Khác

Lê Văn Thiêm – rời ghế giáo sư ở Zürich, đi bộ sáu tháng về Việt Bắc

Năm 1949, khi một sự nghiệp toán học quốc tế đang rộng mở, Lê Văn Thiêm bí mật trở về nước. Từ Nam Bộ, ông đi bộ suốt sáu tháng ra Việt Bắc để xây dựng những lớp đại học đầu tiên của nước Việt Nam mới.

An Giang25/08/2026Chi Đoàn trường TH&THCS Nguyễn Du (Tuy Đức)4 lượt xem0 lượt chia sẻ

Năm 1949, Lê Văn Thiêm đứng trước một lựa chọn mà rất ít nhà khoa học trẻ có cơ hội được cân nhắc.

Ông vừa bảo vệ thành công luận án tiến sĩ quốc gia tại Pháp với những kết quả nghiên cứu được giới toán học quốc tế đánh giá cao. Đại học Zürich của Thụy Sĩ dành cho ông một vị trí giáo sư. Trước mắt nhà toán học 31 tuổi là phòng làm việc đầy đủ tài liệu, những đồng nghiệp hàng đầu và con đường rộng mở để tiếp tục nghiên cứu tại châu Âu.

Nhưng cũng trong năm ấy, quê hương ông đang ở giữa cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp.

Cuối năm 1949, Lê Văn Thiêm rời bỏ con đường công danh vừa mở ra để bí mật trở về Việt Nam. Ông không trở lại bằng một chuyến đi thẳng tới Hà Nội. Từ châu Âu, ông đến Bangkok, qua Campuchia rồi vào vùng kháng chiến Nam Bộ.

Một nhà toán học từng làm việc tại những trường đại học danh tiếng của châu Âu bắt đầu cuộc sống mới giữa chiến khu còn thiếu thốn đủ bề.

Lê Văn Thiêm sinh ngày 29 tháng 3 năm 1918 tại làng Trung Lễ, huyện Đức Thọ, tỉnh Hà Tĩnh. Ông là người con út trong một gia đình có 13 người con và giàu truyền thống hiếu học, yêu nước. Cha ông, cụ Lê Văn Nhiễu, đỗ cử nhân nhưng không ra làm quan, ở quê dạy học và chữa bệnh. Chú ruột ông là Lê Văn Huân, một người tham gia phong trào yêu nước, mất trong nhà lao Vinh năm 1929. Người anh Lê Văn Luân hoạt động cách mạng và bị thực dân Pháp xử tử năm 1931.

Từ làng quê thường xuyên chịu hạn hán và lũ lụt, Lê Văn Thiêm vươn lên bằng con đường học tập. Năm 1939, nhờ đạt kết quả xuất sắc trong kỳ thi, ông được cấp học bổng sang Pháp. Năm 1941, ông thi đỗ vào École Normale Supérieure ở phố d’Ulm, một trong những cơ sở đào tạo khoa học danh tiếng nhất nước Pháp.

Sau khi tốt nghiệp, ông tiếp tục nghiên cứu tại Thụy Sĩ và Pháp, làm việc với những nhà toán học nổi tiếng như Rolf Nevanlinna, Georges Valiron và Oswald Teichmüller. Lĩnh vực ông theo đuổi là lý thuyết phân phối giá trị của hàm phân hình – một ngành nghiên cứu hiện đại và rất trừu tượng của toán học thế kỷ XX.

Năm 1947, công trình đầu tiên của Lê Văn Thiêm được công bố trên tạp chí Commentarii Mathematici Helvetici. Luận án năm 1949 của ông giải quyết một phần quan trọng của bài toán ngược trong lý thuyết Nevanlinna. Phương pháp do ông sử dụng về sau được những nhà toán học khác tiếp tục phát triển và kết quả của ông trở thành một nội dung kinh điển trong lĩnh vực này.

Tuy nhiên, Lê Văn Thiêm không xem thành công khoa học ở nước ngoài là đích đến cuối cùng.

Sau khi về Nam Bộ, ông gia nhập Đảng Cộng sản Đông Dương, làm việc tại Sở Giáo dục và tham gia đào tạo giáo viên cho vùng kháng chiến. Ít lâu sau, ông nhận nhiệm vụ ra chiến khu Việt Bắc để xây dựng nền giáo dục đại học của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.

