Lê Văn Nhuận
Lê Văn Nhuận
Vẻ đẹp tinh thần yêu nước của con người Việt Nam được thể hiện qua câu nói “ chúng ta chịu được không phải vì chúng ta gang thép, vì gang thép cũng cháy với bom đạn của chúng, mà chính chúng ta là con người, con người thực sự, con người Việt Nam với truyền thống 4000 năm đã giác ngộ sâu sắc trách nhiệm trọng đại trước Tổ quốc, trước thời đại”. Đây là câu nói thể hiện ý chí sắt đá, vẻ đẹp kiên cường bất khuất của người Việt của cố tổng bí thư Lê Duẩn. Đối với ông, “ gang thép cũng cháy với bom đạn” – thứ đáng nhẽ ra phải cứng nhất, bền bỉ nhất lại bị bào mòn bởi lửa cháy của bom đạn, chiến tranh tàn phá. Nhưng, “ con người” tưởng chừng mong manh lại là mang một sức mạnh ghê gớm – bất khuất, kiên cường đến lạ thường. Bởi chúng ta là con người – người Việt với tình yêu nước nồng nàn, không bị hoen gỉ bởi thời gian, không những bị thiêu đốt bởi lửa cháy của chiến tranh bom đạn, mà chính thứ lửa tà ác đó lại tôi luyện thêm tinh thần sắt đá, kiên chung của người Việt.
Phải yêu và hiểu nhân dân đến mức nào thì mới có thể nhận định được điều đó. Trong dòng chảy 4000 năm lịch sử, Tổng bí thư Lê Duẩn dường như không tách con người hiện tại rời khỏi lịch sử. Ông đặt mỗi chiến sĩ, mỗi người dân vào dòng chảy văn hiến đó. Chính vì điều đó, trong dòng chảy huy hoàng của lịch sử cách mạng Việt Nam thế kỷ XX, bên cạch Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại là một cố tổng Bí thư sáng rực như một biểu tượng của ý chí thống nhất và tư duy chiến lược sắc bén. Với hơn 60 năm hoạt động cách mạng, trong đó có 26 năm liên tục giữ cương vị lãnh đạo cao nhất của Đảng, ông đã để lại những dấu ấn không thể phai mờ trong sự nghiệp giải phóng dân tộc và xây dựng đất nước.
Tổng Bí thư Lê Duẩn (tên thật là Lê Văn Nhuận) sinh năm 1907 tại mảnh đất Quảng Trị giàu truyền thống yêu nước. Giác ngộ cách mạng từ rất sớm, ông gia nhập Đảng Cộng sản Đông Dương vào năm 1930. Quãng đời hoạt động của ông là một minh chứng cho sự kiên trung bất khuất. Trong suốt 10 năm bị giam cầm tại các "địa ngục trần gian" như Sơn La, Côn Đao, ông không những không gục ngã mà còn biến nhà tù thành trường học cách mạng. Những năm tháng bị xiềng xích đã tôi luyện nên một Lê Duẩn có bản lĩnh gang thép, một người cộng sản "đầu đội trời chân đạp đất", sẵn sàng hy sinh vì lý tưởng độc lập dân tộc.
Sau Cách mạng Tháng Tám thành công, Chính phủ lâm thừi đã cử tàu ra Côn Đảo đón các chiến sĩ cách mạng trở về. Tháng 9 năm 1945, ông trở về đất liên, sự xuất hiện của ông tại Nam Bộ lúc bây giờ như một luồng sinh khí mới cho phong trào cách mạng địa phương, vốn đang rất cần những lãnh đạo có tầm vóc và kinh nghiệm. Trong bối cảnh lực lượng vũ trang tại Nam Bộ còn phân tán, ông đã khéo léo vận động, tập hợp các nhóm yêu nước khác nhau dưới ngọn cờ của Việt Minh, tạo nên sức mạnh đoàn kết cho cuộc kháng chiến trường kì.
