Bài viết

Lịch sử Bộ đội Biên phòng Cao Bằng 1959-2009

Từ xa xưa, Cao Bằng có vai trò, vị trí chiến lược đặc biệt quan trọng nhiều mặt trong sự nghiệp dựng nước và giữ nước của dân tộc. Từ khi có ánh sáng cách mạng, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, Cao Bằng đã là “ngọn nguồn”, là “quê hương cách mạng” của Việt Nam. Vì thế, miền biên cương này trở thành một địa danh lịch sử, niềm tự hào không chỉ của Đảng bộ và nhân dân các dân tộc Cao Bằng, mà còn là niềm tự hào của mọi người dân Việt Nam và bè bạn năm châu. Trong sự nghiệp xây dựng và

Lai Châu02/07/2026Quân đội nhân dân (xã Sìn Hồ)1 lượt xem0 lượt chia sẻ
CAO BẰNG
VỊ THẾ - CON NGƯỜl - TRUYỀN THỐNG


Cao Bằng là tỉnh biên giới, miền núi thuộc vùng Đông Bắc Việt Nam. Nhiều công trình khoa học đã chứng minh Cao Bằng là một miền đất cổ, có lịch sử lâu đời. Cách đây hàng vạn năm, trên miền đất địa đầu này, người cổ đại đã từng sinh sống. Sách Dư địa chí của Nguyễn Trãi viết: “Cao Bằng xưa là ngoại địa của bộ Vũ Định, Đông và Bắc giáp Lưỡng Quảng, Tây và Nam giáp Thái Nguyên, Lạng Sơn, có 1 lộ phủ, 4 châu, 273 làng xã. Là phên dậu thứ tư về phía Bắc”1 của đất nước. Nhà Tống bên Trung Quốc cũng từng cho rằng Cao Bằng là “cổ họng của Giao Chỉ”2.

Sách Đại Nam nhất thống chí, cho biết Cao Bằng từ “đời Hùng Vương xưa là bộ Vũ Định, đời Tần thuộc Tượng quận, đời Hán thuộc quận Giao Chỉ. Nước ta từ đời Lý về sau là đất Thái Nguyên. Thời thuộc Minh là đất phủ Lạng Sơn. Đời Lê, năm Thuận Thiên thứ nhất thuộc Bắc Đạo, năm Quang Thuận thứ 7 đặt Thái Nguyên thừa tuyên, gọi là phủ Cao Bình lãnh 4 châu là Thái Nguyên, Lộng Nguyên, Thượng Lang, Hạ Lang, sau đổi châu Thái Nguyên thành châu Thạch Lâm, Lộng Nguyên làm châu Quảng Uyên, đời Quang Hưng (1578 - 1599) sau khi nhà Mạc mất, đồ đảng họ Mạc là bọn Kính Cung, Kính Khoan và Kính Vũ lẩn lút ở Cao Bằng chiếm cứ 4 châu gần 70 năm, năm Vĩnh Trị thứ 2 (1676) quan quân tiến đánh, bọn Kính Vũ chạy sang đất nước Thanh, quan quân bình định 4 châu mới đặt riêng làm trấn Cao Bình, đặt quan cai trị, không lệ vào Thái Nguyên nữa. Lãnh một phủ (phủ Cao Bình) 4 châu đều theo tên cũ, vẫn do thổ ty chia nhau quản trị. (Đời Tây Sơn gọi là Cao Bằng), bản triều đầu đời Gia Long vẫn theo như thế, đặt các chức trấn thủ, hiệp trấn và tham trấn...”3 để cai quản. Dưới châu có các tổng, rồi đến phường, động, trại. Triều vua Minh Mệnh đổi trấn làm tỉnh, Cao Bằng được gọi là tỉnh. Từ năm Tự Đức thứ 4, tỉnh Cao Bằng gồm 1 phủ Trùng Khánh và 5 huyện Thạch Lâm, Thạch An, Quảng Uyên, Thượng Lang, Hạ Lang.

