Lê Văn Hoanh (1899-1987)
Ông Lê Văn Hoanh sinh năm 1899, quê làng Hoà An, quận Cao Lãnh, tỉnh Sa Đéc (nay là thành phố Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp). Cha ông là Lê Văn Đáng, bạn tâm giao của cụ Phó bảng Nguyễn Sinh Sắc. Hai anh ruột là Lê Văn Sao (cũng hoạt động với Nguyễn Ái Quốc ở Pháp) và Lê Văn Lăng, đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam từ năm 1930.
Lớn lên trong gia đình cách mạng, từ năm 1930, ông hoạt động trong tổ chức Cứu tê đó Sài Gòn, vận động công chức và giúp đỡ các đảng viên ở Bình Thành, Mỹ Hưng bị lộ, tạm lãnh lên Sài Gòn, như Tư Mé. Mười Giái, Sáu Khương. Năm Yên...
Tháng 8/1945, ông tham gia phong trào Thanh niên Tiên phong ở Sài Gòn. Đi vào cuộc kháng chiến chồng Pháp, ông về Sa Đéc, làm Phó Giám đốc Quốc gia tự vệ cuộc (Công an) Sa Đéc. Tháng 3/1946 ông là Chủ tịch Uỷ ban Kháng chiên Hành chánh tỉnh Long Xuyên. Đên tháng 3/1948 sáp nhập hai tỉnh Châu Đốc, Long Xuyên, ông là Tỉnh uỷ viên, Chủ tịch Uỷ ban Kháng chiến Hành chánh tỉnh Long Châu Tiên. Tháng 5/1952, ông được điều lên làm Phó Giám đốc Sở Ngân khô Nam Bộ. Đền tháng 4/1953, ông làm Chủ tịch Mặt trận Liên Việt tỉnh Long Châu Sa cho đền đình chiến tháng 7/1954-
Không tập kết ra Bắc, ông về Sài Gòn hoạt động bí mật, là cán bộ phụ trách vận động tài chính của Tình uỷ An Giang tại Sài Gòn và Nam Vang (Phnôm Pênh). Cuối năm 1960, ông là Uỷ viên Uỷ ban Mặt trận Dân tộc Giải phóng tỉnh An Giang, kiêm Phó ban Tài chính tỉnh. Tháng 11/1967, ông được điều động về Khu làm cán bộ phụ trách Đảng vụ Ban Kinh Tài khu Trung Nam Bộ. Do bệnh nhiều, sức khoẻ kém, tháng 10/1970, ông về an dưỡng và hoạt động hợp pháp ở Sài Gòn, làm nhiệm vụ vận động tài chính và tiếp liệu. Ngày 28/3/1973, ông bị giặc bắt tra tấn dã man, song ông vẫn giữ tròn
1 Phnôm Pênh thủ đô Vương quốc Campuchia.
khi tiết người cộng sản, không khai báo làm lộ tổ chức. Địch kết án ông 30 tháng tù và giam ở khám Chí Hoà. Ngày 30/4/1975, ta giải phóng Sài Gòn, ông ra khỏi nhà tù và được đưa về Ban Kinh Tài khu Trung Nam Bộ. Tháng 02/1976 Khu giải thế, ông được bồ trí về Uỷ ban Kinh tê tỉnh Đồng Tháp và nghỉ hưu năm 1986. Quá trình hoạt động cách mạng của ông đã được tặng thưởng Huân chương Độc lập hạng Nhì, Huân chương Kháng chiến chồng Pháp hạng Nhất, Huân chương Kháng chiến chồng Mỹ hạng Nhất, Huân chương Quyết thắng hạng Nhật. Năm 1987, ông qua đời, hưởng thọ 88 tuổi.



