LÊN ĐƯỜNG THEO CÁCH MẠNG
Vùng tây bắc Hòa Vang (nay thuộc thành phố Đà Nẵng) là nơi có truyền thống yêu nước và đấu tranh chống ngoại xâm. Từ thời Pháp thuộc, nhân dân nơi đây đã tham gia nhiều phong trào chống thực dân như phong trào “Bình Tây sát tả”, phong trào chống thuế năm 1908 và các cuộc khởi nghĩa yêu nước. Khi cách mạng lan đến, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, người dân địa phương tích cực tham gia hoạt động cách mạng. Trong Cách mạng tháng Tám 1945, tác giả tham gia lực lượng thanh thiếu niên cứ
Tây bắc Hòa Vang là một vùng đất giàu tinh thần yêu nước và cách mạng. Nơi đây, trong các cuộc chiến tranh giải phóng dân tộc, người dân quê tôi đã góp một phần không nhỏ trong công cuộc chống giặc ngoại xâm, nhất là trong hai cuộc chiến tranh giải phóng dân tộc chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ.
Thời Pháp thuộc, dưới sự lãnh đạo của Hường Hiệu, nhất là hai viên tướng thuộc quyền của ông là An Nại và Thống Hai (tức Hồ Như Học), nhân dân tây bắc Hòa Vang đã anh dũng đứng lên hưởng ứng phong trào “Bình Tây sát tả”. Khi thực dân Pháp đặt ách đô hộ lên đất nước ta, đất Hàn nói riêng và Quảng Nam nói chung, nhân dân đã không ngừng nổi dậy chống lại chúng như: Phong trào chống thuế năm 1908, phong trào khởi nghĩa Thái Phiên - Trần Cao Vân... Tiếc thay, tất cả các phong trào đó đã bị thực dân Pháp và bè lũ phong kiến Nam triều dìm trong biển máu.
Có lẽ làng quê tôi vẫn tiếp tục ngập chìm trong đêm đen, chôn giấu bao nhiêu giấc mơ hoài bão đẹp của nhiều thế hệ nếu như phong trào cách mạng không lan đến vùng đất địa linh nhân kiệt này. Từ năm 1930, nhiều đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam của Thị ủy Tourane và Tỉnh ủy Quảng Nam đã tuyên truyền, hoạt động cách mạng tại tây bắc Hòa Vang. Trong đó, tại ngôi làng bé nhỏ của tôi có các ông: Trần Kim Bảng, Trần Đình Tri, Trần Công Tẩn... Chính họ đã gieo vào tâm trí non nớt của tôi và người dân quê tôi nhận thức rằng, chỉ có tập hợp dưới ngọn cờ lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam mới có thể đánh đổ thực dân Pháp xâm lược, cởi bỏ ách thống trị, tự giải phóng cho mình.
Khi tội ác của chế độ thực dân còn chưa kịp xóa sạch vết máu thì phát xít Nhật lại kéo vào Hòa Vang và Đà Nẵng. Chúng tổ chức mở rộng sân bay, lập các kho quân nhu chứa gạo, xăng dầu, súng đạn tại núi Đà Sơn, Khánh Sơn, Phước Tường... Lúc bấy giờ, tôi cũng chưa nhận thức rõ về cách mạng. Xin nói thêm rằng tôi tuy nhỏ, nhưng rất thích hóng những chuyện các chú, các anh nói làm cách mạng là để giành độc lập dân tộc, đánh đuổi kẻ thù khỏi đất nước, xóa bỏ chế độ vua quan bóc lột... làm cho dân nghèo được sung sướng. Vì thế, tôi đã được các chú nói cho nghe về việc phát xít Nhật thực hiện chính sách ăn cướp thô bạo như thế nào. Đó là, chúng độc quyền thu mua bông vải và dầu phụng; bắt nông dân phải kê khai tích trồng bông, đậu phụng; khi thu hoạch bông, đậu phụng phải bán cho các “Liên đoàn” thu mua bông và dầu phụng (dầu lạc) của phát xít Nhật. Ngay tại thị trấn Nam Ô, phát xít Nhật đã cho xây dựng một xưởng ép dầu phụng. Ngoài ra, chúng còn tổ chức khai thác đá ở Xuân Dương. Bị bóc lột hết sức tàn bạo nên người dân quê tôi vô cùng căm thù bọn phát xít Nhật. Một hôm, nhân có chiếc tàu lửa chở đá chạy ngang qua Nam Ô, không hiểu vì sao làm cháy một xóm nhà ở ven đường tàu. Nhân cơ hội đó, nhân dân ở đây đã đấu tranh bãi công không khai thác đá cho bọn Nhật. Từ đó, chúng không dám khai thác đá ở Xuân Dương nữa.
Mùa thu năm 1945, không khí chuẩn bị tổng khởi nghĩa sục sôi khắp vùng quê yên tĩnh dưới chân dãy núi Hải Vân. Các đội thanh, thiếu niên cứu quốc được giao nhiệm vụ bí mật luyện tập quân sự. Với lứa tuổi 14 hoặc 15, chúng tôi chỉ được biết ta sắp thực hiện một nhiệm vụ gì đó rất lớn, cần nhiều người tham gia chiến đấu. Lúc ấy, tôi mới gần 15 tuổi, chưa đủ điều kiện để tham gia lực lượng tự vệ nên tự nguyện tham gia lực lượng thanh thiếu niên cứu quốc của Đa Hòa, thuộc xã Hòa Khánh, huyện Hòa Vang. Do tự ý thức được trọng trách vinh quang của mình nên không chờ ai sai bảo mà tự tích cực tập luyện các nội dung gậy, giáo, mác... Thầy giáo chính là các anh cán bộ hoạt động bí mật mà hàng ngày tôi hay đưa thư hoặc chuyển tài liệu giúp. Nơi chúng tôi bí mật tập luyện là một khu rừng gần núi Hải Vân. Chiều ngày 15 tháng 8 năm 1945, Đảng bộ tỉnh Quảng Nam phát lệnh khởi nghĩa. Mặc dù một số nơi quân Nhật đầu hàng phe Đồng minh đã giải giáp vũ khí, nhưng địa bàn các xã cánh bắc Hòa Vang, chúng còn đóng ở Khánh Sơn, Đa Phước, Nam Ô, v.v. Vì vậy, việc đi lại truyền đạt mệnh lệnh của cán bộ Việt Minh trong vùng còn gặp khó khăn. Song với quyết tâm giành chiến thắng trong thời gian ngắn nhất, từ cán bộ đến giao liên, liên lạc, thanh thiếu niên... đã không ngại hiểm nguy đến từng nhà thông báo lệnh khởi nghĩa. Đúng 16 giờ ngày 16 tháng 8 năm 1945, hoạt động khởi nghĩa giành chính quyền ở quê tôi bắt đầu. Dưới sự chỉ huy của các cán bộ Việt Minh, lực lượng tự vệ chúng tôi tích cực chuẩn bị cờ, gậy cùng nhân dân trong vùng xuống đường đi cướp chính quyền. Đến sáng ngày 18 tháng 8 năm 1945, cuộc vũ trang khởi nghĩa giành chính quyền ở quê tôi đã nổ ra đúng với kế hoạch xác định. Lực lượng tự vệ, thanh thiếu niên cứu quốc với trang bị gậy gộc, giáo mác làm nòng cốt cho toàn dân tham gia khởi nghĩa. Mọi người hô vang quyết tâm chiến đấu: “Thề đem xương máu, quyết hy sinh để giành độc lập. Đánh Pháp, đuổi Nhật, cướp chính quyền về tay nhân dân”... Lý trưởng ở các làng đều run sợ trước khí thế cách mạng của nhân dân, vội bàn giao ấn, triện, sổ sách cho chính quyền cách mạng. Sau khi giành chính quyền thành công tại các tổng của Hòa Vang, trong khí thế hào hùng của ngày khởi nghĩa, tôi hăm hở đi trong đoàn người cầm cờ đỏ sao vàng từ tổng Đa Hòa kéo xuống sân vận động Chi Lăng, thành phố Đà Nẵng để dự mít tinh ra mắt của chính quyền cách mạng tại đây. Tôi còn nhớ, lúc bắt đầu đi, đoàn người có khoảng 600 người kể cả “nam phụ lão ấu”, dọc đường đi lần lượt bổ sung nhiều người dân các làng mà đoàn đi qua. Trên đường kéo xuống Đà Nẵng, chúng tôi không gặp một trở ngại nào từ phía tàn quân Nhật đang ở đây chờ ngày xuống tàu về nước. Dường như ý thức được giây phút trọng đại của dân tộc đã đến, kiếp người lầm than sắp được làm chủ đất nước nên đoàn người đi giành chính quyền mặc dù ngày càng đông, nhưng họ vẫn giữ hàng ngũ chỉnh tề, thể hiện uy phong của người chiến thắng. Đi trong đoàn, đôi lúc tôi nhìn xung quanh, song không còn thấy đâu ông nông dân, bà đốt than hay đứa trẻ giữ trâu thuê. Tất cả đều đã trở thành những người chủ đất nước. Lực lượng khởi nghĩa lần lượt đi qua các làng Trung Nghĩa, Hòa Mỹ, Phú Lộc, Khánh Sơn, Đa Phước, Xuân Thiều, Nam Ô, Vân Dương, Quan Nam... Dân ở các làng tham gia khởi nghĩa mỗi lúc một đông nên khi lên đến Quan Nam thì đã có trên 3 nghìn người đi trong đội hình. Không ai bảo ai, mọi người tự động đi vào hàng lối nghiêm chỉnh.
Khởi nghĩa thắng lợi, một số đồng chí cán bộ về các làng tổ chức lực lượng tự vệ chiến đấu, thành lập các đoàn thể cứu quốc và giao nhiệm vụ cụ thể cho từng thành phần. Mặc dù chính quyền đã thuộc về cách mạng, nhưng nạn đói vẫn lan tỏa trong các gia đình nông dân, tiều phu quê tôi. Hậu quả của nạn đói này do chính sách cai trị bắt dân bỏ lúa trồng bông, đậu phụng của phát xít Nhật để lại. Trước tình thế đó, lực lượng thanh niên tự vệ Phú Lộc, Quán Cơm đã tổ chức bốc đỡ số gạo thu được của quân Nhật phân phát một số cho nhân dân chống đói. Phần còn lại, các anh chở về kho làm quỹ phục vụ huấn luyện tự vệ.
Thắng lợi của Cách mạng tháng Tám trên cả nước nói chung, địa bàn Quảng Nam - Đà Nẵng nói riêng càng chứng minh truyền thống yêu nước nồng nàn, luôn gắn bó máu thịt với quê hương, dám hy sinh lợi ích riêng vì sự nghiệp chung của dân tộc của nhân dân các xã cánh Bắc Hòa Vang, trong đó có xã Hòa Khánh quê hương tôi. Đây cũng là một trong những địa danh được mệnh danh “Yết hầu của vùng Thuận Quảng”, “Địa thế rất hiểm yếu, một người giữ ngàn người khó giành lại” nên từ khi thực dân Pháp xâm lược đất nước ta, chúng đã bị chặn đứng trên đất quê tôi nhiều năm liền. Không ngờ niềm vui làm chủ đất nước của nhân dân ta chưa được bao lâu thì thực dân Pháp viện cớ vào Việt Nam tham gia giải giáp quân Nhật để thực hiện âm mưu cướp nước ta một lần nữa. Quyết không chịu làm nô lệ, nhân dân Việt Nam đã hưởng ứng lời kêu gọi “Toàn quốc kháng chiến” của Chủ tịch Hồ Chí Minh, nhất tề đứng lên bảo vệ Tổ quốc. Giống như những thanh thiếu niên yêu nước lúc bấy giờ, tôi tiếp tục tham gia đội du kích và tự vệ chiến đấu của địa phương thôn Hồng Phước, xã Đa Hòa (tức Hòa Khánh, Hòa Vang, Đà Nẵng). Nhiệm vụ chủ yếu của đội du kích chúng tôi lúc ấy là cảnh giới bám địch, đánh mìn, khiêng thương binh, tải đạn, phục vụ cho Tiểu đoàn 19 thuộc Trung đoàn 96 Đà Nẵng trên chiến trường tây bắc Hòa Vang. Còn nhớ, trước sự gây hấn của thực dân Pháp tại Nam Bộ, với tinh thần yêu nước, người dân quê tôi thường xuống đường biểu tình phản đối quân xâm lược và nêu cao tinh thần quyết chiến chống thực dân Pháp. Có lần trong một đoàn biểu tình gần 3 nghìn người dân tây bắc Hòa Vang, trên đường đi, một đồng chí cán bộ hô vang khẩu hiệu: “Trước giặc nước nên hòa hay chiến?”. Ngay lập tức có nhiều tiếng đáp lại đồng thanh làm vang động cả một vùng: “Quyết chiến!”. Đồng chí cán bộ hỏi tiếp:
- Thế nước yếu lấy gì ra chiến chinh?
- Hy sinh!
Tiếng hô như áp đảo quân thù, càng làm cho khí thế cách mạng trào dâng như bão táp.
Tháng 5 năm 1947, theo tiếng gọi của tổ chức Đảng xã Hòa Liên, tôi thoát ly gia đình, địa phương để tham gia thành lập Đại đội dân quân tập trung. Hôm tôi lên đường, mẹ tôi gói ghém đồ đạc trong một chiếc túi vải gồm một chiếc quần đùi, một cái áo cánh và một ống muối rang. Vai vắt chéo chiếc ruột nghé gạo, lưng đeo túi vải, tôi đi bộ lên chiến khu Hòa Trung tập trung để tham gia thành lập đại đội dân quân. Quân số đơn vị gồm 150 người, được biên chế thành 3 trung đội. Đại đội đảm nhiệm chiến đấu ở ba khu vực là Hòa Trung, Trường Định và đèo Hải Vân. Mỗi địa điểm trên là một trung đội đứng chân. Nhiệm vụ chủ yếu của chúng tôi là đánh địch giữ làng, bám dân, bám đất, bảo vệ chính quyền mặt trận. Đồng thời, đơn vị phải tự túc lương thực đảm bảo phục vụ chiến đấu lâu dài.
Mặc dù quân số đông, biên chế thành đại đội dân quân, nhưng trang bị vũ khí của đơn vị khá thô sơ. Toàn đại đội có 3 khẩu súng tiểu liên, 6 súng trường; còn lại là dao, mã tấu, thân cây cau già vót sắc và mác nhọn. Ban chỉ huy đại đội lúc ấy gồm có 3 đồng chí là: Võ Bá Cừ, Lê Phúc Ánh và Mai Tân Cơ. Đến nay tuy đã hơn sáu mươi năm trôi qua, nhưng tôi không thể nào quên trận đầu ra quân đánh phục kích đoạn đường xe lửa ở bắc hầm số 1, nam hầm số 2 phía đông nam đèo Hải Vân (hiện nay là thôn Hòa Vân, phường Hòa Hiệp Bắc, quận Liên Chiểu, thành phố Đà Nẵng) tiêu diệt gọn một đại đội lính Lê dương, thu toàn bộ vũ khí và trang bị luôn cho đại đội dân quân. Trong trận này, tôi được phân công làm tiểu đội trưởng dân quân đánh chặn đầu.
Chúng tôi xuất phát từ Trường Định, hành quân ra đèo Hải Vân. Bây giờ, đoạn đường này đã được mở rộng đi lại dễ dàng. Nhưng lúc ấy, chỉ với khoảng cách dưới 10 cây số, anh em chúng tôi phải lội qua nhiều con suối, gặp gấu, cọp, trâu rừng... là chuyện bình thường. Khi đi một mình nếu ta không cẩn thận, khéo léo xử trí thì dễ dàng trở thành miếng mồi ngon cho các loại ác thú này. Còn khi gặp đoàn quân đi đông thường là chúng chạy trốn, cũng có con ngồi giương mắt nhìn một lúc rồi mới chịu vẫy đuôi bỏ đi. Đường hành quân xuyên sơn, dây leo chằng chịt. Chúng tôi phải vạch dây rừng mà đi, nếu gặp các cây cổ thụ thì vòng tránh. Đơn vị dừng lại tại suối Khe Lạnh (gần hầm Hải Vân bây giờ) để bổ sung và nhắc lại nhiệm vụ, sau đó băng qua đồi Nấm Chiên, xuống đường 1A, vượt qua cầu Rô-giê, xuống đường sắt là đến vị trí phục kích tại làng Sứng (tức làng Hòa Vân ngày nay) gần vịnh Đà Nẵng. Tôi được phân công nhiệm vụ dẫn quân đi trước, hành quân tới đâu thì triển khai nhiệm vụ tới đó. Gần 11 giờ trưa ngày 25 tháng 5 năm 1947, địch đi tuần từ hầm số 2 vào hầm số 1. Chúng tôi triển khai đội hình chiến đấu nằm sát đường ray, cách địch từ 3 đến 5 mét. Đúng 11 giờ, địch lọt vào đội hình phục kích của ta. Tôi ra lệnh cho anh em nổ súng chặn địch. Nói nổ súng cho nó oai chứ vũ khí của ta lúc đó mỗi trung đội chỉ có 1 khẩu tiểu liên, còn lại là lựu đạn, mã tấu, kiếm, lao cau... Vì thế, khi nghe hiệu lệnh chiến đấu, chủ yếu là anh em ném lựu đạn rồi dùng lao cau lao vào đâm lính địch. Địch cuống cuồng phản ứng dữ dội. Các bộ phận chính diện, khóa đuôi của ta nhanh chóng xung phong đánh giáp lá cà với địch quyết liệt, ở mũi chặn đầu, tôi hô: “Xung phong!” và sử dụng tiểu liên diệt ngay mấy tên đi đầu. Ngay lập tức, anh em ném lựu đạn tới tấp vào đội hình địch và nhảy ra đánh. Nhiều tên lính khiếp đảm, la ó trước mũi lao cau của chúng tôi. Sau khoảng 10 phút chiến đấu, ta làm chủ hoàn toàn trận địa, thu vũ khí. Trong điều kiện hành quân khó khăn, lương thực phải tự túc nên chúng tôi không bắt tù binh mà chỉ giáo dục rồi thả cho về. Bên ta có một đồng chí bị thương và một hi sinh. Tôi tiếp tục dẫn đội hình lui quân, chạy về hầm số 1, vượt lên quốc lộ 1A, băng qua Nấm Chiên về Khe Lạnh rồi trú quân tại đó để củng cố đội hình trước khi hành quân về căn cứ. Trận thắng đó đã củng cố lòng tin của nhân dân địa phương về lực lượng tại chỗ, động viên kịp thời tinh thần quân sĩ. Kết quả trận đánh vượt ngoài sự mong đợi khi địch thất bại nặng nề, còn ta thương vong ít. Nhận được tin chiến thắng, Đảng bộ và nhân dân Hòa Liên vô cùng phấn khởi, đã tổ chức liên hoan mừng chiến thắng trận đầu của Đại đội dân quân tập trung.
