Lịch sử các Vua Hùng và Lễ Giỗ Tổ Hùng Vương
e là tên nôm của làng Trẹo (nay là làng Triệu Phú) tức làng Cả, một làng được giao trông nom việc thờ cúng các Vua Hùng trước đây.
Chỉ đến thời Lê, với mục tiêu chính trị rõ ràng, nhằm khẳng định bề dạy lịch sử của dân tộc mình, sự thừa kế của triều đại mình đối với các bậc tiên liệt, Lê Thánh Tông đã phong ngọc phả, giải thích cội nguồn Vua Hùng và kể từ đó lễ hội của địa phương trở thành một hình thức lễ hội mang tính chất Nhà nước.
Như vậy, kể từ thời Hồng Đức, việc giỗ Tổ được quy định một cách chặt chẽ hơn và được giao cho địa phương phụ trách thực hiện. Cứ năm năm một lần nhà vua ban cho 3 đấu gạo để nấu bánh chưng dâng lên Tổ. Lúc đầu ngày giỗ Tổ là 12-3 âm lịch theo tập quán của địa phương nhưng từ thời Lê quy định vào ngày 10-3 âm lịch có đại diện Triều đình về cùng quan hàng tỉnh cúng lễ, dâng hương từ đó trở thành nếp.
Đến năm 1917, lúc đó Bắc kỳ là đất bảo hộ nằm trong hệ thống thuộc địa của đế quốc Pháp, lần đầu tiên chính quyền bảo hộ cho phép các quan chức của địa phương chính thức tổ chức lễ hội. Năm đó một hệ thống các di tích vật thể được xây dựng và trùng tu tại khu đất Tổ hiện nay.
Sau Cách mạng tháng Tám năm 1945, năm 1946 nhân dịp giỗ Tổ Hùng Vương, Phó Chủ tịch nước là cụ Huỳnh Thúc Kháng đã lên Đền Hùng dâng hương và dâng theo một tấm bản đồ nước Việt Nam độc lập.
Ngày 19-9-1954, tại Đền Hùng trên núi Nghĩa Lĩnh, Bác Hồ đã nói chuyện với cán bộ, chiến sỹ Đại đoàn quân Tiên phong chuẩn bị về tiếp quản Thủ đô, Bác Hồ đã nói: “Các Vua Hùng đã có công dựng nước, Bác cháu ta phải cùng nhau giữ lấy nước”. Thật là kỳ diệu bởi vì lúc đó do nhiều nguyên nhân khác nhau việc nghiên cứu khoa học về thời đại Hùng Vương còn rất hạn chế nhưng Bác Hồ là người đầu tiên đã khẳng định một thời đại khai sinh của lịch sử dân tộc với công lao của các Vua Hùng, đồng thời cũng khẳng định trách nhiệm của các thế hệ người Việt Nam đối với tổ tiên, đối với đất nước.
Hiện nay Đảng và Nhà nước ta đưa giỗ Tổ Hùng Vương trở thành một ngày lễ lớn của dân tộc, một ngày Quốc Lễ là một dấu mốc rất quan trọng không chỉ đối với lịch sử tồn tại của một lễ hội cụ thể trong rất nhiều lễ hội của dân tộc mà còn thể hiện bước phát triển rất quan trọng về nhận thức của Đảng và Nhà nước ta, gắn liền sự nghiệp Cách mạng với truyền thống dân tộc, gắn liền sức mạnh của thời đại với cả bề dày lịch sử và bản lĩnh được tạo dựng trong quá khứ. Đây là một việc làm rất có ý nghĩa đồng thời cũng rất quan trọng đòi hỏi chúng ta phải quán triệt từ các cơ quan có trách nhiệm đến nhân dân để làm tốt Lễ Giỗ Tổ Hùng Vương hàng năm, tạo sức bật mới để thúc đẩy quá trình đổi mới và phát triển của đất nước . /.