Năm 1888, thực dân Pháp chia Bắc kỳ thành 14 quân khu. Mỗi quân khu có tiểu quân khu và các đồn binh, do một sĩ quan cấp đại tá cai quản. Quân khu Cao Bằng lúc này có Tiểu quân khu Cao Bằng và 9 đồn binh: Cao Bằng, Sóc Giang, Nguyên Bình, Ngân Sơn, Trà Lĩnh, Trùng Khánh, Hạ Lang, Phúc Hoa, Nam Nạng. Năm 1891, Pháp bỏ cấp quân khu và lập ra ở các tỉnh miền núi phía Bắc 4 đạo quan binh. Cuối năm 1919, Pháp chia Bắc kỳ thành 21 tỉnh, 2 thành phố (Hà Nội, Hải Phòng) và 4 đạo quan binh. Cao Bằng lúc đó là một tiểu quân khu thuộc Đạo quan binh 2 Lạng Sơn. Sau đó, tiểu quân khu Cao Bằng chuyển thành Đạo quan binh 2 Cao Bằng, chỉ huy sở đặt tại thị xã Cao Bằng và có 3 tiểu quân khu: Cao Bằng, Bảo Lạc, Bắc Kạn.

Cao Bằng hiện có diện tích 6.719,56 km2, nằm ở tọa độ 22°21'21” đến 23°07'12” vĩ Bắc, 105°16,15” đến 106°51'25” kinh Đông. Phía Bắc và Đông, tỉnh Cao Bằng giáp các địa phương cấp thị Bách Sắc, Sùng Tả và các huyện Nà Po, Trịnh Tây, Đại Tân, Long Châu, tỉnh Quảng Tây - Trung Quốc. Phía Tây giáp 2 tỉnh Hà Giang và Tuyên Quang. Phía Nam giáp 2 tỉnh Bắc Kạn và Lạng Sơn. Cao Bằng có đoạn biên giới quốc gia dài 332 km, được thiết kế 468 cột mốc (theo Hiêp ước biên giới trên đất liền Việt Nam - Trung Quốc, ký ngày 30.12.1999).

Năm 2007, dân số Cao Bằng có 522.118 người, gồm nhiều dân tộc cùng chung sống. Trong đó, hai tộc người có số lượng đông nhất là người Tày (42,54%), người Nùng (31,81%). Tiếp đến là người Dao (9,47%), người Mông (8,96%), người Kinh (4,5%), người Hoa (0,03%), người Sán Chỉ (1,18%), người Lô Lô (0,33%)... Dân cư trong tỉnh phân bố không đều. Mật độ dân số tập trung đông ở các thị xã, thị trấn, vùng thấp; thưa thớt ở các vùng cao, vùng sát biên giới.

Tỉnh Cao Bằng hiện nay được tổ chức thành 13 đơn vị hành chính, gồm thị xã Cao Bằng và 12 huyện: Bảo Lâm, Bảo Lạc, Thông Nông, Hà Quảng, Trà Lĩnh, Trùng Khánh, Hạ Lang, Phục Hoà, Thạch An, Quảng Uyên, Hoà An, Nguyên Bình. Trong đó, nội địa gồm 3 huyện Nguyên Bình, Hoà An, Quảng Uyên và thị xã Cao Bằng; giáp biên giới Việt Nam - Trung Quốc có 9 huyện, 46 xã và 3 thị trấn: Tà Lùng, Hoà Thuận và Hùng Quốc.
______________________________________
1. Nguyễn Trãi: Toàn tập: Dư địa chí. Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, 1969, tr.220.
2. Hoàng Xuân Hãn: Lý Thường Kiệt: Lịch sử ngoại giao và tôn giáo của triều Lý. Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, 1966, tr.268.
3. Đại Nam nhất thống chí, tập IV. Quyển XXV. Tỉnh Cao Bằng, mục dưng đặt và diên cách. Nxb Khoa học xã hội. Hà Nội, 1972, tr.402 - 403.

