LÊ VĂN THỌ – ANH HÙNG QUÂN ĐỘI ĐẦU TIÊN CỦA MIỀN ĐÔNG NAM BỘ.
Trong lịch sử kháng chiến chống thực dân Pháp ở Nam Bộ, có những con người xuất thân rất đỗi bình dị nhưng lại làm nên những chiến công khiến kẻ thù phải kinh hoàng. Một trong số đó là Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân Lê Văn Thọ, người con của vùng đất Gò Vấp, người đã chỉ huy trận đánh kho bom An Hội trong khu vực sân bay Tân Sơn Nhất năm 1952, một trận đánh vang dội, làm chấn động cả bộ máy quân sự Pháp ở Đông Dương. Tên tuổi của ông từng được xướng lên tại Đại hội Anh hùng Chiến sĩ thi đua toàn quốc lần thứ hai, tổ chức tại Hà Nội vào tháng 5 năm 1955.
Trong số những anh hùng tiêu biểu của miền Nam được tuyên dương khi ấy chỉ có ba người: Anh hùng Đinh Núp, đại diện cho Tây Nguyên; Anh hùng Sơn Ton, đại diện cho Nam Bộ; và Anh hùng Lê Văn Thọ, đại diện cho miền Đông Nam Bộ. Cùng thời điểm đó, nhiều anh hùng liệt sĩ nổi tiếng như Mạc Thị Bưởi, Bế Văn Đàn, Phan Đình Giót, Ngô Mây, Trần Cừ, Chu Văn Mùi, Phùng Văn Khầu, Hoàng Ngân cũng được truy tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân. Đối với chàng trai sinh ra từ một làng hoa ven đô Sài Gòn, đó là niềm vinh dự lớn lao, nhưng cũng là sự ghi nhận xứng đáng cho cả một tuổi trẻ đã dành trọn cho chiến trường. Lê Văn Thọ, thường gọi là Muối, sinh năm 1932 tại vùng Gò Môn, thuộc xã Thạnh Lộc, quận Gò Vấp cũ, nay thuộc Thành phố Hồ Chí Minh. Ông lớn lên trong không khí sục sôi của phong trào yêu nước. Vùng An Phú Đông – Thạnh Lộc khi ấy là địa bàn hoạt động mạnh của cách mạng, nên từ rất nhỏ, Thọ đã được giao nhiệm vụ cảnh giới, đưa đón cán bộ và bảo vệ các hầm bí mật trong gia đình.
Năm 1945, khi mới 13 tuổi, ông đã trở thành liên lạc viên của Thanh niên Tiền phong xã. Những chuyến đi trong đêm, những lần len lỏi qua mắt địch để đưa thư từ, tài liệu đã rèn luyện cho cậu bé ấy một bản lĩnh đặc biệt. Nhờ thông thuộc từng bờ mương, con rạch, lối tắt trong vùng, sau này ông trở thành một chiến sĩ trinh sát và chỉ huy xuất sắc. Sau Cách mạng Tháng Tám, thực dân Pháp quay trở lại xâm lược Nam Bộ. Cũng như bao thanh niên cùng thế hệ, Lê Văn Thọ rời mái trường để cầm súng chiến đấu. Đó là thế hệ của những con người ra trận bằng vũ khí thô sơ nhưng mang trong lòng một ý chí sắt đá: thà hy sinh tất cả chứ nhất quyết không chịu làm nô lệ.
