Lê Vĩnh Hòa
Lê Vĩnh Hòa (tên khai sinh là Đoàn Thế Hối; 1932 - 1967) là liệt sĩ, nhà văn Việt Nam, được truy tặng Giải thưởng Nhà nước về Văn học Nghệ thuật năm 2001.
Lê Vĩnh Hòa tên thật là Đoàn Thế Hối, bút hiệu là Trần Bình, Trần Bàng, Nhị Anh, sinh ngày 6-10-1932 tại tỉnh Bình Định (nay là Gia Lai). Cha Lê Vĩnh Hòa tham gia phong trào cách mạng, do bị lộ, bị địch truy lùng nên phải cùng gia đình ly hương vào tỉnh Rạch Giá làm nghề dạy học. Năm 14 tuổi, Lê Vĩnh Hoà tham gia phong trào thiếu nhi cách mạng xã Ngọc Chúc, huyện Giồng Riềng và sau đó chuyển về tỉnh, phụ trách công tác thiếu nhi của Đoàn thanh niên Cứu quốc tỉnh Rạch Giá. Năm 1951, Lê Vĩnh Hòa công tác ở Văn phòng Ban Dân vận - Mặt trận Tỉnh ủy Sóc Trăng.
Sau 1954, ông ở lại chiến trường làm công tác thanh vận và viết văn. Năm 1955, ông là Ủy viên Ban Chấp hành Thị đoàn Sóc Trăng, vào học ở Trường Trần Văn và sau đó là Trường Bán công, vừa học vừa xây dựng cơ sở Đoàn trong thanh niên học sinh. Tốt nghiệp loại xuất sắc khi ra trường nên Lê Vĩnh Hòa được tham gia làm giáo viên dạy một số trường trung học tư thục và bán công ở thị xã Sóc Trăng. Tháng 5-1957, Lê Vĩnh Hòa được kết nạp vào Đảng Lao động Việt Nam. Ông bị địch bắt giam tháng 10 năm 1958, đến cuối năm 1963, ra khỏi nhà giam của giặc, tiếp tục hoạt động ở các chiến trường Cần Thơ, Sóc Trăng, Rạch Giá.
Ngày 7 tháng Giêng năm 1967, ông hy sinh trong một trận đánh lớn tại Xẻo Giá, xã Vĩnh Viễn, huyện Long Mỹ, tỉnh Hậu Giang (nay là xã Vĩnh Viễn, thành phố Cần Thơ).
Sống một cuộc đời ngắn ngủi, cầm bút trong khoảng thời gian ngắn, nhưng Lê Vĩnh Hòa đã để lại một phong cách văn chương đặc sắc, góp phần định hình nên phong cách văn chương Nam Bộ từ sau 1945.[4] Lê Vĩnh Hòa đã để lại cho đời trên 100 truyện ngắn, tùy bút, tiểu luận phê bình văn học; nhiều bài thơ cùng những tác phẩm còn dở dang và bao ước mơ, dự định của một nhà văn, một chiến sĩ cách mạng.
Ngay từ những trang viết đầu tay, Lê Vĩnh Hòa rất đã thông cảm với những số phận nghèo khổ và ghét kẻ bóc lột. Ông có những truyện ngắn rất xúc động về mảng này như: “Chiếc áo thiên thanh”; “Lúc chiều xuống”, “Nước cạn”,“Áo vải tim vàng”, “Dằn vặt”… đăng trên báo Quyền sống và một số tờ báo khác...
Nhiều tác phẩm của Lê Vĩnh Hòa được viết ngay trong đêm dưới ánh đèn dầu, hay viết ngay tại chiến hào, như: Truyện ngắn Nắng mùa xuân, Qua vườn măng, Khóa đít xe bọc thép, Băn khoăn chú Kiệt, Du kích Đông Phước, Mấy trang nhật ký bên chiến hào... Có thể nói, mỗi nơi Lê Vĩnh Hòa đến, dường như được in đậm nét trong các tác phẩm của ông.
