LÊ VĂN HUỲNH - LÁ THƯ CÒN LẠI SAU 81 NGÀY ĐÊM KHÓI LỬA THÀNH CỔ QUẢNG TRỊ

Lê Văn Huỳnh - Lá thư từ Thành Cổ, khúc tráng ca về lòng yêu nước.
Quảng Trị là mảnh đất đã đi qua những năm tháng chiến tranh vô cùng khốc liệt. Trong mùa Hè đỏ lửa năm 1972, Thành cổ Quảng Trị trở thành một trong những chiến trường ác liệt nhất. Giữa bom đạn, biết bao người lính đã chiến đấu và hy sinh khi tuổi đời còn rất trẻ. Trong số đó có liệt sĩ Lê Văn Huỳnh – một người lính đã để lại một lá thư đặc biệt, trở thành kỷ vật lịch sử xúc động về một thế hệ đã hiến dâng tuổi thanh xuân cho Tổ quốc.
Lê Văn Huỳnh quê ở huyện Kiến Xương, tỉnh Thái Bình. Năm 1972, khi đang là sinh viên năm thứ tư, anh tạm gác giảng đường để lên đường nhập ngũ, vào chiến trường Quảng Trị. Anh được phân công làm nhiệm vụ công binh, tham gia đưa bộ đội và hàng hóa qua sông Thạch Hãn – nơi bom đạn của chiến tranh ngày đêm trút xuống.
Trong những ngày tháng khốc liệt ấy, Huỳnh vẫn thường xuyên viết thư về gia đình. Nhưng ngày 11/9/1972, anh viết một lá thư khác thường. Đó không còn đơn thuần là một lá thư thăm hỏi mà giống như những lời dặn dò cuối cùng của một người lính đã linh cảm về sự hy sinh của mình.
Anh viết cho mẹ, cho anh chị em và đặc biệt là người vợ trẻ. Những dòng chữ giản dị chứa đựng tình yêu thương sâu sắc của một người con đối với mẹ, một người chồng đối với vợ và một người lính đối với quê hương, đất nước. Anh viết về khả năng mình sẽ “đi nghiên cứu bí mật trong lòng đất”, một cách nói bình thản nhưng khiến người đọc hôm nay không khỏi nghẹn ngào. Trong thư anh viết:
“Quảng Trị, ngày 11-9-1972
Toàn gia đình kính thương!
Hôm nay con ngồi đây biên vài dòng chữ cuối cùng, phòng khi đã "đi nghiên cứu bí mật trong lòng đất", thì gia đình khỏi thấy đó là điều đột ngột.
Mẹ kính mến! Thư này tới mẹ là con đã đi xa rồi. Chắc mẹ đau buồn lắm. Lớn lên trong vòng tay mẹ từ khi còn trứng nước, chưa kịp báo đáp công ơn sinh thành to lớn đó của mẹ, thì đứa con út của mẹ đã phải đi thăm bố con rồi. Thư này tới tay mẹ chắc mẹ buồn lắm… Lòng mang nặng đẻ đau giọt máu đào hơn ao nước lã, lá vàng còn ở trên cây mà lá xanh rụng xuống. Trời ơi hỡi trời… con của mẹ đã đi xa, để lại cho mẹ nỗi buồn nhất trên đời.
Con rất hiểu đời mẹ đã khổ nhiều, nay bao kì vọng nuôi con khôn lớn, xong vì đất nước có chiến tranh, thì mẹ ơi, hãy lau nước mắt cho đời trẻ, hãy sống đến ngày đón mừng chiến thắng. Con đi, mẹ ở lại trăm tuổi bạc đầu. Coi như con lúc nào cũng ở bên mẹ, mẹ đừng buồn cho linh hồn con thoải mái bay đi…Thôi nhé, mẹ đừng buồn, coi như con đã sống trọn đời cho Tổ quốc mai sau.”
Em yêu thương. Mọi lá thư đến với em đều là nguồn động viên em khi xa anh. Song, lá thư này đến tay em sẽ là nỗi buồn lớn nhất…Chúng ta sống với nhau chưa được bao lâu, thì chiến tranh đã cướp đi của em biết bao yêu thương, trìu mến. Người ta lấy chồng thì được chiều chuộng mọi điều. Em chưa được hưởng diễm phúc ấy đã phải xa anh…
Sau này hòa bình lập lại, nếu có điều kiện vào Nam, hãy mang hài cốt anh về. Đường đi như sau: Đi tàu vào thị xã Quảng Trị, qua sông Thạch Hãn là nơi anh đã hy sinh khi đưa hàng qua sông vào ngày 2-1-1973. Từ thị xã qua cầu, ngược trở lại, hỏi thăm thôn Nhan Biều. Em cứ đi đến đó, tính xuôi theo dòng nước thì ở cuối làng. Đến đó sẽ tìm thấy tấm bia ghi tên anh đục trên mảnh tôn. Mộ anh ở đó… Em sẽ đọc lá thư này cho mọi người trong gia đình nghe trong buổi lễ truy điệu anh. Cho anh gửi lời chúc sức khỏe tất cả những người quen thuộc trên quê hương trong buổi truy điệu lịch sử này….
Thôi nhé, mẹ đừng buồn, coi như con đã sống trọn đời cho Tổ quốc mai sau.”
Điều đặc biệt nhất trong lá thư là Huỳnh đã để lại những chỉ dẫn về nơi anh có thể nằm xuống. Anh dặn người vợ rằng nếu sau này đất nước hòa bình, hãy vào Quảng Trị tìm anh. Những thông tin trong lá thư về địa điểm chiến đấu, dòng sông Thạch Hãn và khu vực chôn cất sau này trở thành manh mối quan trọng trong hành trình tìm kiếm hài cốt của anh.
Chùm ảnh tư liệu
Ảnh tư liệu của bài viết.
Ngày 2/1/1973, Lê Văn Huỳnh hy sinh. Lá thư anh viết ngày 11/9/1972 đã trở thành lời tiễn biệt mà lúc viết ra, có lẽ chính anh cũng không biết sẽ ám ảnh gia đình và những người đọc nó suốt nhiều thế hệ.
Gần 30 năm sau, gia đình vẫn không ngừng tìm kiếm. Đến năm 2002, dựa vào những chỉ dẫn trong lá thư và quá trình tìm kiếm tại Quảng Trị, gia đình đã tìm được hài cốt của anh. Một điều khiến câu chuyện càng trở nên đặc biệt là những thông tin anh viết từ chiến trường nhiều năm trước đã giúp người thân có thêm căn cứ để tìm lại người chồng, người con đã nằm lại trên mảnh đất Quảng Trị.
Ngày nay, lá thư của liệt sĩ Lê Văn Huỳnh được lưu giữ tại Bảo tàng Thành cổ Quảng Trị. Theo tư liệu của Bộ Tư lệnh Bảo vệ Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh, đây là một trong những hiện vật nổi bật của bảo tàng, cùng với lá thư của liệt sĩ Lê Binh Chủng.
Điều làm người đọc xúc động không chỉ là câu chuyện về một người lính đã hy sinh, mà còn là cách anh đối diện với sự sống và cái chết. Ở tuổi đời còn rất trẻ, phía trước đáng lẽ là giảng đường, gia đình và một tương lai rộng mở. Thế nhưng khi Tổ quốc cần, anh đã lựa chọn lên đường. Trong những dòng thư cuối cùng, anh vẫn nghĩ đến mẹ, đến người vợ trẻ và ngày đất nước thống nhất.
Lê Văn Huỳnh không phải một vị tướng hay một nhân vật giữ chức vụ lớn trong lịch sử. Anh chỉ là một người lính trẻ giữa hàng vạn người con đất Việt đã bước vào chiến tranh. Nhưng chính sự bình dị ấy lại khiến câu chuyện của anh trở nên gần gũi và lay động. Một con người bình thường đã làm một điều phi thường: đem tuổi trẻ và sự sống của mình góp vào sự nghiệp giải phóng dân tộc.
Hơn nửa thế kỷ đã trôi qua, chiến tranh đã lùi xa. Thành cổ Quảng Trị hôm nay đã trở thành nơi tưởng niệm những người đã hy sinh. Dòng Thạch Hãn vẫn chảy qua vùng đất năm xưa, còn lá thư của Lê Văn Huỳnh vẫn được lưu giữ như một tiếng nói từ quá khứ.
Đọc lá thư ấy, thế hệ hôm nay không chỉ nhớ đến một người lính tên Lê Văn Huỳnh, mà còn nhớ đến cả một thế hệ thanh niên đã gác lại những ước mơ riêng để đi theo tiếng gọi của Tổ quốc. Sự hy sinh của họ nhắc nhở chúng ta rằng hòa bình hôm nay được đánh đổi bằng máu xương, tuổi trẻ và những cuộc chia ly không ngày trở lại.
Có lẽ đó cũng chính là giá trị lớn nhất mà Lê Văn Huỳnh để lại. Anh nằm lại trên đất Quảng Trị, nhưng những dòng chữ anh viết hơn nửa thế kỷ trước vẫn còn sống mãi. Lá thư ấy đã vượt qua thời gian, trở thành một câu chuyện lịch sử về lòng yêu nước, tình gia đình và sự hy sinh cao cả của người lính Việt Nam trong cuộc đấu tranh giành độc lập, thống nhất đất nước.
:::