| Giành được thắng lợi lớn ngay từ trận đầu, lòng tin về ngày chiến thắng trong lòng chúng tôi, những thanh niên áo vải chân đất lần đầu được cầm súng đánh giặc bảo vệ Tổ quốc, bảo vệ quê hương ngày càng lớn lên. Phương châm lấy vũ khí địch để đánh địch được Đại đội dân quân tập trung của xã Hòa Liên áp dụng triệt để, nhanh chóng. Chúng tôi đã dùng ngay những khẩu súng trung liên, tiểu liên thu được tổ chức huấn luyện ngay sau đó. Trước khi có chiến thắng này, đơn vị chúng tôi huấn luyện quân sự chủ yếu là lý thuyết, vũ khí vận dụng cơ bản là gậy. Do đó, khi cầm súng đánh giặc có đồng chí còn lúng túng, thậm chí lúc đầu còn giật mình khi nghe đạn nổ vì chưa quen cảm giác. Trận phục kích đại đội Lê dương giành thắng lợi trọn vẹn còn là liều thuốc quý giá khích lệ chúng tôi trong thực hiện các trận đánh tiếp theo. Thời gian công tác tại Đại đội dân quân tập trung tuy không dài, nhưng đối với tôi đó là một quãng đời đầy ý nghĩa. Bây giờ đã bước sang ngưỡng cửa của những năm cuối cuộc đời, tôi càng thấy tự hào cho tuổi trẻ của mình nói riêng, một thế hệ của thanh niên Việt Nam nói chung. Đầu năm 1949, nhận được thông báo của cấp trên trong thời gian tới sẽ có một đoàn xe và tàu hỏa của thực dân Pháp chở hàng hóa phục vụ chiến tranh chạy từ phía nam ra, đại đội dân quân có nhiệm vụ phối hợp với bộ đội chủ lực tổ chức ngăn chặn không để chúng cung cấp hậu cần cho địch ở chiến trường Bình - Trị - Thiên. Mọi người tích cực chuẩn bị. Lúc này, dù ta đã lấy được vũ khí của địch, nhưng so với biên chế vẫn còn thiếu nhiều. Vì thế, ban chỉ huy đơn vị phải nghiên cứu bố trí lực lượng sao cho phát huy tối đa hiệu quả của xung lực và các loại trang bị. Một trong những trận đánh của đơn vị dân quân non trẻ để lại trong tôi nhiều ấn tượng sâu sắc là trận phối hợp chặt chẽ với Trung đoàn 108, bộ đội chủ lực của Liên khu 5, phục kích tiêu diệt gọn đoàn xe và đoàn tàu ngay trên đèo Hải Vân vào ngày 24 tháng 1 năm 1949, một trận đánh được đánh giá là thắng lợi to lớn nhất của chiến trường Quảng Nam - Đà Nẵng trong chiến dịch Đông Xuân năm 1949. Tham gia trận này, tôi làm tổ viên có nhiệm vụ khiêng quả mìn được làm từ vỏ quả đạn 155mm thu được của địch cải tiến lại, ra phục kích trên đường đèo Hải Vân. Do quả “mìn vỏ đạn” nặng khoảng 50 cân nên phải hai người khiêng mới ra được vị trí tập kết. Chúng tôi chỉ việc bàn giao xong là về ngay vị trí cảnh giới cách chỗ bố trí mìn khoảng 100 mét, còn kỹ thuật đặt mìn đã có đồng chí Bùi Chát đảm nhiệm. Theo kế hoạch, ta sẽ đặt mìn ở phía bắc cầu Bãi Cả. Mìn nổ, tổ chức lui quân theo quốc lộ, vượt qua cầu Trắng về vị trí tập kết đỉnh đèo Hải Vân. Tôi là người địa phương thông thuộc địa hình nên được chọn đi khiêng mìn và cảnh giới địch. Tất cả mọi hoạt động đều đặt dưới sự chỉ huy của đồng chí Bùi Chát. Khoảng 6 giờ sáng ngày 24 tháng 1 năm 1949, đoàn tàu hỏa từ Đà Nẵng ra Huế kéo còi, vừa chui ra khỏi hầm số 2 thì đoàn ô tô của địch cũng chuyển bánh qua phà Nam Ô. Ngay lập tức, bộ đội chủ lực của ta, do đồng chí Giáp Văn Cương chỉ huy, dùng súng máy khai hỏa tiến công tiêu