Các sáng tác của Lê Vĩnh Hòa về đề tài cách mạng miền Nam, về chiến tranh nhân dân, trong đó có những tác phẩm viết về Chủ tịch Hồ Chí Minh như truyện “Chiếc phái”; hay những trang viết về cuộc chiến đấu hào hùng của quân và dân ta được thể hiện rất thành công như: “Sống với Đông Phước”; “Khóa đít xe bọc thép”; “Trông ra tiền tuyến”; “Đốm lửa Mặc Đây”; “Bà nội”; “Qua vườn măng”; “Nắng mùa xuân”...[5]
Lê Vĩnh Hòa được Nhà nước truy tặng Huân chương Kháng chiến hạng Nhất.
Năm 2001, ông được truy tặng Giải thưởng Nhà nước về Văn học Nghệ thuật với các tác phẩm: tập truyện ngắn Người tị nạn và Tuyển tập Lê Vĩnh Hòa.
Năm 2016, nhân dịp kỷ niệm 49 năm ngày mất của Lê Vĩnh Hòa, Nhà xuất bản Công an nhân dân xuất bản cuốn sách “Lê Vĩnh Hòa tuyển tập” như một lời tri ân, tưởng nhớ ông. Cuốn sách “Lê Vĩnh Hòa tuyển tập” dày 538 trang được chia làm 2 phần: phần 1 - Những tác phẩm viết trong vùng địch chiếm (1956 – 1958) gồm 30 truyện ngắn và 8 bài thơ; phần 2 – Những tác phẩm viết trong vùng giải phóng (1964 – 1966) gồm 33 truyện ngắn và 7 bài thơ.
Tác phẩm chính
Mái nhà thơ (truyện ngắn, 1964)
Người tị nạn (văn và thơ, 1973)
Tuyển tập Lê Vĩnh Hòa (1986)
Và đã in hơn 100 bài báo (truyện, ký, tiểu phẩm)
Lê Vĩnh Hòa tuyển tập (2016)
Khen thưởng
Huân chương Kháng chiến hạng Nhất
Vinh danh
Giải thưởng Nhà nước về Văn học Nghệ thuật năm 2001
Sau năm 1975, tên ông đã được đặt cho một con đường tại trung tâm thành phố Sóc Trăng và đặt tên Trường Trung học cơ sở Lê Vĩnh Hòa tại phường Sóc Trăng, Thành phố Cần Thơ. Thành phố Hồ Chí Minh cũng đặt tên ông cho con đường ở phường Phú Thọ Hòa. Tại phường Lý Văn Lâm, tỉnh Cà Mau cũng có con đường mang tên Lê Vĩnh Hòa.
Năm nay, đúng vào dịp kỷ niệm 45 năm ngày nhà văn Lê Vĩnh Hòa hy sinh, mấy người viết văn, làm báo chúng tôi có một cuộc gặp mặt để đàm đạo, gọi là để tưởng nhớ đến một nhà văn đàn anh có nhân cách lớn, được đồng nghiệp ngưỡng mộ.
