kẻ trượng phu”.

Tượng Tả công Lê Văn Duyệt đúc bằng đồng tại Khu đền thờ Lê Văn Duyệt (TP Hồ Chí Minh).
Quả nhiên, khi chưa đầy 20 tuổi Lê Văn Duyệt được Nguyễn Ánh tuyển làm Thái Giám Nội Đình. Ở bên Nguyễn Ánh trong những ngày bôn ba tìm cách phục quốc, chúa Nguyễn sớm nhận ra Lê Văn Duyệt không chỉ là một thái giám tầm thường mà còn có hiểu biết về việc binh. Bởi vậy, con mắt của chúa Nguyễn đối với Lê Văn Duyệt đã thay đổi, những khi có việc quân cơ thường cho Duyệt cùng bàn luận. Lê Văn Duyệt cứ thế trở thành vị tướng giỏi phò trợ chúa Nguyễn Ánh giành nhiều thắng lợi. Năm 1802, Nguyễn Ánh lên ngôi vua lấy hiệu Gia Long, định đô ở Phú Xuân – Huế. Vua Gia Long ban thưởng cho một cung nữ làm nàng hầu rồi lại cho lấy con người em trai làm con nối dõi cho Lê Văn Duyệt. Có thể nói: trong suốt triều vua Gia Long, Lê Văn Duyệt là vị tướng tích cực nhất giúp Nguyễn Ánh lên ngôi vua.
Hai lần làmTổng trấn Gia Định với nhiều kế sách phát triển kinh tế, chăm lo đời sống nhân dân
Khi được bổ làm Tổng trấn Gia Định, Lê Văn Duyệt tỏ ra là một vị quan sắc sảo. Nhờ tài giỏi ông được giữ chức Tổng trấn Gia Định hai lần, lần thứ nhất khoảng năm 1812 – 1815 dưới triều Gia Long, lần thứ hai dưới triều Minh Mạng từ năm 1820 đến khi ông qua đời (năm 1832). Trấn Gia Định dưới quyền cai quản của ông an ninh luôn được đảm bảo. Khi làm Tổng trấn Gia Định, ông chủ trương khuyến khích mua bán, trao đổi hàng hóa trong vùng và giao thương với người ngoại quốc. Năm 1823, ông cho đào kênh Vĩnh Tế (đến tháng 5 năm âm lịch năm 1824 thì xong) để làm biên giới với Cam-pu-chia. Việc làm này của ông được cho rằng ông có tầm nhìn xa trông rộng về an ninh quốc phòng. Ông còn cho đào ao, mở kinh thông thương buôn bán, phát triển kinh tế khắp các miền từ Gia Định đến Cà Mau, Đồng Nai. Nhờ vậy mà người dân Gia Định - Sài Gòn - Đồng Nai luôn ghi nhớ công ơn của Tả công Lê Văn Duyệt. Lê Văn Duyệt còn cho binh lính củng cố thành lũy, chủ động giữ vững an ninh. Ông cũng cho lập ra hai cơ quan từ thiện là "Anh hài" và “Giáo dưỡng”. “Anh hài” là để rèn luyện võ nghệ cho trẻ thích việc kiếm cung, và "Giáo dưỡng" để cho những trẻ khác và quả phụ học văn chương và nghề nghiệp.... Đồng thời ông cũng có cách ứng xử khéo léo, rộng rãi đối với những người phương Tây đến buôn bán ở Sài Gòn, được họ rất nể phục.
Thời đó, làm quan có tư duy làm kinh tế tiến bộ và làm từ thiện như ông quả là hiếm. Chính các nhà buôn châu Âu đã ghi chép lại việc này. Thương nhân Crawfurd - một người Anh đã ghi lại cảm xúc của mình trong Nhật ký hành trình một lần đến Gia Định ngày 2/9/1822, như sau: "Ở đây chúng tôi mua được rất nhiều lúa gạo, ngà voi, sừng tê giác, các hàng tơ lụa, đũi thật đẹp. Từ các nơi, dân đi thuyền theo các kênh rạch lên bán cho chúng tôi. Nhìn dân chúng hân hoan vui vẻ, chúng tôi biết dân no đủ. Nhiều người rất kính trọng vị Tổng trấn của họ. Con người này ít học, nhưng lạ lùng thay, ông có được cái nhìn cởi mở hơn nhiều những đại thần và cả nhà vua học rộng, thuộc làu kinh sử của Khổng giáo. Ngài sống thanh liêm, ông muốn mở mang đất Gia Định này trù phú hơn mọi quốc gia khác ở trong vùng biển Đông”.
Là một Tổng trấn tài năng luôn song hành với đức độ, ngay khi còn sống, Lê Văn Duyệt đã được người dân Nam Bộ hết lòng tôn kính bởi ông vừa chăm lo đời sống nhân dân, vừa đảm bảo an ninh trật tự rất tốt. Vùng đất Gia Định trải dài từ Bình Thuận tới Cà Mau kinh tế phát triển, đời sống nhân dân yên ổn, no ấm, nhân dân một lòng biết ơn gọi ông là “ông Lớn Thượng”. Với tài năng và đức độ của ông khi hai lần được cử làm Tổng trấn thành Gia Định dưới triều vua Gia Long và vua Minh Mạng, ông đã thu phục được lòng dân chúng. Nhân dân Gia Định – Sài Gòn coi ông như một vị thần. Lời bộc bạch chí tình của ông với dân Sài Gòn - Gia Định được người ta nhắc: “…Ta muốn trở về quê ta, trở về Gia Định. Dân Gia Định là dân cùng đường chạy về đây. Chính đám dân này đã khai sáng đất Gia Định này. Họ sống hào hiệp nghĩa khí lắm. Đời ta nghĩ lại, có gì đâu. Không vợ, nhà vua cho cung phi làm vợ. Không con, lấy cháu làm con. Ta không ham hố điều gì. Ta coi thường mọi công danh. Phải, ta sẽ trở về với dân Gia Định thuở hàn vi…Bao giờ nhắc tới dân Gia Định ta cũng thấy mình mang nợ.” (Từ nấm mồ oan khuất đến Lăng Ông - tr.93)
Lê Văn Duyệt mất năm 1832, hưởng thọ 69 tuổi. Vua Minh Mạng cho 3000 quan tiền, lại cho tế một đàn nhằm ghi nhận công trạng của ông đối với triều đình. Ông còn được triều đình truy tặng chức "Tá vận công thần đặc tấn Tráng võ tướng quân – Tả quân đô thống phủ chưởng phủ sự, Thái bảo quận công", thụy là "Oai Nghị".
Nỗi oan khiên sau khi Lê Văn Duyệt mất
Tuy công danh bậc nhất một thời nhưng Tả quân Lê Văn Duyệt lại phải chịu một cái án rất đau xót. Đêm 30 tháng 7 năm Nhâm Thìn (1832) Tả Quân Lê Văn Duyệt qua đời sau cơn bạo bệnh. Ông được an táng tại làng Bình Hòa, thuộc quận Bình Thạnh ngày nay. Nhưng chỉ mấy năm sau khi ông mất, một bi kịch khủng khiếp đã xảy ra với gia tộc, dòng họ của ông. Do bức xúc với nhà vua trước những bất công đối với tôi tớ của Tả Quân mà người con nuôi của ông là Lê Văn Khôi khởi binh chống lại triều đình. Tháng 5 năm 1833, Lê Văn Khôi cùng 27 người trong đạo lính Hồi lương cầm đầu quân sĩ nổi lên chiếm thành Phiên An. Vua Minh Mạng sai người dẹp biến. Cuộc nổi dậy nhanh kết thúc trong cảnh đẫm máu. Hàng ngàn người theo Lê Văn Khôi bị lôi ra xử chém và chôn chung một hầm tạo nên ngôi “mả Ngụy” trên đất thành. Năm 1835, dù Lê Văn Duyệt đã chết nhưng Phan Bá Đạt dâng sớ kể tội Duyệt xin vua đưa người thân Lê Văn Duyệt về Hình bộ xét tội. Vua Minh Mạng giao cho đình thần nghị xử. Vài hôm sau có nhóm nội các là Hà Quyền, Nguyễn Tri Phương và Hoàng Quýnh nghị tội Lê Văn Duyệt, có bảy tội phải chém, hai tội phải thắt cổ. Sách “Đại Nam thực lục chính biên đệ nhị kỷ”, quyển 162 năm Minh Mạng thứ 16 (1835) đã chép về tội án của Lê Văn Duyệt rất rõ. Theo lệnh vua Minh Mạng, Tổng đốc Gia Định đã đến mộ của Lê Văn Duyệt san bằng mồ mả, xiềng xích khóa lại, dựng bia đá sỉ nhục với tám chữ “Quyền yểm Lê Văn Duyệt phục pháp xử”. (Đây là nơi hoạn quan lộng quyền Lê Văn Duyệt chịu phạt). Ông chết vẫn bị kết án bảy tội xử trảm (chém), hai tội xử giảo (thắt cổ), một tội phát quân. Tại Huế, con cháu ông từ 15 tuổi trở lên bị xử trảm hàng loạt. Thân sinh bị tước phẩm hàm, bia mộ bị đục xóa, ruộng điền bị tịch thu, nhà thờ họ tộc ở Quảng Ngãi bị đưa voi về tàn phá. Nhân dân Gia Định vô cùng đau xót, bất bình. Đây được coi là một trong hai kỳ án lớn nhất ở triều Nguyễn.
Mãi tới năm 1841, khi vua Thiệu Trị lên ngôi, ngài mới ban lệnh tha tội cho các thân thuộc của Lê Văn Duyệt và Lê Chất. Đến năm Tự Đức 2 (1849), Đông Các đại học sĩ Võ Xuân Cẩn dâng sớ xin phục hồi quan tước, gia ơn cho con cháu các công thần, trong đó có Lê Văn Duyệt. Nhà vua xem sớ cảm động, truy phong cho cả ba ông và ban phẩm hàm cho con cháu họ. Nghĩ đến công lao của Tả Quân, vua đã cho nhổ cây bia có khắc 8 chữ, đồng ý cho thân nhân sửa sang xây đắp mộ phần và sửa sang miếu thờ. Đến năm Tự Đức 21 (1868) vua mới phục nguyên hàm cho Tả Quân Lê Văn Duyệt. Sau này vợ ông là bà Đỗ Thị Phẩn qua đời cũng được chôn cất bên cạnh phần mộ của Tả Quân. Khu mộ nhiều lần được tu bổ, cải tạo ngày càng kiên cố hơn.

Cổng vào Khu Lăng mộ Lê Văn Duyệt từng được xem là một biểu tượng của Sài Gòn - Gia Định.
Qua bao nhiêu thăng trầm cùng thời gian, Khu lăng mộ Tả Quân Lê Văn Duyệt trở thành địa điểm văn hóa, tâm linh với công trình kiến trúc có giá trị văn hóa, nghệ thuật đặc sắc mang đậm nét truyền thống của vùng đất Nam bộ. Về phần kiến trúc, Lăng Ông được xây dựng theo kiểu kiến trúc lăng mộ chung của Miền Tây Nam Bộ. Trước năm 1975, cổng tam quan này được xem là biểu tượng của vùng Sài Gòn - Gia Định xưa. Lăng Ông nằm lọt giữa bốn con đường lớn là Đinh Tiên Hoàng, Phan Đăng Lưu, Vũ Tùng và Trịnh Hoài Đức. Khu lăng mộ Tả Quân Lê Văn Duyệt đã được công nhận Di tích Lịch sử Văn hóa cấp quốc gia năm 1988.
Thay lời kết
Có thể nói qua hơn 183 năm từ khi Lê Văn Duyệt mất đến nay (1832 – 2015), nhiều cách đánh giá khác nhau về cuộc đời danh tướng Lê Văn Duyệt cả về công và tội. Nhưng, đối với nhân Gia Định và cả vùng Nam bộ, Lê Văn Duyệt vẫn là một người có nhiều công đức. Lê Văn Duyệt là một vị khai quốc công thần danh vọng bậc nhất triều vua Gia Long. Nhà nghiên cứu Trần Bạch Đằng cũng từng nhận định: “Lê Văn Duyệt có công, bằng chứng là nhân gian ngưỡng mộ và kính trọng ông (…) Chúng ta đều biết, ở Nam bộ, trong khoảng thời gian dài và có lẽ cũng còn sót lại cho đến tận hôm nay một câu thề độc: “nếu tôi gian dối thì xin thề trước Lăng Ông tôi sẽ bị vặn họng như con gà tôi mang đến cúng Tả quân”(…) chúng ta nhận thức rằng sự tôn trọng kia liên quan chủ yếu đến công lao của ông đối với vùng đất mà ông trấn nhậm”. (Sách Địa chí văn hóa TP Hồ Chí Minh). Mỗi đêm Giao thừa, hoặc đến ngày giỗ Ông vào 30-7 âm lịch hằng năm, ngót hàng vạn người khắp nơi trong nước, trong đó có rất nhiều bà con người Hoa đến cúng bái và xin xăm ở lăng. Người Hoa rất quý trọng Lê Văn Duyệt vì ông đã mở ra cho họ một cánh cửa rộng trong giao thương buôn bán tại Sài Gòn xưa…

Lễ hội được tổ chức hàng năm tại Khu Lăng mộ Lê Văn Duyệt với hàng chục ngàn người tham gia.
Từ năm 1848 đến nay, nhân dân đã nhiều lần đóng góp công sức tiền của để xây dựng, tu sửa, tôn tạo khu mộ và đền thờ Lê Văn Duyệt. Họ gọi mộ và đền thờ của Lê Văn Duyệt là “Lăng Ông", "Lăng Quan Lớn Thượng", "Lăng Ông Bà Chiểu” thành kính. Hàng năm đều mở hội và tế lễ trang trọng, có hàng chục ngàn người về dự hội. Lăng Ông Lê Văn Duyệt tọa lạc uy nghi trên một khuôn viên rộng 18.500 mét vuông ở Bình Hoà – Gia Định, nay là 126 đường Đinh Tiên Hoàng, phường 1, quận Bình Thạnh, TP.Hồ Chí Minh. Năm 2000, Hội Khoa học Lịch sử Việt Nam, TP.Hồ Chí Minh, Tạp chí Xưa và Nay đã tổ chức Hội thảo khoa học đánh giá về thân thế, sự nghiệp của Lê Văn Duyệt. Qua Hội thảo, các nhà sử học và các học giả trong nước đều có chung một nhận định: “Lê Văn Duyệt là một tài năng lớn về chính trị, kinh tế, quân sự và trong các tư duy chiến lược của Lê Văn Duyệt có sự kế thừa từ các anh hùng dân tộc trước đó v.v…”.