Logged

chuongxedap

Đại tá
*
Bài viết: 13633


Re: Lịch sử Bộ đội Biên phòng Cao Bằng 1959-2009« Trả lời #3 vào lúc: 27 Tháng Tư, 2023, 06:51:05 pm »

Địa hình Cao Bằng nhiều núi đá, rừng cây rậm rạp, chiếm gần 90% diện tích toàn tỉnh; nhiều song suối, thung lũng, nhiều đèo dốc hiểm trở, độ chia cắt lớn trên bình diện toàn tỉnh, trở ngại lớn cho hoạt động giao thông vận tải và rất khó khăn cho cả việc điều tra, khảo sát phục vụ hoạch định các chiến lược phát triển kinh tế, xã hội, quốc phòng, an ninh cũng như việc thực hiện cơ động lực lượng, phương tiện phục vụ nhiệm vụ quốc phòng - an ninh khi cần.

Độ cao trung bình của tỉnh khoảng 200m. Vùng gần biên giới Việt Nam - Trung Quốc có độ cao từ 600 đến 1.300m; thấp dần từ Tây Bắc xuống Đông Nam và nghiêng từ Tây sang Đông. Địa hình của Cao Bằng có 3 miền cơ bản: miền núi đá vôi chiếm phần lớn đất đai nửa phía Đông của tỉnh; miền núi cao chủ yếu là vùng đất phía Tây và Nam của tỉnh, gồm các huyện Bảo Lâm, Bảo Lạc, Nguyên Bình và một số xã phía Nam huyện Thạch An; miền núi thấp và thung lũng, chủ yếu là vùng đất xen giữa các dãy núi cao. Các thung lũng ở đây lớn nhỏ phụ thuộc vào khoảng trống giữa các dãy núi. Lớn hơn cả là thung lũng thuộc các huyện Hoà An, Nguyên Bình, Thạch An, các thung lũng Bắc Vọng, Quây Sơn (Trùng Khánh) và Cần Yên (Thông Nông). Trong đó lớn nhất là cánh đồng Hoà An, dài khoảng 30km (từ đầu khu vực Mỏ Sắt thuộc xã Dân Chủ đến hết xã Chu Trinh của huyện Hoà An), với diện tích trồng lúa gần 6.500 ha. Cánh đồng Hoà An là vựa lúa lớn nhất của tỉnh1.

Địa hình Cao Bằng núi non trùng điệp, tạo thành những cụm điểm cao quan trọng về mặt quân sự như: Khau Liêu (Trùng Khánh), Khau Mòn (Hạ Lang), Khau Chỉa (Phục Hoà), Bá Quảng, Khau Khoang (Thạch An), Mã Quỷnh (Thông Nông). Đặc biệt là đèo Mã Phục (Trà Lĩnh) một điểm cao lợi hại có thể khống chế một vùng khá rộng nằm trên trục đường từ thị xã Cao Bằng đi các huyện miền Đông (Trà Lĩnh, Quảng Uyên, Phục Hoà, Hạ Lang, Trùng Khánh). Ngoài ra còn có những ngọn núi cao như đỉnh Phja Dạ (Bảo Lâm) cao 1.980m, Phja Oắc cao 1.931m, Phja Đén (Nguyên Bình) cao 1.428m...

Cao Bằng có một hệ thống sông, suối khá dày đặc. Các sông, suối ở đây phần lớn bắt nguồn từ Trung Quốc và từ các khe suối của các vùng núi cao ở các huyện Bảo Lâm, Bảo Lạc, Nguyên Bình nên thường có độ dốc lớn và chảy theo hướng Tây Bắc - Đông Nam, hoặc theo hướng Bắc - Nam. Những sông chính của Cao Bằng gồm có: sông Bằng (thường gọi là Bằng Giang) bắt nguồn từ biên giới Việt - Trung là con sông lớn nhất tỉnh. Phần chảy trong tỉnh Cao Bằng dài khoảng 113km. Sông Gâm bắt nguồn từ Trung Quốc, chảy trong địa phận tỉnh Cao Bằng 55km. Sông Quây Sơn bắt nguồn từ khu vực biên giới chảy trong địa phận huyện Trùng Khánh 76km. Sông Bắc Vọng bắt nguồn từ biên giới Việt Nam - Trung Quốc chảy vào địa phận huyện Trà Lĩnh và một số huyện trong tỉnh, qua Phục Hoà, rồi chảy sang Trung Quốc. Mùa khô, thượng nguồn các con sông gần như cạn kiệt. Mùa mưa, mực nước ở nhiều sông, suối, hồ dâng lên rất cao, thường gây ra lũ lụt lớn, thiệt hại nhiều cho mùa màng; sạt lở nhiều tuyến đường, gây khó khăn lớn cho các hoạt động giao thông vận tải, đi lại giữa các địa phương trong tỉnh và với các tỉnh khác.

Dưới thời Pháp thuộc, một số tuyến đường được mở mang nhằm phục vụ cho mục đích nô dịch và khai thác, vơ vét tài nguyên của nước ta. Từ đó, hình thành 3 tuyến đường chính là: Quốc lộ số 4 từ thị xã Cao Bằng đi Lạng Sơn. Quốc lộ 3A từ cửa khẩu Tà Lùng (huyện Phục Hoà) về thị xã Cao Bằng, qua huyện Nguyên Bình sang Bắc Kạn. Quốc lộ 3B từ Khau Đồn, huyện Hoà An, cách thị xã Cao Bằng 8km, rẽ từ quốc lộ 3A qua Nguyên Bình sang huyện Ngân Sơn (tỉnh Bắc Kạn) và gặp lại quốc lộ 3A tại Nà Phặc. Hiện nay, ngoài 3 tuyến quốc lộ, Cao Bằng còn có các tuyến tỉnh lộ 34, 203, 204, 205, 206, 207 - 208, 210, 211... Ở những vùng địa hình hiểm trở, chất lượng đường sá còn quá thấp kém, nhất là các xã miền núi, vùng sâu vùng xa thuộc các huyện Bảo Lâm, Bảo Lạc, Thông Nông, Quảng Uyên, Hạ Lang... nhân dân các dân tộc Cao Bằng còn làm các tuyến đường dành cho ngựa thồ, vận chuyển hàng hoá và người đi bộ.

Thời tiết và khí hậu Cao Bằng chịu ảnh hưởng của khí hậu lục địa, nhiệt đới gió mùa với hai mùa rõ rệt. Mùa khô, từ tháng 10 năm trước đến tháng 3 năm sau, mùa mưa từ tháng 4 đến tháng 9. Nhiệt độ trung bình trong mùa khô thường thấp, khoảng 8 - 15°C, có khi thấp dưới 3°C. Về mùa mưa, mưa nhiều từ tháng 5 và có năm kéo dài đến tháng 10. Lượng mưa trung bình từ 200 - 250mm nhưng không đều giữa các vùng và các mùa. Tháng 7 và tháng 8 mưa nhiều hơn nhưng cũng chỉ từ 300 - 350mm; rất hiếm khi đạt mức cao nhất là 800 - 850mm. Mùa mưa ở Cao Bằng cũng là mùa ẩm ướt, nóng nực, oi bức. Độ ẩm thường từ 80 - 90%. Nhiệt độ mùa này khoảng 25 - 27 độ C. Cao điểm có lúc đến 40 - 42 độ C.
________________________________________
1. Trong các năm từ 2001 - 2005, sản lượng lúa của Hoà An thấp nhất thường trên 26.000 tấn (2003, 2004). Năm cao nhất thường trên 27.000 tấn (2001: 27.582 tấn, 2005: 27.057 tấn). Nguồn: Niên giám thống kê tỉnh Cao Bẳng. Nxb Thống kê, Hà Nội, 2006.

Logged

chuongxedap

Đại tá
*
Bài viết: 13633


Re: Lịch sử Bộ đội Biên phòng Cao Bằng 1959-2009« Trả lời #4 vào lúc: 27 Tháng Tư, 2023, 06:55:04 pm »

Về kinh tế, Cao Bằng là một tỉnh giàu tiềm năng, sản vật, với nhiều nguồn lợi từ nông - lâm nghiệp, tiểu thủ công, du lịch, dịch vụ... Mặc dù vậy, cho đến cuối thế kỷ XX, nền kinh tế Cao Bằng chủ yếu là nền kinh tế nông lâm nghiệp và thuần nông lệ thuộc vào thiên nhiên.

