Lệnh trở lại: Nhiệm vụ bí mật phía sau vĩ tuyến
Đoạn trích thuật lại giai đoạn tác giả tập kết ra Bắc (1954 - 1955) và bước ngoặt quan trọng khi nhận nhiệm vụ bí mật trở lại miền Nam. Tại Nghệ An, cuộc gặp gỡ bất ngờ với đồng chí Nguyễn Xuân Hữu (Bí thư Tỉnh ủy Khánh Hòa) đã giúp tác giả nhận diện sớm bản chất phá hoại Hiệp định Giơ-ne-vơ của kẻ thù. Thay vì chờ đợi cuộc tổng tuyển cử sau hai năm, tác giả được giao trọng trách tuyển chọn 12 chiến sĩ kiên trung để bí mật hành quân ngược trở lại Khánh Hòa xây dựng cơ sở kháng chiến. Phần cuối
Chúng tôi rời thị xã Quy Nhơn trên chiếc tàu viễn dương của nước bạn Liên Xô mang tên Xta-rô-pôn vào một buổi sáng mà cảnh vật không thật đẹp. Trời vần vũ đầy mây và gió thổi mạnh, biển động. Không nhớ rõ con tàu đưa những người con kháng chiến của tỉnh Khánh Hòa ra Bắc tập kết hôm ấy là chuyến thứ mấy? Chắc không phải chuyến đầu, càng không phải là chuyến chót. Hình ảnh buổi tiễn đưa đã lùi vào dĩ vãng xa nhưng nó vẫn còn đọng lại trong tôi sự bùi ngùi, lưu luyến lẫn niềm tin ánh lên ừong khóe mắt mọi người - ráng đợi hai năm. Từ đó suốt chặng đường bồng bềnh ngoài khơi xa đến lúc tàu cập bến Cửa Hội, tôi lại sống trong tâm trạng xáo trộn giữa cái háo hức mong đợi được ra Bắc thật nhanh, nơi chúng tôi hằng ngưỡng mộ: ở đó có thủ đô Hà Nội, có căn cứ địa Việt Bắc, có Trung ương Đảng, có Bác Hồ đã ngày đêm sáng suốt chỉ đạo cuộc chiến tranh; nơi có Điện Biên Phủ - trận đánh lịch sử, chấn động địa cầu... Nhưng cũng thật hối tiếc vì chỉ có mười lăm ngày chuẩn bị với bao công việc phải làm trước khi chuyển quân ra Quy Nhơn, nên chưa làm hết những dự định gặp gỡ, dặn dò, khuyên nhủ người thân ở lại trong đó - trong vùng cai quản tạm thời của đối phương.
Sau một tuần nghỉ ngoi, 500 cán bộ, chiến sĩ đặc công của các tỉnh thuộc Liên khu V được lệnh tập trung biên chế thành tiểu đoàn đặc công mang số hiệu 232 do anh Châu Khải Địch (nay là thiếu tướng, tư lệnh phó Quân khu V) làm tiểu đoàn trưởng, tôi giữ chức tiểu đoàn phó. Tiểu đoàn được lệnh về đứng chân ở Xã Hương Dũng, Nghi Lộc, Nghệ An làm nhiệm vụ huấn luyện theo yếu cầu mới. Những danh từ chính quy, hiện đại, điều lệnh, điều lệ nghe rất mới mẻ đã thực sự hấp dẫn, cuốn hút chúng tôi phải tìm hiểu, thúc đẩy chúng tôi mau đến với công việc cần làm và phải làm lúc đó.
