Lê Văn Hiến - Khúc tráng ca dưới chân Ngũ Hành
ió chiều từ vịnh Non Nước thổi rát vào triền núi đá Hòa Hải, mang theo hơi cát khô khốc của vùng đất ngũ hành. Mùa hè năm 1968, căn cứ của Đội du kích xã Hòa Hải thuộc huyện Hòa Vang (nay là phường Hòa Hải, quận Ngũ Hành Sơn, Đà Nẵng) nằm thu mình dưới những hang đá ngầm sâu hút.
Trong vòm hang tối le lói ánh đèn dầu, một chàng trai trẻ với vóc người rắn rỏi, đôi mắt sáng quắc đang tỉ mẩn lau từng chốt an toàn của quả lựu đạn mỏ vịt. Anh là Lê Văn Hiến – người đội trưởng du kích mà khi ấy người dân đôi bờ sông Cổ Cò thường gọi bằng cái tên thân thương: "Hiến cận".
Tuổi hai mươi của anh trôi qua không phải trên giảng đường hay sau tay cày bờ ruộng, mà là giữa những trận càn khốc liệt của Thủy quân lục chiến Mỹ đổ bộ vào bãi biển Đà Nẵng. Khi quân thù biến quê hương thành tiền đồn khổng lồ, những người con của cát bỏng Hòa Vang chỉ có một con đường: bám đất, bám làng, biến từng hốc đá Ngũ Hành Sơn thành pháo đài bất khả xâm phạm.
Người du kích trẻ ngồi đối diện nhìn anh, hạ giọng thì thầm: "Anh Hiến, tin cơ sở báo ra, sáng mai tụi Mỹ - ngụy lại mở đợt càn quét quy mô lớn vào chân núi. Chúng quyết tìm cho ra hầm chỉ huy của mình."
Lê Văn Hiến không ngẩng lên, bàn tay thoăn thoắt lắp lại từng lò xo điểm hỏa. Anh mỉm cười, nụ cười bình thản của người đã bao lần đối mặt với tử thần: "Đất này là của cha ông mình, từng tấc cát, ngọn cỏ ở Ngũ Hành Sơn này mình thuộc hơn chúng nó. Chúng nó có xe tăng, đại bác, còn mình có lòng dân và địa hình hiểm trở. Cứ bình tĩnh, đánh đúng bài du kích: ẩn như bóng ma, hiện như sấm sét."
Sáng hôm sau, sương mù trên sông Cổ Cò chưa kịp tan thì tiếng gầm rú của trực thăng vũ trang đã xé toạc không gian yên ả. Từng đoàn xe bọc thép M113 cùng lính dù ồ ạt đổ bộ, vây ráp các lối mòn dẫn lên chùa Tam Thai và ngọn Thủy Sơn. Đạn cối dập liên hồi, khói xám mù mịt cuộn trùm lên những vách đá vôi sừng sững.
Từ trong hốc đá ngầm, Lê Văn Hiến giơ tay ra hiệu cho đồng đội ghìm súng, kiên nhẫn chờ đợi quân địch lọt sâu vào tầm ngắm. Khi bóng lính Mỹ đi đầu chỉ còn cách miệng hầm chừng mười mét, tiếng hô đanh thép của anh vang lên: "Bắn!"
Một loạt đạn AR-15 cùng lựu đạn ném dồn dập vào đội hình địch. Bị đánh úp bất ngờ, quân địch tán loạn dạt ra hai bên triền dốc. Nhưng với hỏa lực vượt trội, chúng nhanh chóng củng cố đội hình, tập trung đại liên quét như mưa về phía trận địa của tiểu đội du kích. Một góc hang sạt lở, đất đá rơi rào rào.
Nhận thấy vòng vây siết chặt, nếu giữ nguyên vị trí thì cả đội sẽ bị pháo kích tiêu diệt, Lê Văn Hiến quyết định hành động. Anh quay sang đồng đội, ánh mắt rực lửa kiên định: "Mấy anh em rút sâu vào động Âm Phủ, đưa thương binh theo ngách sau về phía biển. Để tôi ở lại chặn đầu xe bọc thép!"
"Anh Hiến, không được! Anh là chỉ huy, để em ở lại!" – người chiến sĩ trẻ níu chặt tay áo anh.
"Chấp hành mệnh lệnh! Còn người là còn căn cứ. Đừng để anh em hy sinh vô ích!"
Lê Văn Hiến gạt tay đồng đội, ôm lấy khẩu súng cùng chùm lựu đạn cuối cùng, thoăn thoắt luồn qua các khe đá hiểm trở. Bằng sự am hiểu tường tận từng góc khuất của ngọn núi quê nhà, anh thoắt ẩn thoắt hiện, liên tục nổ súng từ nhiều vị trí khác nhau để đánh lạc hướng toàn bộ hỏa lực của địch. Tiếng súng đơn độc nhưng đanh thép của người đội trưởng đã ghìm chân cả một đại đội lính Mỹ suốt nhiều giờ đồng hồ, tạo đường lui an toàn cho đồng đội rút về căn cứ bí mật.
Cho đến khi viên đạn cuối cùng rời khỏi nòng súng, người con kiên trung của mảnh đất Hòa Vang ngã xuống dưới chân núi Non Nước, máu của anh thấm sâu vào lòng đất mẹ xứ Quảng. Năm ấy, anh mới tròn 24 tuổi – độ tuổi thanh xuân rực rỡ nhất.
Chiến tranh lùi xa, Đà Nẵng hôm nay vươn mình thành một thành phố trẻ trung, tráng lệ bên bờ biển Đông. Con đường mang tên Liệt sĩ - Anh hùng Lực lượng Vũ trang Nhân dân Lê Văn Hiến nay tấp nập xe cộ ngược xuôi nối liền trung tâm phố thị với danh thắng Ngũ Hành Sơn. Dưới bóng râm mát rượi của những rặng phi lao ven biển, câu chuyện về người anh hùng tuổi hoa lửa đã hóa thân vào từng ngọn núi, từng tấc đất quê hương vẫn mãi là một khúc tráng ca bất tử của lòng quả cảm xứ Quảng.