Từ thực chiến khốc liệt của chiến trường, ông đã soạn thảo bảo “ Đề cương Cách mạng miền Nam”. Đây là một văn kiện lịch sử quan trọng, làm cơ sở cho Nghị quyết 15 của Trung ương Đảng, xoay chuyển từ đấu tranh chính trị đơn thuần sang kết hợp đấu tranh vũ tranh. Chính tư tưởng duy “ bạo lực cách mạng” và “ thế trận lòng dân” của ông đã khơi dậy ngọn lửa Đồng khởi, tạo tiền đề để miền Nam đi từ thế giữ gìn lực lượng sang thế tiến công mạnh mẽ. Đây là văn kiện quan trọng – là kim chỉ nam giải tỏa mọi vế tắc của phong trào cách mạng miền Nam trong những năm tháng đen tối nhất sau Hiệp định Giơ – ne – vơ. Bản đề cương đề ra ba nội dung cốt lõi và để trả lời cho câu hỏi lớn nhất lúc bầy giờ: “ làm thế nào để miền Nam không bị tiêu diệt? “. Điều thứ nhất là xác định kẻ thù: ông chỉ rõ đế quốc Mỹ và chính quyền tay sau là kẻ thù trực tiếp. Bản chẩt của chúng là dùng bạo lực phản cách mạng để cai trị. Điều thứ hai là con đường bạo lực cách mạng: đây chính là điểm đột phá nhất. Cố tổng bí thư Lê Duẩn đã khẳng định mạnh mẽ “ con đường chống lại bạo lực phản cách mạng, con đường duy nhất của nhân dân miền Nam là con đường bạo lực cách mạng”. Và nếu không có bạo lực cách mạng và sức mạnh vũ trang tự về thì sẽ không thể có hòa bình. Cuối cùng đó chính là sức mạnh của quần chúng nhân dân, ông đã nhận mạnh việc kết hợp giữa đấu tranh chính trị cảu quần chúng với đấu tranh vũ trang, xây dựng thế trận lòng dân làm gốc. Trong lịch sử dân tộc, Nguyễn Trãi đã từng nói “ chở thuyền, lật thuyền cũng là dân”. Sự thịnh suy của một đất nước đều gắn liền với vai trò của nhân dân. Và thực vậy, để đánh đuổi giặc ngoại xâm, ta luôn luôn cần sự ủng hộ, đồng lòng giúp sức của nhân dân. “ Một cây làm chẳng lên non/ Ba cây chụm lại lên hòn núi cao” chỉ cần quân và dân đồng lòng dù cho kẻ thù có xảo quyệt, nguy hiểm đến đâu rồi cũng sẽ bị đánh bại. Và suy cho cùng, thế trận lòng dân mãi là thế trận vững chắc nhất, là nền tảng cho tất cả các quyết sách sau cùng. Từ con mắt tinh tường, sự chỉ đạo sát sao của ông là tiền đề mang tính khai phá về tư duy chiến lược sau này. Bản đề cương là tiền đề cho Nghị quyết 15 – nghị quyết cho phép miền Nam sử dụng vũ trang để đánh địch. Hơn thế nữa, bản đề cương như ngọn lửa Đồng khởi đã bùng cháy từ Bến Tre lan ra khắp miền Nam, chuyển cách mạng từ thế giữ gìn lực lượng sang thế tiến công. Tất cả đã chứng minh được tầm vóc lý luận của Lê Duẩn khi ông không rập khuân máy móc theo bất khì mô hình nào, mà dựa trên đặc điểm riêng biệt của xã hội miền Nam lúc bấy giờ.
Những thành tựu mà cố Tổng Bí thư Lê Duẩn để lại không chỉ là những con số hay sự kiện khô khan, mà chúng mang những ý nghĩa sống còn, định hình diện mạo đất nước Việt Nam. Những công lao đóng góp của ông đã một phần nào đó trả lại cho dân tộc Việt Nam một hình hài trọn vẹn. Không còn ranh giới quân sự, không còn cảnh “một nước hai chế độ” đối đầu. Đây là nền tảng pháp lý và thực tế cao nhất để chúng ta tập trung phát triển kinh tế mà không phải lo sợ bị chia cắt một lần nào nữa. Bản Đề cương Cách mạng miền Nam và các quyết sách trong chiến tranh đã khẳng định tầm vóc trí tuệ Việt Nam trên trường quốc tế. Ông đã chứng minh rằng một dân tộc nhỏ, nếu có chiến lực đúng đắn và biết dựa vào sức mạnh nội tại để giành lại chủ quyền của dân tộc.
Nếu coi lịch sử Việt Nam hiện đại là một bản nhạc, thì Tổng Bí thư Lê Duẩn chính là người việt nên những nốt nhạc cao trào và quyết liệt nhất. Ông dám nhận lấy trách nhiệm vào những thời khắc "ngàn cân treo sợi tóc", và dám kiên định với con đường mình đã chọn cho đến khi non sông thu về một mối. Lịch sử có thể có những khoảng lặng, nhưng những bước chân khổng lồ của những nhà lãnh đạo như Lê Duẩn đã tạc vào vách đá thời gian những dấu ấn không thể lu mờ.