Nông nghiệp truyền thống chủ yếu là nghề trồng lúa, gồm lúa nước và lúa nương, ngô, khoai, sắn, các loại đậu đỗ, nhất là đỗ tương. Các loại cây trồng khác có thuốc lá, mía đường, chè san, chè tuyết, chè đắng, lê, mận, đào, cam, quýt, dẻ... Nhân dân Cao Bằng đã sáng tạo, khắc phục nhiều khó khăn đưa năng suất lúa của tỉnh liên tục tăng cao1. Nhìn chung, “nông nghiệp Cao Bằng đã có những bước đi vững chắc đảm bảo cho sự phát triển trong tương lai và cho một vị trí xứng đáng trong nền kinh tế chung của toàn tỉnh”2.

Trong nông nghiệp, chăn nuôi đóng góp một tỷ trọng đáng kể với đàn gia súc, gia cầm có số lượng lớn và liên tục tăng. Riêng năm 2005, đàn trâu bò của tỉnh có 237. 012 con, lợn có 308.796 con, ngựa có 13.478 con, dê có 16.559 con, gia cầm có 1.967.323 con.

Lâm nghiệp là một thế mạnh của tỉnh, với diện tích rừng và đất rừng có độ che phủ trên 60%. Lâm thổ sản của Cao Bằng có nhiều loại gỗ quý, màu sắc đẹp, có giá trị kinh tế cao như hoàng đàn, du sam, nghiến, dổi, chò... Cây dược liệu trong tỉnh khá phong phú như các loại đỗ trọng, tam thất, sâm nam, hà thủ ô đỏ, kim tiền thảo, ô đầu, hồi... Cây công nghiệp có khá nhiều loại có dầu như trẩu, lai. Động vật, có nhiều loại thú quý hiếm như hổ, báo, hươu, nai, lợn rừng, sơn dương, cầy hương...

Công nghiệp của Cao Bằng từ cuối thế kỷ XX sang đầu thế kỷ XXI đang bước vào thời kỳ phát triển. Trong đó, thế mạnh là công nghiệp khai khoáng do tỉnh có nhiều điểm quặng khoáng sản và có những loại quý hiếm như antimon, thiếc, vonfram, uranium, vàng, bạc, sắt, gang, đồng, chì, kẽm, bô xít nhôm, mangan, niken, than...

Tiểu thủ công nghiệp trong tỉnh có từ lâu đời, biểu hiện nét riêng bản sắc văn hoá các dân tộc, nổi tiếng với nhiều nghề thủ công như dệt, nhuộm vải chàm. Nghề dệt thổ cẩm đẹp có tiếng ở các xã Đào Ngạn, Phù Ngọc (huyện Hà Quảng), thị trấn Nước Hai (huyện Hoà An); nghề rèn ở xã Phúc Sen, huyện Quảng Uyên; nghề đúc gang, sản xuất lưỡi cày, chảo gang, kiềng đun bếp, hạt gang làm đạn súng kíp ở xã Kéo Yên, huyện Hà Quảng; nghề trồng mía, làm đường phên ở huyện Phục Hoà; nghề làm giấy bản từ các loại cây dó, vầu, trúc ở xã Trường Hà (huyện Hà Quảng), xã Phúc Sen (huyện Quảng Uyên), xã Yên Lạc (huyện Nguyên Bình). Các nghề đẽo, chạm đá; nghề đan chiếu từ lạt giang, tre, trúc ở nhiều huyện như Thạch An, Phục Hoà, Quảng Uyên, Trùng Khánh; nghề làm đồ gốm ở Hoà An...

Thiên nhiên còn tạo cho Cao Bằng có nhiều danh lam, thắng cảnh như động Ngườm Ngao, thác Bản Giốc (xã Đàm Thuỷ, Trùng Khánh), hồ Thăng Hen (xã Quốc Toản, huyện Trà Lĩnh)...

Lịch sử cũng để lại những khu di tích lịch sử nổi tiếng như Pác Bó (xã Trường Hà, Hà Quảng), nơi Bác Hồ về nước ngày 28.1.1941, đặt đại bản doanh cách mạng để chỉ đạo phong trào chống Pháp - Nhật trong cả nước; khu rừng Trần Hưng Đạo (huyện Nguyên Bình) nơi khai sinh Đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân, tổ chức tiền thân của Quân đội nhân dân Việt Nam ngày nay; vùng núi Lam Sơn (xã Hồng Việt, Hoà An), căn cứ địa của Liên Tỉnh uỷ Cao - Bắc - Lạng trước năm 1945; Đông Khê (Thạch An) nơi diễn ra chiến dịch biên giới năm 1950, mở đầu cho các chiến thắng lớn trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp...