Cùng xuất thân trong một gia đình, nhưng Đoàn Thế Hối, tên khai sinh của Lê Vĩnh Hòa, rất khác Đoàn Thế Nhơn, tên cúng cơm của Võ Phiến. Lê Vĩnh Hòa tham gia hoạt động cách mạng rất sớm, vào bộ đội, chịu đựng gian khổ, bị địch bắt, tra tấn dã man, dụ dỗ ngon ngọt, nhưng vẫn giữ tiết tháo của một người chiến sĩ; còn ông anh Võ Phiến cũng tham gia cách mạng nhưng không chịu được vất vả nên chạy vào vùng địch tạm chiếm, làm bồi bút, rồi dông tuốt sang Mỹ…
Cùng một gia đình nhưng thuở nhỏ Lê Vĩnh Hòa vào sống ở Rạch Giá. Chính ở đây anh được sống với bà con nông dân, ngư dân, hiểu được cảnh ngộ đói khổ, mất tự do của dân ấp dân lân trong cảnh giặc dã. Tác phẩm của Lê Vĩnh Hòa, với những bút ký, tản văn đầu tay đã đề cập đến thân phận nhỏ bé của người nông dân ở làng ấp miền Tây Nam Bộ. Chính tháng năm sống ở vùng quê giàu truyền thống cách mạng ấy, Lê Vĩnh Hòa đã thấy được sức mạnh tiềm tàng của nông dân…
Với Lê Vĩnh Hòa, bao giờ chúng tôi cũng dành cho anh tình cảm trân trọng như thế. Lê Vĩnh Hòa là nhà văn thứ hai sau Trần Hữu Trang hy sinh năm 1966, trong kháng chiến chống Mỹ, cứu nước ở miền Nam. Sau đó, đến các nhà văn, nhà thơ Nguyễn Thi, Lê Anh Xuân, Nguyễn Trọng Định, Trần Quang Long, Nguyễn Mỹ, Chu Cẩm Phong, Dương Thị Xuân Quý…
Tuy đứng về số lượng tác phẩm, Lê Vĩnh Hòa để lại chưa nhiều vì anh hy sinh sớm, nhưng những gì anh đã viết, luôn để cho hậu thế cảm phục. Đó là văn chương vì cuộc sống tự do, mơ ước hạnh phúc giản dị, cao cả của người lao động, đồng thời lên án mạnh mẽ hành động độc ác của bè lũ xâm lược và tay sai. Thời kỳ đen tối của cách mạng miền Nam, có một cây bút như vậy quả thực rất hiếm. Không ít người viết đã chạy vào vùng tạm chiếm, nhiều kẻ đã trở thành bồi bút cho kẻ thù để mong bảo toàn tính mạng và được sống sung túc. Lê Vĩnh Hòa trung thành với lý tưởng anh đã chọn. Chính trong thời kỳ đen tối ấy, Lê Vĩnh Hòa luôn tin vào chiến thắng của cách mạng.
Trong những năm tháng ở bộ đội, Bộ tư lệnh phân khu miền Tây đã dành cho cây bút trẻ Lê Vĩnh Hòa nhiều thời gian để viết báo, viết văn. Thời bấy giờ, sau Hiệp định Giơ-ne-vơ, chính quyền độc tài gia đình trị anh em họ Ngô khủng bố những người từng tham gia kháng chiến vô cùng dã man, lực lượng cách mạng phải phân tán, sống trong đói khát, bệnh tật. Lê Vĩnh Hòa viết hàng loạt tác phẩm, từ năm 1956 đến 1958 đã có hơn 50 truyện ngắn, bút ký đăng ở các báo Nhân loại, Bông lúa, Phụ nữ tân văn. Lê Vĩnh Hòa viết về những người nghèo khổ trong xã hội ấy. Đó là người phu khuân vác trong đêm Giao thừa vẫn nai lưng làm lụng để kiếm vài chục đồng bạc cho vợ con có bánh tết (truyện ngắn Lúc chiều xuống), một em bé chết oan vì ba má nghèo không có tiền mua thuốc chữa bệnh (truyện Thằng Bót). Sau khi thoát khỏi nhà tù Mỹ-ngụy, ra chiến khu, Lê Vĩnh Hòa trực tiếp đề cập đến vấn đề hết sức nghiêm trọng của cách mạng là để mất chính quyền sẽ trả giá bằng máu. Và, chính trong những ngày đen tối ấy, khi kẻ địch rêu rao trên các phương tiện thông tin rằng, rất nhiều người kháng chiến “về với chánh nghĩa quốc gia”, Lê Vĩnh Hòa đã cho ra mắt truyện ngắn đặc sắc “Người tỵ nạn”.
“Người tỵ nạn” kể về một cuộc mít tinh quảng bá những người kháng chiến tỵ nạn, về với “chánh nghĩa quốc gia”. Bằng ngôn ngữ, bút pháp trào lộng của Nam Bộ, Lê Vĩnh Hòa đã dựng nên chân tướng đám tay sai, kể cả tên Mỹ, cố vấn chương trình bình định, mỗi nhân vật chỉ cần vài câu văn ngắn đã hiện lên cả một chính quyền rệu rã, gian dối. Để rồi, chúng đã bị chính nhân dân vạch mặt, tên tỵ nạn chính là thằng đội mặt rỗ, thiếu tiền bún của một người đàn bà chưa trả. Màn kịch hạ với sự cảnh báo sụp đổ của chính quyền tay sai, đi ngược lại lợi ích của nhân dân.
Lê Vĩnh Hòa là cây bút thành danh rất sớm, có nhiều truyện ngắn, hàng trăm bút ký được đánh giá cao, nhưng trong cuộc sống hằng ngày ở trong chiến khu hay bưng biền, anh làm mọi việc như người chiến sĩ bình thường. Hồi đó, tuy cuộc sống gian khổ không thể nói hết, nhưng các cấp chỉ huy rất coi trọng công tác văn hóa, văn nghệ, hầu như năm nào cũng mở trại sáng tác văn học. Lê Vĩnh Hòa là người đến trại với tư cách đã là cây bút chuyên nghiệp, nhưng anh vẫn lặng lẽ, hằng ngày ngồi trong chòi lá cất bên dòng kênh ngầu đục phù sa để viết. Anh làm việc nghiêm túc vì luôn tâm niệm văn chương vốn cao quý, là vũ khí có sức chiến đấu vô cùng hiệu nghiệm. Viết xong, anh đưa anh em trong trại đọc giùm. Mỗi khi họp góp ý cho tác phẩm, anh lắng nghe, ghi chép tất cả nhận xét của anh em về tác phẩm của mình. Đức tính ấy của Lê Vĩnh Hòa đã khiến các nhà văn Anh Đức, Nguyễn Văn Bổng, Lý Văn Sâm cảm phục. Và, các cây bút trẻ lúc bấy giờ như Lê Văn Thảo, Chim Trắng, Chí Hiếu… học tập.
Xong một đợt dự trại, Lê Vĩnh Hòa lại xốc ba lô đến với những vùng quê đang bị giặc càn quét. Ở đây, anh sống chan hòa với bà con nông dân vừa đánh giặc giữ làng, vừa sản xuất, gieo trồng khoai lúa trên đất đai ông bà để lại. Những người nông dân chân chất ấy đã xem Lê Vĩnh Hòa như chính người thân của mình. Lê Vĩnh Hòa viết khát khao của họ cũng là khát khao của mình. Đó là mong muốn quét sạch quân xâm lược, đánh đổ chính bọn tay sai, bù nhìn, để đất nước thống nhất, người dân có quyền tự do làm ăn sinh sống trên chính quê hương mình.
Lê Vĩnh Hòa không coi nhẹ thể tài nào. Anh sáng tác truyện ngắn, bút ký, làm thơ, viết phóng sự, tản văn và cả những bài báo ngắn như tiểu phẩm. Viết là nhu cầu hằng ngày để anh chuyển tải ý tưởng của mình qua những câu chuyện anh được chứng kiến và được nghe. Gặp chuyện nào có chi tiết văn học đắt, anh sáng tạo thêm tính cách nhân vật, cốt truyện cho có đầu có cuối, có ý nghĩa để thành một truyện ngắn. Mà truyện ngắn của Lê Vĩnh Hòa không chỉ nghiêng về trào phúng, trào lộng, đánh thẳng vào chế độ Mỹ-ngụy tàn bạo, chà đạp lên nhân phẩm, cuộc sống người dân lương thiện, mà còn ngợi ca những người chiến sĩ cách mạng vượt qua gian khổ, chiến đấu bảo vệ nhân dân. Văn Lê Vĩnh Hòa kết hợp tài tình giữa trào lộng, châm biếm với trữ tình. Sau thời kỳ Đồng khởi, Lê Vĩnh Hòa đến với các đơn vị bộ đội, chính nơi đây đã cung cấp cho anh nhiều tư liệu để viết những truyện ngắn về chiến sĩ trực tiếp chiến đấu, về những thanh niên trốn gia đình “lên xanh”, tức là tham gia Quân Giải phóng. Cảm hứng về cuộc cách mạng giải phóng đã bừng lên trong nhà văn qua những truyện ngắn “Nắng xuân”, “Tình đồng đội”, văn Lê Vĩnh Hòa khởi sắc, chất anh hùng ca lan tỏa.
Mảng ký sự, bút ký, cả những bài báo như phản ánh một gương chiến đấu của bộ đội, du kích hay người nông dân ở các làng ấp thì nhiều vô kể, được đăng ở các báo, từ tờ tin của Phân khu miền Tây, đến các tờ báo lớn. Lê Vĩnh Hòa cũng không coi việc đăng ở đâu là quan trọng. Với anh, bài viết của mình đến được công chúng, nhất là bộ đội là một vinh hạnh lớn.
Dù hoàn cảnh đất nước cắt chia nhưng tác phẩm của Lê Vĩnh Hòa vẫn được chuyển ra Hà Nội, phần lớn được công văn đặc biệt, phải mất thời gian một tháng mới đến Thủ đô, được in trên các báo lớn như Văn nghệ, Văn nghệ Quân đội, Nhân Dân, Thống Nhất… được bạn đọc miền Bắc, nhất là các nhà văn khen ngợi.
Một nhà văn tài năng đang phát triển rực rỡ, một nhân cách sáng chói, một chiến sĩ can trường như thế, đang được bạn đọc khắp cả nước ngưỡng mộ và đón đợi tác phẩm lớn, dày dặn hơn.
Vào đầu năm 1967, Mỹ-ngụy mở trận càn lớn hòng làm cỏ vùng cách mạng Long Mỹ, chúng đã vấp phải sự đánh trả quyết liệt của bộ đội chủ lực và du kích địa phương. Trong những ngày ác liệt, với hàng ngàn lính Mỹ-quân ngụy, có xe lội nước yểm trợ, tất cả cán bộ, chiến sĩ các cơ quan, đoàn thể đều cầm súng chiến đấu, Lê Vĩnh Hòa cầm súng ra bờ kinh bắn tàu chiến Mỹ. Đến ngày 7-1, anh hy sinh ở vùng Xẻo Dú, xã Vĩnh Viễn, huyện Long Mỹ, tỉnh Hậu Giang.
45 năm Lê Vĩnh Hòa hy sinh, mỗi lần gặp nhau, đồng nghiệp luôn nhắc đến anh với lòng tiếc thương và ngưỡng mộ. Anh được tặng Giải thưởng Nhà nước về văn học nghệ thuật đợt một, năm 2001. Nhưng điều quan trọng bậc nhất, tác phẩm của Lê Vĩnh Hòa vẫn được lưu truyền âm thầm trong công chúng yêu văn học đích thực, thứ văn góp phần nâng cao phẩm giá con người.
Tính đến tháng 6-2002, tổng số Bà mẹ Việt Nam anh hùng của cả nước là 43.706 bà mẹ, trong đó số truy tặng là 31.124, số phong tặng là 12.582 bà mẹ. Tỉnh có nhiều Bà mẹ Việt Nam anh hùng nhất là Quảng Nam với 6.622 bà mẹ, trong đó số truy tặng là 4.782 bà mẹ, số phong tặng là 1.840 bà mẹ."