Cuối năm 1945, trước tình hình chiến sự ngày càng ác liệt, Tỉnh ủy Gia Định chủ trương xây dựng căn cứ kháng chiến ngay sát Sài Gòn. An Phú Đông và Thạnh Lộc được lựa chọn vì địa hình đặc biệt. Vùng đất này nằm lọt giữa sông Sài Gòn và Rạch Cát, giống như một cù lao rộng khoảng 10 km², với hệ thống sông rạch, vườn cây, bờ bao và mương nước chằng chịt. Từ đây có thể dễ dàng liên lạc với Hóc Môn, Thủ Đức, Dĩ An, Bình Hòa và nhiều vùng phụ cận. Sau ngày 5 tháng 10 năm 1945, nhiều cơ quan quân sự, chính trị của Gia Định, Gò Vấp cùng các tổ chức kháng chiến đã chuyển về đây hoạt động. Người dân An Phú Đông và Thạnh Lộc nhường những căn nhà tốt nhất cho cán bộ ở và làm việc. Thanh niên tham gia canh gác. Phụ nữ lo tiếp tế. Công nhân từ Sài Gòn liên tục tìm về căn cứ. Các công sự, giao thông hào và ụ chiến đấu được đào khắp nơi.
Đến ngày 25 tháng 12 năm 1945, Chiến khu An Phú Đông chính thức được thành lập. Từ đây, vùng đất nhỏ bé bên bờ sông Sài Gòn trở thành căn cứ đầu não của phong trào kháng chiến ở ngoại vi thành phố. Chính nơi ấy đã hun đúc nên bản lĩnh của Lê Văn Thọ, từ một cậu bé liên lạc trở thành người lính gan dạ của quân dân Gia Định. Ngày 1 tháng 3 năm 1946, Chi đội 6 Vệ quốc đoàn, đơn vị chủ lực của tỉnh Gia Định, chính thức ra đời tại Chiến khu An Phú Đông.
Lê Văn Thọ tham gia ngay từ những ngày đầu. Từ một liên lạc viên, ông dần trưởng thành qua các vị trí tiểu đội trưởng bộ đội địa phương Gò Vấp, rồi trung đội trưởng Đại đội 1 thuộc Trung đoàn 5, trực tiếp chỉ huy và tham gia nhiều trận đánh lớn tại khu vực Gia Định. Trong các trận chiến đấu bảo vệ Chiến khu An Phú Đông, ông luôn có mặt ở những nơi ác liệt nhất. Từ cầu Bến Phân, sông Bến Cát, cầu Đình cho đến các trận chống càn quy mô lớn của quân Pháp, tên tuổi Lê Văn Thọ ngày càng được đồng đội tin tưởng. Ông không chỉ gan dạ mà còn rất am hiểu địa hình, biết cách tổ chức trinh sát, chọn thời điểm tiến công và rút lui an toàn. Năm 1952, tỉnh Gia Định mở Chiến dịch Hòa Bình.
Một nhiệm vụ đặc biệt được giao cho Lê Văn Thọ. Mục tiêu là kho bom An Hội nằm trong khu vực sân bay Tân Sơn Nhất, một trong những kho bom quan trọng của quân Pháp tại Nam Bộ. Đây là mục tiêu được địch bảo vệ cực kỳ nghiêm ngặt. Bao quanh kho bom là nhiều lớp hàng rào dây thép gai, bãi mìn dày đặc, đường tuần tra liên tục, hệ thống đèn pha chiếu sáng suốt đêm. Bên ngoài còn có một con mương sâu cắm đầy chông sắt, cùng lực lượng lính Âu – Phi canh gác thường trực. Muốn tiếp cận được kho bom gần như là điều không tưởng. Nhưng với kinh nghiệm của một người sinh ra, lớn lên và hoạt động ngay trên chính vùng đất này, Lê Văn Thọ quyết định nhận nhiệm vụ. Suốt bốn tháng liền, ông cùng đồng đội bí mật điều tra, ghi chép quy luật tuần tra, nghiên cứu từng vị trí gác và từng lối ra vào. Mọi bước đi đều phải tuyệt đối bí mật, bởi chỉ một sơ suất nhỏ cũng có thể khiến cả tổ trinh sát hy sinh.