Lúc ấy là giữa năm 1955, tôi đang cùng anh em học tập ngoài thao trường thì nhận được điện: về ngay cơ quan Quân khu có việc cần. Tuy hồi hộp băn khoăn không biết việc gì nhưng tôi vẫn nhanh chóng sửa soạn đầy đủ hành lý lên đường ngay. Đến nhà khách Quân khu, tôi hăm hở bước vào thì sự bất ngờ đầu tiên là nhìn thấy anh Nguyễn Xuân Hữu ngồi đó như đang chờ ai. Tôi sững lại và ngạc nhiên tự hỏi: sao anh Hữu giờ này lại ngồi đây? Tôi biết sau Hiệp định Giơ-ne-vơ được ký kết, anh không đi tập kết mà nhận nhiệm vụ ở lại cơ mà. Hôm ở Quy Nhơn khu vực tập kết 300 ngày, tình cờ tôi và một số anh em nhìn thấy anh đội nón lá, mang gương đen, mặc áo bà ba ngồi sau chiếc xe goòng ở ga Diêu Trì để xuôi về Phú Yên, trở lại Khánh Hòa. Anh cũng thoáng nhìn chúng tôi. Nhưng không ai hỏi ai, chỉ đưa mắt thông cảm như lời chào tạm biệt, vì biết anh đang nhận lãnh một công việc quan trọng cần phải bí mật và tế nhị, không nên và không thể có tiễn đưa công khai với những lời hứa hẹn, động viên. Vậy mà giờ này anh ở đây. Anh đi bằng cách nào ra và đến đây có việc gì. Vừa lúc đó, anh Hữu quay ra, thấy tôi anh mừng rở reo lên và đứng dậy đưa tay nắm chặt tay tôi, lắc mạnh:
- Được tin cậu ở đây, mình vào thăm.
Tôi cũng lắc mạnh tay anh, giọng vẫn chưa hết hồi hộp:
- Tôi toát hết cả mồ hôi hột khi nhận điện của Quân khu báo về gấp! Không hiểu có chuyện gì, lành hay dữ. Nhưng khi về đây nhìn thấy anh, tôi hết lo...
Phòng khách Quân khu là một căn nhà lá đơn sơ, nhưng thoáng mát, giống các lán ở căn cứ Đá Bàn mà bồi tôi và anh Hữu đã ngồi, nghe anh phổ biến nhiệm vụ. Ngoài kia con đường số 1 ra Bến Thủy, xe chạy xuôi ngược như mắc cửi, cùng với người đi bộ, đi xe đạp nối đuôi nhau tấp nập đông vui. Còn phòng khách mà hai chúng tôi đang ngồi thì vắng vẻ, yên tĩnh. Hình như các đồng chí phụ trách trạm khách Quân khu có ý định sắp xếp trước cho buổi gặp mặt này, tạo cho chúng tôi những giờ phút thật thoải mái để hàn huyên thả sức. Vẫn dáng vẻ trầm tĩnh mà lạc quan nhưng dấu ấn xanh gầy còn in hằn trên khuôn mặt kiên nghị chứng tỏ anh vừa đi xa trở về với một quãng đường dài đầy vất vả, gian truân. Anh tâm sự: Đầu tháng 10 năm 1954 từ Quy Nhơn mình nhận nhiệm vụ trở lại Khánh Hòa, giữa năm 1955 được cử ra miền Bắc để báo cáo tình hình và xin chỉ thị của Trung ương. Làm xong việc đó mình đến thăm cậu liền. Tôi thực sự cảm động và linh cảm thấy rằng việc anh đến đây không chỉ đơn thuần thăm hỏi, mà có cái gì đó xa hơn thế nữa.
Quan hệ trên dưới, tình đồng chí, tình anh em (anh hơn tuổi tôi) đan quyện vào nhau, trùm lên buổi gặp. Anh nói thả sức, tôi nghe chăm chú.
- Chịu được rét miền Bắc không? - Anh mở đầu buổi gặp.
- Rét dữ quá anh! Nhưng đã quen dần - tôi trả lời thật lòng, hoàn toàn không cường điệu.
Rồi anh hỏi tôi về sức khỏe, học tập và cả chuyện riêng yêu đương (sau này tổi mới biết sở dĩ anh hỏi đã định ở đâu chưa là có ý thăm dò nếu tôi nhận nhiệm vụ trở lại miền Nam thì có khó khăn gì). Thực sự lúc này tôi chưa có ý định xây dựng gia đình. Bởi lẽ một kỷ niệm gặp gỡ thoáng qua với một cô gái quê ở vùng ven thị xã Tuy Hòa trong đoàn dân công phục vụ hỏa tuyến đã để lại trong tôi một cái gì đó như là gắn bó. Trên đường ra Bắc tập kết tuy không được gặp lại nhau, nhưng tôi tin tưởng nếu hai năm trở lại, cô gái vẫn dành cho tôi trọn vẹn một tình cảm thủy chung.
Nhìn tôi khỏe mạnh, lạc quan, da dẻ săm sắn hồng hào, như hết đắn đo, câu chuyện anh trao đổi càng rôm rả, cởi mở, nhưng vẫn xoay quanh tình hình đất nước hồi đó... Khi nói về địch, giọng anh nghiêm túc hẳn lên: kẻ địch không tuân theo hai năm đâu. Ta phải chuẩn bị sẵn sàng có thời cơ là đấu tranh vũ trang...
Hai năm sẽ có hiệp thương, tổng tuyển cử, thực hiện thống nhất nước nhà, điều này đã gieo vào nhận thức trong tôi ngay khi tạm biệt thị xã Quy Nhơn ra Bắc tập kết; và cả những ngày đầu đặt chân lên miền Bắc mỗi khi anh em miền Nam gặp nhau hàn huyên đủ chuyện, có cả những dự định tương lai nhưng cuối cùng ai nấy đều có chung một an ủi: chờ hai năm sau sẽ hay. Khi gặp nhau và lúc chia tay cũng vậy đều giơ hai ngón tay - tượng trưng hai năm sẽ có thắng lợi. Nhưng rồi những ngày gần đây qua nghe báo chí, phát thanh, qua các buổi sinh hoạt thời sự của cán bộ, chúng tôi được biết tình hình đang xấu đi; Mỹ đã thay pháp dựng chính quyền Ngô Đình Diệm làm công cụ phá hoại Hiệp định Giơ-ne-vơ, tên tướng Cô-lin đại sứ Mỹ ở Nam Việt Nam đến Sài Gòn mang theo kế hoạch sáu điểm của Mỹ, trong đó đáng chú ý là Mỹ sẽ thành lập một quân đội “quốc gia” cho Diệm (15 vạn tên) để chuẩn bị lấp sông Bến Hải, Bắc tiến (?).
Hôm nay cũng vẫn là quanh chuyện đó, do anh Hữu nói, lại có sức lôi cuốn đặc biệt sự chú ý của tôi đến thế. Anh nói về bản chất hiếu chiến xâm lược của kẻ thù đã bộc lộ rất rõ qua những thực tế anh được chứng kiến. Anh chứng minh sự nhận định của Đảng bằng những vụ việc mà kẻ địch đa gây ra ngay trên quê hương Khánh Hòa của tôi. Anh kể những chi tiết về vùng Bắc Khánh, Ninh Hòa sau khi bàn giao cho đối phương quản lý, chúng đã mở các chiến dịch “chống Cộng” đẫm máu như “Chiến dịch Phan Chu Trinh” (3-1955), “Chiến dịch Trịnh Minh Thế” (5-1955); hàng loạt những người kháng chiến cũ bị chúng trả thù; hàng loạt những đồn bót mới, nhà tù mới được dựng lên để đàn áp, bắt giam những ai nói đến hòa bình, hiệp thương chính trị, tổng tuyển cử, v.v... Cứ thế, cứ thế như một phản ứng tự nhiên hình thành trong tôi một tình cảm thương xót, một ý thức căm thù, một trách nhiệm mới đáp lại - Không thể khoanh tay ngồi yên cho kẻ thù ngang nhiên gây tội ác.
Không gian căn phòng vẫn chỉ có hai chúng tôi, bỗng anh Hữu hạ thấp giọng để chỉ đủ hai người nghe, rồi đi thẳng vào vấn đề:
- Theo chủ trương của Đảng, ta phải tổ chức chuẩn bị lực lượng ém sẵn, chờ thời cơ.
Tôi chưa kịp hỏi cụ thể về thực hiện ý định này, thì anh dằn từng tiếng có ý khẳng định vừa rất nghiêm túc lại vừa rất thân mật theo khẩu khí của anh em trong gia đình.
- Cậu sẽ chọn một số anh em tốt để cùng cậu nhận nhiệm vụ trở lại trong đó. Có đồng ý không?
Như bị nén chặt, được dịp bung ra, tôi đáp lại ngay:
- Tôi tuyệt đối chấp hành ý của tổ chức. Xin anh cho biết bao giờ thì lên đường.
- Có thể đi ngay bây giờ nếu như chỉ có tao và mày. Nhưng đây là công việc chung, cần có nhiều người, cần có thời gian chuẩn bị; - ngừng một lát, anh lại tiếp - mày cần tìm thêm mười hai người nữa, nhưng phải là những người kiên trung, gian khổ không ngại, địch bắt đánh tra không khai...
Tôi cắt ngang ý anh đang nói, một cách khẳng định tự tin:
- Trong tiểu đoàn tôi không hiếm những người đủ tiêu chuẩn để nhận nhiệm vụ trở lại.
- Được - như thế là tốt. Vào trong đó một số anh em này ta tìm cách cho ra hoạt động công khai, họp pháp để gây cơ sở, tích lũy lực lượng...
Giọng anh đầm ấm, vừa say sưa sôi nổi vừa thủ thỉ tâm tình, không phải đắn đo suy nghĩ mà như trút hết tâm sự truyền lại cho tôi tất cả những gì mà anh tích lũy, những điều mà Trung ương đã chỉ thị trong chuyến ra Bắc lần này, kể cả những điều hệ trọng mà anh có thể cho biết. Rồi anh thân mật nói: Vô trong đó, tao với mày hoạt động bất hợp pháp là chính nhưng cũng phải lo chạy giấy tờ (căn cước) để khi có điều kiện đi lại hoạt động hợp pháp đề chuyển báo cáo trong này ra Trung ương và nhận chỉ thị của Trung ương qua địa chỉ hòm thư “chết” chứ.
Từ lúc gặp đến lúc chia tay, anh Hữu làm việc liên tục hết thăm hỏi sức khỏe, thông báo tình hình đến giao nhiệm vụ, trao đổi biện pháp thực hiện. Còn tôi cũng vậy, phải tập trung cao độ để nhập tâm những điều anh chỉ thị, những ý anh dặn dò. Vì thế mà ấm trà chế sẵn, bao Bông Lúa còn mới nguyên mà các đồng chí phụ trách trạm khách dành cho chúng tôi vẫn còn đó, chẳng ai uống và hút cả. Chúng tôi làm việc quên cả thời gian.
Trước khi trở ra Hà Nội, anh siết chặt tay tôi chúc sức khỏe, nhưng cũng phải bí mật. Tôi cũng từ nhà khách Quân khu về thẳng đơn vị, không ngang tạt đâu hết, với nỗi vui mừng khôn xiết nhưng lại không được chia sẻ cùng ai. Tôi thấy có cái gì đó thoải mái, lâng lâng. Đêm đó vì vui mà không ngủ được, những kỷ niệm đã qua và những sự kiến sắp tới phải làm cứ hiện về đan chéo nhau trong nếp nghĩ. Hình ảnh quê hương, bóng dáng người thân, không khí buổi tiễn đưa đầy lưu luyến ở bến cảng Quy Nhơn với lời hứa hẹn - hai năm sẽ về, cứ chập chờn khiến tôi chong mắt. Tôi mong trời chóng sáng để bắt đầu thực hiện kế hoạch chọn người. Chọn ai thì ngay khi anh Hữu chỉ thị, tôi đã có một danh sách đầy đủ đưa anh cầm trước rồi. Vấn đề lúc này là gặp từng người vào lúc nào, nói những gì để anh em thông suốt nhanh mà lại không mất nhiều thời gian, không lộ bí mật. Vì lúc này còn nhiều lý do tế nhị - việc vào Nam chiến đấu là hoàn toàn chính đáng, đây là sự nghiệp vì độc lập, thống nhất Tổ quốc nhưng không thể công khai trong lúc này. Còn phải giữ kín kể cả nếu ai đó được lựa chọn, được phổ biến nhiệm vụ, rồi vì một lý do gì đấy không đi được thì công việc vẫn không được tiết lộ, kẻ địch không từ đó mà khám phá được ý đồ lớn của ta.
Người đầu tiên tôi chọn và gặp sáng hôm ấy là chú Ba (chú ruột tôi). Chú không biết chữ, nhưng tháo vát trong công việc hàng ngày, khi chiến đấu thì binh tĩnh, gan dạ. Chú là một trong số các chiến sĩ đầu tiên của đội Danh dự, đã có nhiều thành tích chiến đấu và công tác. Tôi vừa chỉ mới ướm, chú đã nói như trách móc tôi:
- Ủa, sao mày lại phải hỏi? Mày không còn tin tao nữa hở Tư?
- Dạ tin chớ; - tôi hơi bối rối về lời trách của chú Ba, tìm cách chống chế - cháu không tin chú thì tin ai, nhưng vì đây là công việc hệ trọng, cháu cũng phải hỏi trước chú chứ.
Không cố chấp, chú hết giận, nét mặt rạng rỡ niềm vui. Thấy vậy tôi hỏi tiếp:
- Trong tiểu đoàn ta, theo chú những ai có thể trở lại quê hương đợt này?
- Tất cả! - chú Ba nói với nét mặt quả quyết, tự tin, nhấn mạnh
- Tao tin là mày chỉ cần hô lên một tiếng vào Nam chiến đấu là cả tiểu đoàn này sẽ theo lệnh của mày. Hàng ngày tao sống với tụi nó, tao hiểu lắm chứ.
Như tiếp thêm lòng tin cho tôi, vì thế công việc gặp gỡ trao đổi làm công tác chuẩn bị tiến hành rất suôn sẻ. Sau chú Ba, tôi gặp tiếp các đồng chí: Nguyễn Sách, Phạm Đình Ỷ v.v... nói chung ai cũng có tâm tư như tôi, khi biết sẽ được vô lại trong đó, thì tất cả như cái lò xo bị ép nay có dịp bung ra trút hết bầu tâm sự về nỗi nhớ về trách nhiệm với quê hương, với người thân, đều muốn nhận nhiệm vụ trở lại dù có phải xả thân cũng sẵn sàng chấp nhận.
Như vậy là tôi đã lựa đủ mười hai người theo danh sách đưa trước cho anh Hữu. Tất cả đều mong ngày lên đường. Tôi đả thông anh em (tất nhiên là vẫn theo phương thức gặp riêng từng người) cứ bình tĩnh, sẵn sàng, còn ngày nào đi, đi như thế nào, chờ lệnh cấp trên. Ngay tôi cũng vậy, củng chỉ biết chọn người và chuẩn bị kỹ về tư tưởng cho anh em. Chỉ được anh Hữu cho biết thêm là ta sẽ đi theo hình thức vừa công khai vừa bất hợp pháp. Nghĩa là ta giả dạng một đơn vị quân đội đối phương đi theo bìa rừng Trường Son, có đoạn phải đi sâu hơn vào giáp núi cao, rừng già, vì thế cần phải trang bị từ súng đạn, giày dép, thắt lưng, bi đông mang theo của mỗi người, đều phải là đồ của Pháp. Kiếm những thứ này lúc ấy không khó, nhất là chúng tôi vừa qua đợt hoạt động Đông Xuân 1953 - 1954, nên ít nhiều ai cũng mang trong mình một vài thứ trang bị của Pháp. Vấn đề là làm thế nào thu được đồng bộ các thứ đó để trang bị hoàn chỉnh cho một tiểu đội mười hai người mà vẫn không lộ bí mật. Nghĩ tới nghĩ lui, tôi bàn với anh Châu Khải Địch là tập hợp đơn vị tuyên bố thu tất cả các trang bị cũ đang nằm rải rác trong đơn vị, thay bằng trang bị của ta cho thống nhất, thực hiện chính quy hóa quân đội mà.
Đang lúc hào hứng chuẩn bị như thế, thì tôi nhận điện của cấp trên thu xếp đi học. Tôi hơi hoang mang: Hay là trên không tin mình nữa hoặc nhiệm vụ thay đổi chăng?
Nhưng khi đến lóp học mới vỡ lẽ - là học những vấn đề cần thiết cho chuyến đi. Lớp học do Cục Quân báo Bộ Tổng Tham mưu phụ trách với các nội dung chụp ảnh, cách làm con dấu và làm căn cước; đóng các vai sĩ quan ngụy và tư sản... Được giải thích đây là những nội dung cần thiết cho hoạt động hợp pháp (mà thật, khi đến Khánh Hòa những điều tôi học được ở lóp bồi dưỡng ngắn ngày này đã phát huy tác dụng. Tác dụng như thế nào, tôi sẽ kể tiếp dưới đây cùng bạn đọc).
Từ lóp học trở về, tôi được lệnh cùng anh em chuẩn bị gấp cho ngày lên đường. Tuy nhiên ngày giờ cụ thể trên vẫn chưa cho biết.
Trong cuộc đời hoạt động, chúng tôi chưa có buổi lên đường nào vừa háo hức lại vừa hồi hộp như buổi lên đường này.