diệt đoàn xe của địch. Buổi trưa cùng ngày, quân ta tiếp tục chặn đánh tiếp một đoàn xe khác gồm 12 chiếc từ Huế vào Đà Nẵng tiếp viện. Điên cuồng trước thảm bại cay đắng, thực dân Pháp điều động một lực lượng hùng hậu với quân số khoảng 8 tiểu đoàn, tổ chức rải quân từ Eo Ngựa đến Mũi Trâu và dọc theo hữu ngạn sông Trường Định nhằm bao vây, tiêu diệt lực lượng của ta. Ngoài ra, chúng còn thu hết ghe thuyền, ngăn cấm nhân dân qua sông tiếp tế. Trước tình thế đó, chúng tôi được lệnh rút quân qua sông Trường Định, về ở giữa lòng dân. Một thời gian sau, khi tình hình bớt căng thẳng, đơn vị chúng tôi tiếp tục tổ chức học tập chiến thuật, rút kinh nghiệm đánh phục kích của Trung đoàn 108 tại đèo Hải Vân để áp dụng cho các trận đánh sau. Ngày 12 tháng 8 năm 1950, đơn vị đã phục kích đoạn đường đèo Eo Gió từ đồn Quan Nam đi lên đồn Phò Nam diệt gọn một trung đội lính Âu - Phi, thu toàn bộ vũ khí. Bên cạnh nhiệm vụ đánh phục kích, gây rối sau lưng địch, phối hợp với bộ đội chủ lực..., Đại đội dân quân tập trung của xã Hòa Liên còn được bổ sung nhiệm vụ tổ chức đánh mìn trên tuyến quốc lộ 1A và đường xe lửa Đà Nẵng - Huế. Những năm kháng chiến chống Pháp (1946-1954), làng tôi nói riêng và tây bắc Hòa Vang nói chung đã trở thành một chiến trường ác liệt. Tại đây, thực dân Pháp thực hiện chính sách “tam quang”, nghĩa là phá sạch, đốt sạch và giết sạch. Tội ác của bò lũ thực dân xâm lược gây ra cho người dân quê tôi dậy lên ngút trời. Chỉ tính riêng thôn Trường Định nằm bên bờ bắc sông Cu Đê trước kháng chiến có đến 5.000 người dân, nhưng đến cuối năm 1948 chỉ còn 800 người. Tiếng khóc than ai oán lan tỏa khắp mọi nhà. Thậm chí, có nơi người chết, xương chất thành đống như An Châu, Đông Vinh. Do đặc điểm địa lý quê tôi thuận tiện cho giao thông đường thủy, điều kiện rừng núi dễ biến thành nơi bố trí lực lượng của ta để tấn công vào sào huyệt địch nên thực dân Pháp đã chú trọng bố phòng nghiêm ngặt, hệ thống đồn bốt dày đặc. Ngay tại xã Hòa Liên, nằm sát chân đèo Hải Vân, địch đã xây dựng 12 đồn và tháp canh. Vì thế, có thời điểm số lượng địch tập trung tại đây còn nhiều hơn cả số dân địa phương. Sau nhiều lần thất bại do cách đánh du kích của ta, địch điên cuồng khủng bố, càn quét nhằm trấn áp, đe dọa nhân dân, nhưng đều vô hiệu. Vì thế, để ngăn chặn sự tiếp tế lương thực, thực phẩm của nhân dân đối với lực lượng du kích nên cuối năm 1949 đầu năm 1950, chúng tăng cường bố trí đồn, bốt dày đặc trên địa bàn các xã cánh bắc Hòa Vang như các đồn: Quan Nam, Gò Đa, Ông Tự, Phò Nam, Tùng Sơn, An Ngãi, Thủy Tú, Liên Chiểu, Hải Vân, Hòa Mỹ,v.v. Thế nhưng thực tế đã diễn ra trái với mong muốn, sự tính toán của địch. Đại đội dân quân tập trung của xã Hòa Liên không những không yếu đi mà ngày càng mạnh thêm, càng lập nhiều chiến công hơn. Trong đó, điển hình là trận phục kích chặn đánh lính Pháp đi càn vào thôn Trường Định. Bộ binh địch có ca nô và xe lội nước yểm trợ đã tổ chức hành quân càn quét như vào chỗ không người. Chúng tin rằng với vũ khí thô sơ, quân số ít, lực lượng dân quân tập trung sẽ không dám đánh lại