Đêm 20 tháng 3 năm 1952, Lê Văn Thọ cùng một đồng đội bí mật đột nhập thành công vào trung tâm kho bom. Khối thuốc nổ được đặt vào vị trí hiểm yếu nhất. Sau khi rút ra an toàn, mìn được kích hoạt. Một tiếng nổ khủng khiếp vang lên, làm mặt đất rung chuyển. Lửa và khói bốc cao, toàn bộ khu vực sân bay chìm trong biển lửa. Vụ nổ lớn đến mức người dân nhiều nơi trong thành phố Sài Gòn đều nhìn thấy cột khói khổng lồ bốc lên từ phía Tân Sơn Nhất.
Theo tài liệu thống kê thời bấy giờ, trận đánh đã tiêu diệt hơn 180 lính địch, phá hủy 700 quả bom, làm cháy rụi 16 dãy nhà kho, san phẳng 3 tháp canh và phá hủy một khẩu đại bác. Trận đánh kho bom An Hội trở thành một trong những chiến công vang dội nhất của lực lượng vũ trang Gia Định trong thời kỳ chống Pháp. Chiến công ấy không chỉ gây tổn thất nặng nề cho quân Pháp mà còn làm nức lòng đồng bào Nam Bộ, cổ vũ mạnh mẽ phong trào chiến đấu ngay trong lòng địch. Sau trận đánh này, Lê Văn Thọ được tuyên dương là Chiến sĩ thi đua toàn quốc. Sau Hiệp định Genève năm 1954, Lê Văn Thọ tiếp tục phục vụ trong quân đội.
Năm 1955, ông được điều động ra Bắc và giữ chức Đại đội phó Đại đội 2, Tiểu đoàn 5 thuộc Quân khu Tả Ngạn. Ngày 31 tháng 8 năm 1955, Chủ tịch nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ký quyết định phong tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân cho Lê Văn Thọ. Những năm sau đó, ông tiếp tục công tác trong quân đội với nhiều nhiệm vụ khác nhau, từ giáo viên quân sự, trợ lý tham mưu Quân khu Tả Ngạn đến trợ lý nghiên cứu của D305. Dù đã là Anh hùng Lực lượng vũ trang, ông vẫn tiếp tục ra chiến trường khi đất nước bước vào cuộc kháng chiến chống Mỹ.
Năm 1969, trong khi chiến đấu tại mặt trận phía Nam của Quân khu 4, Lê Văn Thọ đã anh dũng hy sinh vào ngày 17 tháng 6 năm 1969. Ông ra đi khi mới 37 tuổi. Cuộc đời của ông không dài, nhưng gần như toàn bộ thời tuổi trẻ đều dành cho cách mạng, cho quân đội và cho chiến trường. Từ cậu bé liên lạc ở vùng đất An Phú Đông đến người chỉ huy trận đánh làm rung chuyển sân bay Tân Sơn Nhất, rồi trở thành Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân, cuộc đời Lê Văn Thọ là biểu tượng cho tinh thần bất khuất của quân dân Sài Gòn – Gia Định. Ngày nay, tên ông được đặt cho đường Lê Văn Thọ ở Gò Vấp, con đường dẫn vào vùng làng hoa nổi tiếng nơi ông từng sinh ra và lớn lên.
Chiến khu An Phú Đông năm xưa cũng đã trở thành địa chỉ đỏ giáo dục truyền thống với các văn bia, di tích và công trình tưởng niệm. Còn sân bay Tân Sơn Nhất, nơi từng chứng kiến trận đánh lịch sử của ông, giờ đây đã trở thành cửa ngõ hàng không lớn nhất Việt Nam. Nhưng mỗi khi nhắc đến những năm tháng đầu kháng chiến ở Sài Gòn – Gia Định, người dân vẫn nhớ đến người anh hùng của làng hoa Gò Vấp. Người chiến sĩ đã biến một kho bom kiên cố thành biển lửa. Người con của miền Đông Nam Bộ gian lao mà anh dũng. Và người đã để lại cho hậu thế một tấm gương sáng về lòng yêu nước, sự quả cảm và tinh thần sẵn sàng hy sinh vì độc lập dân tộc.