Thị trấn Tà Lùng (huyện Phục Hòa) là thị trấn biên giới có cửa khẩu Tà Lùng đối diện với thị trấn Thủy Khẩu (huyện Long Châu, tỉnh Quảng Tây, Trung Quốc). Hai nước Việt Nam - Trung Quốc thông thương nhau qua cầu Tà Lùng, chiếc cầu nằm ở điểm cuối của Quốc lộ 3 bắc qua sông Bắc Vọng. Tà Lùng thuộc địa bàn Đồn Biên phòng Tà Lùng, Bộ đội Biên phòng Cao Bằng phụ trách quản lý, bảo vệ biên giới quốc gia với đoạn biên giới dài 15,4 km chạy trên sông Bắc Vọng. Ngày 5.3.1952, tại trận địa phòng không gần cầu Tà Lùng, Đại đội pháo cao xạ 612 bắn rơi một máy bay của quân Pháp. Đó là chiếc máy bay của giặc Pháp đầu tiên bị pháo cao xạ của Quân đội nhân dân Việt Nam bắn rơi.

Là một tỉnh biên giới giữ vị trí phên dậu của quốc gia, việc quản lý, bảo vệ biên giới ở Cao Bằng luôn được mọi triều đại và các thế hệ quan tâm và là công việc tất yếu hằng xuyên của đất nước. Do vị trí chiến lược quan trọng về nhiều mặt nên hàng ngàn năm qua vùng đất Cao Bằng đã từng nhiều lần bị các tập đoàn phong kiến phương Bắc xâm chiếm. Sử sách còn ghi rõ, nhân dân Cao Bằng đã sát cánh cùng các địa phương trong nước làm nên thắng lợi của cuộc khởi nghĩa Hai Bà Trưng, lật đổ ách thống trị nhà Đông Hán vào năm 40 - 43, đầu thế kỷ I. Ngày nay, nhân dân Tày, Nùng ở Việt Bắc, nhân dân Choang ở Long Châu (Quảng Tây, Trung Quốc) còn giữ nhiều kỷ niệm và truyền thuyết về tổ tiên xưa tham gia cuộc khởi nghĩa Hai Bà Trưng”3.
______________________________________
1. Từ năm 1993 - 2005, sản lượng lúa tăng từ 29,5 lên 36,64 tạ/ha. - Nguồn: Niên giám thống kê Cao Bằng 2005.
2. Địa chí Cao Bằng. Nxb Chính trị Quốc gia
3. Ủy ban Khoa học xã hội: Lịch sử Việt Nam. Tập I. Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, 1971, tr.82.

Logged

chuongxedap

Đại tá
*
Bài viết: 13633


Re: Lịch sử Bộ đội Biên phòng Cao Bằng 1959-2009« Trả lời #5 vào lúc: 30 Tháng Tư, 2023, 03:41:06 pm »

Sau hơn 1.000 năm Bắc thuộc, nước ta bước vào kỷ nguyên độc lập. Ngay từ đầu, các triều Tiền Lê (980 - 1009), Lý (1010 - 1225) đã đặc biệt quan tâm và “cẩn thận về biên phòng”1. Nhà Lý vừa thực hiện các biện pháp nhằm ổn định vùng biên cương phía Nam, vừa tổ chức, thu phục lực lượng vũ trang tại chỗ (gọi là thổ binh), giao cho tri châu hoặc châu mục kiêm quản ở các châu, trại biên giới phía Bắc. Các tri châu và châu mục là những thổ tù địa phương được triều đình giao cho việc cai quản cư dân vùng biên và chỉ huy thổ binh khi có biên sự để giữ gìn an ninh, bảo vệ đất đai, dân cư thuộc địa hạt từng châu, trại; cùng triều đình giữ yên bờ cõi. Nhờ đó, cương giới phương Bắc và phía Nam của Tổ quốc được bảo vệ vững chắc.