một lực lượng mạnh có hỏa lực hùng hậu yểm trợ. Có lẽ suy nghĩ như vậy đã khiến địch chủ quan nên đã rơi vào trận địa phục kích của ta. Lúc đó, tôi làm tiểu đội trưởng có nhiệm vụ chống càn bảo vệ dân, đánh địch giữ làng. Sau khi nắm vững tình hình địch, yêu cầu nhiệm vụ, phương án chiến đấu, tôi chỉ huy anh em ra phục kích tại bờ sông Trường Định. Trước đó, đơn vị đã tổ chức đào chiến hào ở bờ sông. Vì thế, khi ta báo động địch từ dưới Nam Ô lên, dân quân nhanh chóng triển khai đội hình chiến đấu thành ba bộ phận. Tiểu đội do tôi chỉ huy làm nhiệm vụ đánh chặn đầu để cho các bộ phận khác tiến công. Ca nô của địch chạy sát bờ. Chờ cho chúng cách trận địa phục kích khoảng ba chục mét, tôi nổ phát súng đầu tiên khai hỏa cho trận đánh. Bị bất ngờ, bọn lính trên ca nô bắn loạn xạ vào dọc bờ sông Trường Định. Nhưng mục tiêu của ta thì nằm phơi trên dòng nước, còn mục tiêu của chúng thoắt ẩn, thoắt hiện nên việc thất bại của địch là không tránh khỏi. Trước sự tấn công mãnh liệt, bất ngờ của lực lượng dân quân, bọn lính hoảng loạn nhảy ào xuống sông. Trước tình huống có thể nhanh chóng tiêu diệt toàn bộ đội hình của chúng, tôi ra lệnh cho anh em bám đánh liên tục, không lui quân như đã dự kiến. Kết quả trận đánh, dân quân xã Hòa Liên đã bắn chìm một chiếc ca nô và 2 xe tăng lội nước, diệt hơn chục tên lính địch, đồng nghĩa với việc chính thức bẻ gãy cuộc càn trên dòng sông Cu Đê và thôn Trường Định. Phấn khởi trong niềm vui chiến thắng, tâm hồn thi sĩ của tôi bỗng chốc vút lên ý thơ mộc mạc: “Dòng sông Trường Định xanh rì/Nhiều tên lính Pháp có đi không về”. Ngoài những trận đánh có tính chất độc lập trên, trong các năm từ 1949 đến 1952, đơn vị chúng tôi còn phối hợp với bộ đội công binh Liên khu 5, do đồng chí Bùi Chát phụ trách, liên tục đánh mìn trên đèo Hải Vân khiến nhiều đoàn tàu quân sự của Pháp lật nhào xuống biển, diệt hàng trăm tên lính địch. Hồi tôi công tác tại Đại đội dân quân tập trung, đánh địch là điều bình thường, nhưng chuyện “đánh hổ” trong chuyến đưa thư vào vùng địch dịp đầu tháng 2 năm 1952 đã khắc ghi trong tâm trí tôi như một nỗi ám ảnh. Vì đó là lần đụng chúa sơn lâm, là lần thử thách cân não đầu tiên trong đời binh nghiệp của tôi. Hồi ấy, tôi được lãnh đạo xã Hòa Liên chọn làm liên lạc. Khoảng 5 giờ chiều một ngày đầu tháng 2 năm 1952, Chủ tịch Ủy ban kháng chiến, Phó Bí thư Đảng ủy xã Hà Thúc Dư gọi tôi lên nhận nhiệm vụ khẩn cấp. Anh Dư trao cho tôi mảnh giấy và bảo: Phải chuyển ngay lá thư hỏa tốc này xuống đồng bằng, đưa cho các đồng chí Lê Phúc Ánh, Lê Thị Xa, Ngô Văn Lưu..., là cán bộ lãnh đạo đang hoạt động trong vùng địch. Sau đó, tôi và mọi người phải trở về ngay trong đêm để chuyển cơ quan nơi khác. Vì ngày mai địch sẽ càn lên căn cứ. Đoạn đường từ cơ quan xuống đồng bằng khoảng 10 cây số đường rừng hiểm trở. Tôi nhận nhiệm vụ xong, về chuẩn bị lên đường. Đồ đạc tôi mang theo, ngoài lá thư mật ra còn có 2 quả lựu đạn dập do quân giới Quân khu 5 chế tạo để chiến đấu khi gặp địch. Khi đến đèo Mỹ Sơn, thuộc xã Hòa Liên, thì trời nhá nhem tối, linh tính mách bảo tôi rằng: sẽ có điều chẳng lành đang chờ tôi ở phía trước. Tôi vừa đi, vừa quan sát mọi động tĩnh xung quanh. Đoạn đường này địch ít đi phục kích, nhưng cũng không được chủ quan. Nhưng chắc chắn một điều là cọp rất nhiều. Không riêng gì địch, bộ đội ta cũng đã nhiều người bị cọp vồ. Có lẽ bởi lý do sợ dụng chúa sơn lâm nên địch ít khi dám phục kích trên con đường này. Đúng là cha ông ta nói cấm có sai “nhắc đến ma thì ma xuất hiện”. Tôi vừa nghĩ đến vị chúa tể rừng xanh thì từ khoảng rừng phía trước mặt một con cọp dữ tợn nhảy ra. Nó ra oai, hùng hổ gầm thét và đi trước tôi khoảng 8 đến 10 mét. Con hổ vừa đi, vừa ngó lại, nhăn nanh, ngoắt đuôi ra vẻ mừng rỡ. Chắc nó cho rằng sắp bắt được con mồi ngon. Thực tình mà nói, lúc ấy tôi cũng sợ ông ba mươi bất ngờ quay lại tặng cho một cái tát. Tôi vẫn bình tĩnh đi theo, trong đầu tìm cách đối phó. Hai bên đường cây cối rậm rạp, tôi có muốn đi vòng cũng không được. Nếu bỏ chạy thì nó đuổi theo ăn thịt ngay. Tôi đã từng nghe ba tôi, ông nội tôi truyền lại, khi đi rừng gặp hổ thì tuyệt đối không được chạy. Vì mình chạy nó biết mình sợ sẽ vồ liền. Ngược lại, cứ bình tĩnh đi, cọp sẽ không dám làm gì, vì nó cũng sợ người. Đầu óc tôi lúc ấy rối bời. Tôi thầm nghĩ: “Tính mạng mình đã trong thế nghìn cân treo trên sợi tóc. Đi cũng chết mà không đi cũng chết. Nếu trở về lại cơ quan thì bị kỷ luật vì không hoàn thành nhiệm vụ. Ngày mai quân Pháp tấn công lên căn cứ, không đánh được địch ta sẽ tổn thất hy sinh, lương thực tài liệu bị mất hết”. Một cuộc đấu trí hết sức căng thẳng diễn ra trong đầu tôi: “Mình đi chiến đấu có đồng đội, hy sinh bị thương có người báo tin cho gia đình, cha mẹ, anh chị em được biết... Lần này cọp bắt ăn thịt mình không còn chút xương”. Chân tôi bước theo con hổ mà đầu óc như muốn nổ tung để tìm cách đối phó với tình huống bất ngờ này. Đến địa thế có lợi, con cọp nhảy lên vách, ngồi cách mép đường đi gần 2 mét, gầm thét oai vệ. Tôi đứng lại nhìn nó. Bốn con mắt gặp nhau ánh lên như thách thức. Quan sát biết đã đến lúc nó chuẩn bị bắt mồi, tôi nhanh chóng móc lựu đạn ra khỏi túi, rút chốt an toàn, đập xuống đường nghe nổ cái “tắc”, rồi ném ngay đến chỗ con cọp đang chồm hỗm. Chúa sơn lâm tưởng bị ném đá liền chụp trái lựu đạn, lót đít ngồi. 6 giây trôi qua, một tiếng nổ vang lên. Cọp thét một tiếng lao xuống hố, lại vướng thêm cái bẫy heo rừng, chết ngay tại chỗ. Thoát khỏi hiểm nguy trong gang tấc, tôi vội vàng chạy xuống vùng địch, rút cán bộ về kịp trong đêm. Đúng như kế hoạch ta nắm được, sáng hôm sau lính Pháp càn lên căn cứ. Chúng vấp phải bãi mìn của ta đã gây thương vong, phải co cụm lại. Lực lượng du kích của ta bố trí sẵn, xung phong chặn đánh khiến chúng phải tháo chạy về đồn. Tôi dẫn anh em đến chỗ con hổ bị đánh chết, kéo xác nó lên khênh về, róc xương nấu cao, đem xuống đồng bằng đổi gạo, muối. Cần nói thêm rằng, trong những năm đầu kháng chiến, vùng núi tây bắc Hòa Vang cọp rất nhiều. Các địa danh như khe Lỗ Trào, Cao Sơn, An Lộc, Đồng Hầu, Ba Viên,... cọp thường xuyên xuống bắt trâu bò của dân, đe dọa tính mạng con người. |