Hành trình từ Nam Bộ ra Việt Bắc kéo dài sáu tháng, phần lớn bằng cách đi bộ. Đó là một khoảng cách rất xa trong điều kiện đất nước bị chia cắt bởi chiến tranh. Người đi phải vượt qua nhiều vùng kiểm soát, những con đường rừng và các khu vực thường xuyên bị quân Pháp lùng sục.

Ở châu Âu, Lê Văn Thiêm có thể bước vào giảng đường bằng những con đường lát đá của một thành phố đại học. Trên đường về Việt Bắc, ông phải mang theo kiến thức của mình qua từng chặng rừng núi.

Khi tới chiến khu, ông được giao làm Hiệu trưởng Trường Sư phạm cao cấp và Trường Khoa học cơ bản. Đây là những cơ sở đặt nền móng cho việc đào tạo giáo viên và cán bộ khoa học trình độ cao của chính quyền cách mạng.

Trường học giữa chiến khu không có những điều kiện mà ông từng sử dụng ở Pháp và Thụy Sĩ. Tài liệu chuyên môn rất ít, giấy viết khan hiếm, nơi học có thể phải di chuyển để tránh những cuộc càn quét. Nhưng các lớp học vẫn được tổ chức. Giữa cuộc kháng chiến, một thế hệ sinh viên bắt đầu tiếp cận toán học và khoa học hiện đại ngay trên lãnh thổ của nước Việt Nam độc lập.

Công việc ấy có ý nghĩa lâu dài hơn một công trình nghiên cứu riêng lẻ. Lê Văn Thiêm không chỉ mang về một học vị; ông mang về phương pháp tư duy, tiêu chuẩn nghiên cứu và kinh nghiệm đào tạo mà mình đã tiếp thu tại những trung tâm khoa học hàng đầu châu Âu.

Sau khi hòa bình được lập lại ở miền Bắc, ông làm Giám đốc Trường Đại học Sư phạm Khoa học Hà Nội trong giai đoạn 1954–1956, rồi giữ chức Phó Hiệu trưởng Trường Đại học Tổng hợp Hà Nội từ năm 1957 đến năm 1970. Ông tiếp tục đào tạo những lớp sinh viên trở thành lực lượng nòng cốt của ngành toán học Việt Nam.

Đối với Lê Văn Thiêm, toán học không chỉ tồn tại trên trang giấy. Năm 1964, ông và các học trò vận dụng phương pháp toán học để tính toán nổ mìn buồng tại mỏ đá Núi Voi, lấy đá phục vụ xây dựng Khu gang thép Thái Nguyên. Năm 1966, nhóm nghiên cứu phối hợp với cơ quan kỹ thuật quốc phòng lập bảng tính toán nổ mìn làm đường. Trong hai năm 1966–1967, toán học tiếp tục được dùng để tính phương án nổ mìn định hướng, nạo vét kênh Nhà Lê từ Thanh Hóa đến Hà Tĩnh, phục vụ giao thông thời chiến.

Những bài toán vốn rất trừu tượng đã được đưa tới công trường, tuyến đường và dòng kênh đang phục vụ đất nước.

Lê Văn Thiêm còn tham gia xây dựng chiến lược phát triển toán học lâu dài, trở thành người lãnh đạo đầu tiên của Viện Toán học và Chủ tịch đầu tiên của Hội Toán học Việt Nam. Ông cũng là Tổng biên tập đầu tiên của các tạp chí toán học chuyên ngành do Việt Nam xuất bản.

Năm 1996, ông được truy tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh về khoa học và công nghệ trong đợt trao giải đầu tiên.

Cuộc đời Lê Văn Thiêm có thể được ghi lại bằng những công trình, chức vụ và giải thưởng. Nhưng hình ảnh có sức gợi lớn nhất vẫn là nhà toán học trẻ rời bỏ vị trí giáo sư ở Zürich, bí mật trở về một đất nước đang có chiến tranh rồi đi bộ suốt sáu tháng để tới Việt Bắc.

Ông đã lựa chọn không chỉ nghiên cứu toán học cho riêng mình, mà xây dựng một nền toán học cho đất nước. Từ những lớp học giữa chiến khu, nhiều thế hệ nhà khoa học Việt Nam đã trưởng thành; học trò của ông tiếp tục đào tạo những thế hệ kế tiếp. Con đường sáu tháng năm ấy vì thế đã kéo dài qua nhiều thập niên trong lịch sử giáo dục và khoa học Việt Nam.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn