Lê Xy
Đồng chí Lê Xy, sinh: 1924; Từ trần ngày 19 tháng 5 năm 2004 tại Bệnh viện Trung ương Quân đội 108. Cấp bậc: Đại tá; Chức vụ: Nguyên Phó Chủ nhiệm Tổng cục Hậu cần, nguyên Chính ủy Bộ Tư lệnh Trường Sơn. Nguyên quán: Xã Hậu Lộc, huyện Can Lộc, tỉnh Hà Tĩnh. Ngày tham gia cách mạng: tháng 1 năm 1945. Ngày nhập ngũ: 15 tháng 5 năm 1952. Ngày vào Đảng CSVN: 6/1946; Chính thức 8/1946. Thời gian tham gia chiến trường ( B,C, K ): Từ 5/1965 đế
Đồng chí Lê Xy sinh ra và lớn lên từ một gia đình nông dân lao động, trong bối cảnh nước mất, nhà tan, chứng kiến bao nỗi khổ nhục của đồng bào ta dưới gót dày của giặc ngoại xâm, với lòng căm thù giặc sâu sắc, ý thức được nỗi đau của người dân mất nước, đã nung nấu trong trái tim đồng chí bầu nhiệt huyết cách mạng. Với tình cảm đó, tháng 1 năm 1945 đồng chí đã tham gia cán bộ Việt Minh tại Thị xã Hà tĩnh; tháng 8 năm 1945 đồng chí đã tham gia Công đoàn công nhân Cứu quốc và là một trong những người được cấp trên ủy nhiệm đứng ra tổ chức Hội công nhân Cứu quốc Thị xã Hà Tĩnh; đồng chí đã cùng đoàn thể hăng hái tham gia cuộc Tổng khơởi nghĩa tháng 8 năm 1945, góp phần cùng cả dân tộc lật đổ ách đô hộ của thực dân, phong kiến, lập nên nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Ngay sau ngày Cách mạng tháng 8 thành công đồng chí được cử làm Bí thư Công đoàn Thị xã Hà Tĩnh. Đến tháng 2 năm 1946 đồng chí được cử giữ chức Phó Bí thư Việt Minh Thị xã Hà Tĩnh, tích cực tham gia vào chương trình “Diệt giặc dốt”, “Diệt giặc đói” của Chính phủ, hoạt động quên mình nhằm góp phần củng cố chính quyền nhân dân non trẻ ở địa phương. Chính vì thế tháng 6 năm 1946 đồng chí đã vinh dự được kết nạp vào Đảng Cộng sản Đông Dương (nay là Đảng Cộng Sản Việt Nam ).
Hành trình trong suốt các cuộc kháng chiến chống giặc ngoại xâm cùng với cả dân tộc, đồng chí đã rèn luyện, cống hiến, tiến bộ và trưởng thành không ngừng:
Từ tháng 1 năm 1947 đến tháng 12 năm 1950 đồng chí được tín nhiệm bầu làm Ủy viên Ban chấp hành, rồi Bí thư Ban chấp hành Liên hiệp công đoàn tỉnh Hà Tĩnh; Đồng chí luôn hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ được giao.
Từ tháng 1 năm 1951 đến tháng 4 năm 1952 đồng chí là Ủy viên Ủy ban Hành chính Kháng chiến tỉnh Hà Tĩnh; Đồng chí luôn hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ được giao, được cán bộ và nhân dân địa phương tin tưởng, yêu mến, giúp đỡ.
Tháng 5 năm 1952, trước yêu cầu xây dựng và phát triển lực lượng vũ trang, đồng chí đã nhập ngũ vào Quân đội quốc gia Việt Nam (nay là Quân đội nhân dân Việt Nam) công tác tại Phòng Công xưởng và Phòng Chính trị Cục Quân nhu Tổng cục cung cấp; Đồng chí luôn hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ được giao, được các đồng chí, đồng đội và cấp trên tin yêu, khen ngợi.
Từ tháng 7 năm 1953 đến tháng 6 năm 1955 đồng chí giữ chức Trưởng phòng Quân trang, Cục Quân nhu; Đồng chí đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ được giao.
Tháng 7 năm 1955 đồng chí được điều giữ chức Trưởng phòng sản xuất trang dụng, Tổng cục Hậu cần; Đồng chí luôn hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ được giao, được cấp trên, đồng chí, đồng đội khen ngợi, học tập và noi theo.
Từ tháng 10 năm 1957 đến tháng 3 năm 1965 đồng chí được bổ nhiệm giữ chức vụ: Trưởng phòng Cán bộ - Tổng cục Hậu cần, được phong quân hàm Thiếu tá, rồi Trung tá. Trong suốt 8 năm đảm nhiệm chức vụ Trưởng phòng Cán bộ – Tổng cục Hậu cần, đồng chí luôn hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ được giao, được Đảng, Nhà nước và Quân đội tin yêu, khen thưởng.
Từ tháng 5 năm 1965 đến 1966 đồng chí được điều động đi chiến trường, bổ nhiệm giữ chức vụ Chính ủy Cục Hậu cần – Bộ Tư lệnh 559, tham gia chiến đấu ở chiến trường miền Nam Việt Nam và nước bạn Lào tại tỉnh Khăm muộn, Xavana khẹt, đồng chí đã lãnh đạo đơn vị hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ được giao.
Từ năm 1966 đến 1967, đồng chí được giao giữ chức vụ Chính ủy Binh trạm 6 - Bộ Tư lệnh 559, chiến đấu ở chiến trường Nam Lào - Bắc Tây nguyên tại các tỉnh ATôPư, TàVenọc (Lào) và Kon Tum (Việt Nam). Trong suốt 2 năm giữ chức vụ Chính ủy Binh trạm 6, đồng chí đã lãnh đạo Binh trạm hoàn thành xuất sắc, toàn diện nhiệm vụ chiến đấu và phục vụ chiến đấu, vận chuyển chiến lược cho chiến trường Bắc Tây Nguyên, Nam Lào, được cấp trên khen thưởng.
Từ năm 1968 đến 1970 đồng chí được Quân ủy Trung ương tín nhiệm, giao giữ chức vụ Phó Chính ủy Bộ Tư lệnh 559, Ủy viên Thường vụ Đảng Ủy Bộ Tư lệnh 559; năm 1969 được phong quân hàm Thượng tá. Trong suốt những năm 1968-1970 tham gia chiến đấu ở 3 chiến trường B, C, K đồng chí đã cùng các đồng chí Lãnh đạo Bộ Tư lệnh 559 lãnh đạo Bộ đội Trường Sơn hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ chi viện chiến lược sức người, sức của cho các hướng chiến trường trong chiến dịch Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân Mậu Thân 1968 và bảo vệ, mở rộng vùng giải phóng các tỉnh Đông bắc CămPuChia, Trung và Nam Lào. Bảo vệ vững chắc tuyến hành lang vận chuyển chiến lược từ hậu phương lớn miền Bắc cho cách mạng miền Nam và 3 nước Đông Dương.
Từ 1970 đến 30/4/ 1975 đồng chí được phong quân hàm Đại tá, được Quân ủy Trung ương giao chức vụ Phó Chính ủy, kiêm Chủ nhiệm chính trị, rồi Chính ủy Bộ Tư lệnh Trường Sơn; Ủy viên Thường vụ Đảng ủy, rồi Bí thư Đảng ủy Bộ Tư lệnh Trường Sơn. Trong suốt 5 năm đảm nhiệm cương vị mới đồng chí đã cùng tập thể lãnh đạo Đảng ủy và Bộ Tư lệnh Trường Sơn lãnh đạo, chỉ huy tuyến vận tải chiến lược trên Đông và Tây trường Sơn hoàn thành xuất sắc vượt mức kế hoạch nhiệm vụ vận tải vũ khí, khí tài, quân, lương… cho chiến trường miền Nam đến ngày toàn thắng. Đặc biệt là công tác đảm bảo hậu cần chiến dịch cho các chiến dịch lớn như Đường 9 - Nam Lào năm 1971, Chiến dịch Quảng Trị năm 1972, Chiến dịch Trị - Thiên năm 1972, Chiến dịch Tây nguyên năm 1975, Chiến dịch giải phóng Huế - Đà Nẵng và Duyên hải miền Trung năm 1975, Chiến dịch Hồ Chí Minh - Tổng tiến công giải phóng Sài Gòn và giải phóng hoàn toàn miền Nam tháng 4 năm 1975. Đồng chí cùng Bộ đội Trường Sơn và quân, dân cả nước đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước như lòng mong đợi của toàn Đảng, toàn dân và Bác Hồ kính yêu.