Từ sau cuộc nổi dậy của Nùng Trí Cao2, các dân tộc trên địa bàn Cao Bằng ngày càng đoàn kết, gắn bó chặt chẽ, cùng các dân tộc anh em khác trong quốc gia Đại Việt tăng cường các hoạt động củng cố chính quyền tự chủ, kiên quyết đấu tranh chống lại mưu đồ bành chướng của các vương triều phong kiến phương Bắc, giữ gìn an ninh và bảo vệ toàn vẹn cương vực, lãnh thổ của đất nước.

Đầu năm 1075, nhà Tống cho quân tấn công vào châu Quảng Nguyên, vùng đất có tiếng nhiều vàng của Cao Bằng. Tại đây, cùng với quân đội triều đình, 5.000 dân binh Cao Bằng do lực lượng thổ binh làm nòng cốt và tướng Lưu Kỷ - một tướng tài của châu Quảng Nguyên - chỉ huy đã chặn đánh địch. Cùng với Lưu Kỷ, các thủ lĩnh Nông Trí Xuân, Hoàng Lục... cùng chỉ huy quân từ các khe, động, trại đánh địch. Trong các trận đánh quân Tống xâm lược, Hoàng Lục chỉ huy mưu trí, hiệu quả, làm kẻ thù nhiều phen khiếp sợ, được triều Lý phong danh hiệu “An biên tướng quân”.

Trước dã tâm xâm lược bờ cõi Đại Việt của nhà Tống ngày càng lộ rõ, tháng 10.10753, nhà Lý quyết định huy động 10 vạn thuỷ binh và bộ binh (trong đó có nhiều thổ binh người Cao Bằng) giáng đòn phủ đầu vào đất Tống để chủ động đập tan mưu đồ xâm lược của chúng. Ba mục tiêu nhà Lý lựa chọn tấn công là Ung Châu, Khâm Châu và Liêm Châu.

Cuối năm 1076 đầu năm 1077, lực lượng chủ yếu của quân Tống vượt biên giới tiến vào Đại Việt và bị chặn đánh ở nhiều nơi. Trong đó có đội quân do Hoàng Lục, người xã Đình Phong, huyện Trùng Khánh chỉ huy chặn đánh quyết liệt trên đường quân Tống tiến quân. Cuộc chiến kéo dài. Quân Tống ngày càng gặp nhiều khó khăn và lún sâu vào thế bị sa lầy.

Để gỡ thể diện cho “đại quốc” và cốt để yên dân, nhà Lý chủ động xin giảng hoà, đồng thời đưa ra “điều kiện” nếu quân Tống rút về nước thì Đại Việt sẽ sai sứ sang nộp và “cắt đất” cho nhà Tống. Vua Tống đã lệnh bãi binh vào tháng 2.1077. Đại Việt báo cắt cho nhà Tống 5 châu, huyện gồm: Quảng Nguyên, Tư Lang, Môn, Tô Mậu và huyện Quang Lang. Nhưng khi quân Tống rút về nước, quân dân ta đã lập lại chủ quyền ở 4 châu, huyện. Riêng châu Quảng Nguyên, vẫn bị quân Tống chiếm giữ. Cuối cùng, do nhà Lý kiên trì và khéo léo đấu tranh ngoại giao, nhà Tống phải trả lại ta vùng đất Quảng Nguyên. Đại Việt bảo toàn được lãnh thổ và bước vào thời kỳ hưng thịnh dưới Lý. Vua Lý Nhân Tông (1072 - 1128) từng tâm đắc: “bốn biển yên lành, biên thuỳ ít biến”.

Dưới triều đại Trần, nhân dân Đại Việt trong đó có nhân dân các dân tộc Cao Bằng đã 3 lần kháng chiến chống quân Mông Nguyên xâm lược và cả 3 lần đều thắng lợi (1258, 1285, 1287 - 1288). Ở mặt trận Cao Bằng, thủ lĩnh châu Thượng Lang là Hoàng Thắng Hứa đã chỉ huy thổ binh ra sức chiến đấu, tiêu hao sinh lực, ngăn chặn và kìm chân địch ngay tại biên giới.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn