Nơi ra đời của đội Cứu quốc quân là vùng Bắc Sơn — Võ Nhai. Bắc Sơn là một châu thuộc tỉnh Lạng Sơn. Võ Nhai là một châu thuộc tỉnh Thái Nguyên. Tuy ở hai tỉnh, nhưng là hai châu kề sát nhau, có mối quan hệ khăng khít với nhau từ lâu đời. Đời Lý, đời Trần, Bắc Sơn và Võ Nhai cùng nằm trong một châu gọi là châu Vạn Nhai. Đến đời Lê gọi là châu Vũ Lễ. Sang đời Hậu Lê mới gọi là châu Võ Nhai. Đến năm 1804, thực dân Pháp tách một phần đất đai châu Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên, để lập ra châu Bắc Sơn thuộc tỉnh Lạng Sơn.
Bắc Sơn, Võ Nhai là hai châu miền núi. Nơi đây rừng già, núi đất, núi đá vôi hiểm trở, đi lại khó khăn, đã từng là một trong những địa bàn hoạt động chống Pháp của nghĩa quân Hoàng Hoa Thám, Hoàng Đình Kinh. Núi đất, rừng già cây cối um tùm, rậm rạp. Núi đá cao ngất có những vách đá tai mèo dựng đứng và nhiều hang động to rộng. Đó là những phòng tuyến thiên nhiên kiên cố ngăn cản bước tiến của kẻ địch. Nhưng đối với cách mạng, đây lại là địa bàn tương đối thuận lợi để xây dựng, che giấu và bảo toàn lực lượng.
Vùng Bắc Sơn — Võ Nhai nằm ở vị trí rất cơ động. Từ Bắc Sơn — Võ Nhai có thể nhanh chóng liên lạc ra vùng biên giới Việt — Trung, nhanh chóng tiến về đồng bằng và trung du theo hai hướng: xuống Phú Bình, Đồng Hỷ (tỉnh Thái Nguyên), và xuống Hữu Lũng, Yên Thế (tỉnh Bắc Giang). Do đó, trong những năm ba mươi của thế kỷ này, Đảng cộng sản Đông Dương đã xây dựng nơi đây thành một đầu mối giao thông quan trọng giữa bộ phận ở trong nước với bộ phận ở ngoài nước.
Bắc Sơn và Võ Nhai là địa bàn sinh sống từ lâu đời của đồng bào các dân tộc anh em Tày, Nùng, Dao Kinh. Sinh sống trên mảnh đất giàu đẹp nhưng điều kiện thiên nhiên lại có phần khắc nghiệt này, đồng bào các dân tộc đã được rèn luyện các đức tính cần cù, thông minh và dũng cảm. Đồng bào các dân tộc ở đây còn có truyền thống đoàn kết, thương yêu giúp đỡ lẫn nhau trong lao động sản xuất, khi gặp thiên tai, hoạn nạn. Những đức tính quý báu và truyền thống tốt đẹp đó đủ bảo đảm cho đồng bào các dân tộc Bắc Sơn, Võ Nhai có được cuộc sống ấm no, hạnh phúc, Nhưng dưới ách áp bức và bóc lột của thực dân Pháp cùng bè lũ tay sai của chùng, đời sống của đồng bào các dân tộc Bắc Sơn, Võ Nhai vô cùng cực khổ, tối tăm. Đời sống vật chất của đồng bào thì cùng quẫn và đói khát bởi biết bao thứ thuế bất công phi lý của thực dân Pháp; bởi sự ăn bớt, ăn chặn, ức hiếp mọi bề của bọn hào lý tay sai. Đời sống tinh thần của đồng bào thì tối tăm, lạc hậu vì chính sách kìm hãm, nô dịch và đầu độc của thực dân Pháp bằng việc khuyến khích các tệ nạn mê tín, dị đoan, rượu chè, cờ bạc, hút xách... Thâm độc hơn, thực dân Pháp còn triệt để thi hành chính sách chia rẽ dân tộc để dễ bề cai trị và bóc lột nhân dân ta. Hết thảy các dân tộc Bắc Sơn, Võ Nhai đều căm ghét thực dân Pháp cùng bè lũ tay sai của chúng.
Với tình hình và đặc điểm trên đây, Bắc Sơn và Võ Nhai là mảnh đất tốt để gieo hạt giống cách mạng. Trong những năm 1935, 1936, 1937, Đảng ta đã cử cán bộ đến Bắc Sơn, Võ Nhai xây dựng cơ sở Đảng và các tổ chức quần chúng của Đảng. Đến năm 1940, ở các xã Vũ Lăng, Hữu Vĩnh, Bắc Sơn, Hưng Vũ, Chiêu Vũ, Vũ Lễ, Vĩnh Yên, Vũ Địch (châu Bắc Sơn), và ở các xã Phú Thượng, Lâu Thượng, Tràng Xá, La Hiên (châu Võ Nhai) đã xây dựng được các cơ sở Đảng và các tổ chức quần chúng của Đảng.
Có áp bức là có đấu tranh, đó là một quy luật. Nhân dân các dân tộc Bắc Sơn, Võ Nhai đã nhiều lần đấu tranh chống các chính sách và thủ đoạn áp bức, bóc lột của thực dân Pháp xâm lược và bè lũ tay sai của chúng. Từ ngày có Đảng cộng sản Đông Dương (tức là Đảng lao động Việt Nam ngày nay) ra đời và cử cán bộ đến tuyên truyền và giác ngộ, phong trào đấu tranh của đồng bào các dân tộc Bắc Sơn và Võ Nhai càng sôi nổi, liên lục. Mục tiêu đấu tranh là chống chính sách bắt phu, thu thuế, chống áp bức bóc lột của thực dân Pháp và bè lũ tay sai, đòi các quyền tự do, dân chủ. Hình thức đấu tranh là đưa yêu sách cho bọn hào lý địa phương, cho chánh sứ, tuần phủ, phủ thống sứ... Cao hơn là trừng trị bọn hào lý tay sai. Phong trào đó đã nổi lên các cuộc đấu tranh tiêu biểu. Năm 1936, nhân dân Gia Hòa (châu Bắc Sơn) kiện lý trưởng Lao Văn Pháp ức hiếp nhân dân, buộc quan trên pbảỉ cách chức y. Cùng năm đó, nhân dân xã Bắc Sơn (châu Bắc Sơn) kiện lý trưởng Lường Đình Văn ăn quịt tiền, buộc y phải hoàn trả lại 30 đồng cho nhân dân. Cũng năm 1936, nhân dân bị bắt đi làm đường ở Mỏ Gà (châu Võ Nhai) đấu tranh chống bọn cai ký đánh đập phu và ăn quịt tiền công. Trong những năm 1937, 1938, thực dân Pháp tăng cường bắt phu làm con đường từ Bình Gia sang Bắc Sơn, xuống Võ Nhai. Những đảng viên cộng sản ở Bắc Sơn và Võ Nhai đã tổ chức và lãnh đạo nhân dân các dân tộc đấu tranh chống bắt đi phu trong ngày mùa. Phong trào đó đã lôi cuốn nhiều tầng lớp nhân dân lao động tham gia. Cuộc đấu tranh chống đi phu của nhân dân Võ Nhai làm cho tên tri châu Đèo Văn Long phải đổi đi nơi khác. Nhân dân Bắc Sơn họp thành đoàn biểu tình kéo lên châu đấu tranh. Cao hơn, nhân dân bị bắt đi phu còn trừng trị những tên cai, đội coi phu hống hách, như tên đội Nháy. Các cuộc đấu tranh với các mục tiêu chính trị cũng đã được tổ chức. Tháng 10 năm 1938, khoảng 100 người ở châu Võ Nhai cùng ký tên vào một bản yêu sách đòi thả chính trị phạm. Tháng 9 năm 1939, khoảng hơn 70 người ở Võ Nhai lại cùng ký tên vào một bản yêu sách chống việc quay trở lại Hiệp ước 1884. Cuộc vận động hưởng ứng phong trào «Đông Dương đại hội» cũng diễn ra sôi nổi ở Bắc Sơn và Võ Nhai.
Trong thời kỳ Mặt trận Dân chủ, những đảng viên cộng sản ở Bắc Sơn và Võ Nhai còn rải truyền đơn, treo cờ đỏ nhân những ngày kỷ niệm lịch sử như Quốc tế lao động, Cách mạng tháng Mười Nga, xô-viết Nghệ-Tĩnh... Trong thời kỳ này, các sách báo của Đảng như báo «Tin tức», «Đời nay»... được lưu hành tương đối rộng rãi ở Bắc Sơn và Võ Nhai.
Mặc dầu có những cuộc đấu tranh tự phát và dưới những khẩu hiệu kinh tế, nhưng phong trào đấu tranh đó đều có ý nghĩa chính trị sâu sắc, bao gồm đấu tranh chính trị và bạo lực của quần chúng. Nó có tác dụng giáo dục, rèn luyện và tổ chức nhân dân Bắc Sơn, Võ Nhai tiến lên con đường đấu tranh cách mạng. Truyền đơn, cờ đỏ và sách báo của Đảng đã góp phần làm cho ảnh hưởng của cách mạng ngày càng sâu rộng trong nhân dân các dân tộc Bắc Sơn, Võ Nhai. Các tổ chức cơ sở Đảng và các tổ chức quần chúng của Đảng được xây dựng trong thời kỳ 1935 —1939 cùng với truyền thống bất khuất của nhân dân các dân tộc Bắc Sơn, Võ Nhai là điều kiện rất thuận lợi để phát triển phong trào cách mạng một cách sôi nổi trong thời kỳ chiến tranh thế giới lần thứ hai (1939 —1945). Với tình hình và đặc điểm trên đây; trong trào lưu chung của phong trào cách mạng và dưới sự lãnh đạo của Đảng, phong trào cách mạng ở Bắc Sơn, Võ Nhai đã sản sinh ra đội Cứu quốc quân. | |
Logged
| Tự hào thay, mác búp đa Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng. Thô sơ, gian khổ đã từng Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên. |
|
|
macbupda Trung tá  Bài viết: 11970  Lính của PTL | 
| Lịch sử Cứu quốc quân« Trả lời #2 vào lúc: 03 Tháng Tư, 2021, 02:48:16 pm » | PHẦN THỨ HAI
QUÁ TRÌNH TRƯỞNG THÀNH CỦA CỨU QUỐC QUÂN I —SỰ CHUYỂN HƯỚNG CHỈ ĐẠO CHIẾN LƯỢC CÁCH MẠNG CỦA ĐẢNG. CUỘC KHỞI NGHĨA BẮC SƠN VÀ ĐỘI DU KÍCH BẮC SƠN Tháng 9 năm 1939, cuộc chiến tranh thế giới lần thứ hai nổ ra đã chấm dứt thời kỳ vận động dân chủ rộng lớn của nhân dân ta do Đảng ta lãnh đạo. Một thời kỳ đấu tranh mới của cách mạng Việt Nam bắt đầu. Đó là thời kỳ «Đổi đế quốc chiến tranh ra nội chiến, đổi chiến tranh cướp bóc ra chiến tranh cách mạng, đánh đổ đế quốc chủ nghĩa, dựng chính quyền cách mạng, tuyên bố ra khỏi đế quốc chiến tranh»(1).
Ngày 3 tháng 9 năm 1939, tức là hai ngày sau khi phát-xít Đức tấn công Ba Lan, đế quốc Anh và Pháp tuyên chiến với phát-xít Đức. Ngay sau khi xông vào vòng chiến, đế quốc Pháp liền thẳng tay đàn áp Đảng cộng sản Pháp và phong trào dân chủ, tiến bộ ở Pháp cũng như ở các thuộc địa của Pháp.
Ở Đông Dương, thực dân Pháp thi hành chính sách phát-xít vô cùng tàn bạo. Về chính trị, chúng ra sức đàn áp và khủng bố Đảng cộng sản Đông Dương và các tổ chức cách mạng của nhân dân Đông Dương. Về quân sự, chúng tăng cường bất lính, xây thêm sân bay, pháo đài, lập xưởng đúc đạn, thực hiện cái gọi là «tăng cường phòng thủ Đông Dương». Về kinh tế, chúng tăng sưu thuế, trưng thu, trưng dụng, mở quốc trái, lạc quyên... thực hành chính sách «kinh tế chỉ huy». Tất cả những chính sách trên đây của thực dân Pháp là nhằm tiêu diệt phong trào cách mạng Đông Dương, để giữ lấy thuộc địa Đông Dương, và để bóc lột nhân dân ta đến tận xương tủy phục vụ cho chiến tranh. Các giai cấp và tầng lớp trong xã hội Việt Nam lúc đó đều chịu ảnh hưởng tai hại của chính sách kinh tế chiến tranh của thực dân Pháp. Do đó nhiều cuộc đấu tranh đòi duy trì mức sinh hoạt của công nhân đã giành được trong thời kỳ Mặt trận Dân chủ, các cuộc đấu tranh chống sưu cao, thuế nặng, chống bắt phu và bắt lính của nông dân và các tầng lớp khác, đã nổ ra ở nhiều nơi trong cả nước.
Đứng trước những chuyển biến mới của tình hình thế giới và trong nước, tháng 11 năm 1939 Trung ương Đảng cộng sản Đông dương đã họp hội nghị lần thứ sáu để quyết định những chủ trương, chính sách mới cho phù hợp. Hội nghị nhấn mạnh giải phóng dân tộc là nhiệm vụ hàng đầu của cách mạng Đông Dương, quyết định mở rộng mặt trận dân tộc thống nhất lấy tên là Mặt trận dân tộc thống nhất phản đế Đông Dương để tập trung lực lượng chống đế quốc xâm lược và bè tũ tay sai của chúng. Hội nghị đã xác định trách nhiệm của Đảng là «Dự bị những điều kiện bước tới bạo động làm cách mệnh giải phóng dân tộc»(2), và quyết định phát triển đội tự vệ thật đông đảo và rộng khắp để tiến tới xây dựng «Quốc dân cách mệnh quân»(3).
Hội nghị lần thứ sáu của Trung ương Đảng cộng sản Đông Dương đã thấy rõ mâu thuẫn giữa nhân dân Đông Dương với đế quốc xâm lược là mâu thuẫn chủ yếu. Từ đó Hội nghị quyết nghị phải kiên quyết giương cao ngọn cờ giải phóng dân tộc, tập trung ngọn lửa cách mạng Đông Dương vào đế quốc xâm lược. Quyết nghị của Hội nghị lần thứ sáu của Trung ương Đảng đánh dấu bước chuyển hướng đúng đắn về chỉ đạo chiến lược cách mạng và mở ra một thời kỳ đấu tranh mới của cách mạng Việt Nam.
Chiến tranh giữa các tập đoàn đế quốc ngày càng lan rộng và ác liệt. Ngày 10 tháng 5 năm 1940 quân đội phát xít Đức mở cuộc tiến công vào Pháp. Chỉ trong vòng một tháng, đế quốc Pháp đã phải đầu hàng, một chính phủ bù nhìn tay sai Đức được thành lập ở Vi-si do tên thống chế Pê-tanh phản bội dân tộc Pháp cầm đầu. Nhân cơ hội đế quốc Pháp thua phát xít Đức tháng 9 năm 1940, phát xít Nhật nhảy vào xâm chiếm Đông Dương, miếng mồi béo bở mà chúng đã dòm ngó từ lâu. Thực dân Pháp vội vã đầu hàng, dâng Đông Dương cho phát xít Nhật. Nhưng, nhân dân Việt Nam bất khuất đã nổi dậy chống cả Nhật lẫn Pháp. Tiêu biểu là các cuộc khởi nghĩa Bắc Sơn (tháng 9 năm 1940), Nam-kỳ (tháng 11 năm 1940) và cuộc binh biến ở Chợ Rạng, Đô Lương (tháng 1 năm 1941).
Ngày 22 tháng 9 năm 1940, phát xít Nhật đem quân tiến vào Lạng Sơn, mở đầu cho sự xâm lược Đông Dương của phát xít Nhật, nhằm biến Đông Dương thành một bàn đạp để mở rộng cuộc chiến tranh ở Thái-bình-dương, chiếm đoạt các thuộc địa của các đế quốc Anh, Pháp, Mỹ. Khi quân Nhật đánh vào Lạng Sơn, quân Pháp ở đây đã nhanh chóng tan rã. Chỉ trong vòng hai ngày, quân Nhật đã phá tan những hệ thống phòng thủ kiên cố của Pháp ở Đồng Đăng, Na Sầm và thị xã Lạng Sơn. Tướng May-nơ-ra kéo quân xuống Đồng Mỏ, nhưng đến ngày 25 tháng 9 năm 1940 đã phải trương cờ trắng đầu hàng quân Nhật. Tàn quân Pháp bị Nhật đánh bại tháo chạy theo đường Điềm He — Bình Gia — Bắc Sơn để về Thái Nguyên. Trên đường tháo chạy, chúng vứt súng đạn dọc đường cải trang thành dân thường để che mắt quân Nhật và vào làng xin ăn. Đồng bào ở nhiều địa phương đã tự động đi thu nhặt súng đạn, có nơi còn đón đường tước vũ khí của tàn binh Pháp, Tri châu Thoát Lãng bị nhân dân địa phương nổi dậy trừng trị. Tri phủ Tràng Định và tri châu Điềm He một phần sợ Nhật và một phần sợ quần chúng đã bỏ công đường chạy trốn. Các đồn, nha ở Điềm He, Bình Gia bị nhân dân triệt phá. Chính quyền tay sai của thực dân Pháp ở nhiều nơi quân Pháp chạy qua lụng lay, tan rã; nhân dân tự đứng ra tổ chức trật tự, trị an ở làng xóm của mình.
(1) Văn kiện Đảng (1939—1945), Nhà xuất bản Sự Thật, Hà Nội, 1963, trang 110. (2) Văn kiện Đảng (1939—1945), Nhà xuất bản Sự Thật, Hà Nội 1963, tr—73. (3) Văn kiện Đảng (1939—1945), Nhà xuất bản Sự Thật, Hà Nội 1963, tr—63. | |
Logged
| Tự hào thay, mác búp đa Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng. Thô sơ, gian khổ đã từng Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên. |
|
|
macbupda Trung tá  Bài viết: 11970  Lính của PTL | 
| Lịch sử Cứu quốc quân« Trả lời #3 vào lúc: 03 Tháng Tư, 2021, 02:51:03 pm » | Nắm được cơ hội trên đây, sáng ngày 25 tháng 9 năm 1940, một số đồng chí đảng viên vừa thoát khỏi nhà tù Lạng Sơn chạy về địa phương như đồng chí Nông Văn Cún, Hoàng Đình Ruệ... đã họp với một số đồng chí đảng viên ở chi bộ Hưng Vũ, Bắc Sơn như đồng chí Dương Công Bình, Hoàng Văn Hán... tại làng Nông Lục (xã Hưng Vũ). Cuộc họp quyết định lãnh đạo nhân dân khởi nghĩa, đánh đồn Mỏ Nhài, chiếm lấy châu lỵ Bắc Sơn. Cuộc họp đã phân công các đồng chí đi về các xã Hưng Vũ, Chiêu Vũ, Bắc Sơn, Trấn Yên… vận động và tập hợp nhân dân thành lực lượng có tổ chức, có vũ trang để tiến hành khởi nghĩa.
Tám giờ tối ngày 27 tháng 9 năm 1940, khoảng 600 người trong đó có cả tổng đoàn, xã đoàn, lính và dõng, trang bị bằng các loại vũ khí như súng trường, súng kíp, giáo mác, gậy gộc... chia thành ba mũi tiến đánh đồn Mỏ Nhài. Trước sức tiến công của cách mạng, quân địch đã hoang mang lại thêm hoang mang, nên đã nhanh chóng tan rã. Tri châu Hoàng Văn Sĩ cùng binh lính ở đồn Mỏ Nhài trốn chạy qua đèo Canh Dàn sang Bằng Mạc. Quân khởi nghĩa hoàn toàn làm chủ chân lỵ. Rạng ngày 28 tháng 9, các đồng chí lãnh đạo khởi nghĩa đã tổ chức một cuộc mít tinh quần chúng ngay tại châu lỵ, tuyên bố chính quyền đế quốc không còn nữa, nhân dân tự tổ chức lấy trật tự trị an ở làng bản của mình. Sau cuộc mít tinh mọi người giải tán ra về trong niềm hân hoan, phấn khởi. Cùng ngày hôm đó, nhân dân Hưng Vũ, Chiêu Vũ đuổi đánh và tước vũ khí bọn lính bại trận ở Dập Dị và Nà Ti, diệt hai tên lính Pháp và thu vũ khí; nhân dân Nam Nhi và Tràng Sơn thì phục kích tàn binh Pháp ở đèo Canh Tiếm, Thâm Thông, diệt một tên đội người Việt và hai tên lính Pháp.
Cuộc khởi nghĩa Bắc Sơn đã giành được thắng lợi đầu tiên rất có ý nghĩa là đã đập tan chính quyền địch ở châu lỵ. Nhưng do hoàn cảnh và điều kiện lịch sử lúc đó, các đồng chí lãnh đạo khởi nghĩa không biết tiếp tục đưa phong trào cách mạng tiến lên. Sau khi làm chủ được châu lỵ các đồng chí lãnh đạo khởi nghĩa cử đồng chí Nông Văn Cún xuống Võ Nhai gặp đồng chí Chu Văn Tấn để đồng chí Chu Văn Tấn báo cáo về Xứ ủy Bắc—Kỳ xin chỉ thị.
Sau khi Pháp đã chấp thuận những yêu sách và đồng thời thấy lật đổ hoàn toàn ngay Pháp chưa có lợi, phát xít Nhật đã bắt tay với Pháp, dùng Pháp làm tên tay sai đắc lực đàn áp cách mạng Việt Nam. Do vậy, đế quốc Pháp đã nhanh chóng đưa binh lính quay trở lại Bắc Sơn đàn áp cuộc khởi nghĩa. Ngày 1 tháng 10 năm 1940, tên phó sứ tỉnh Lạng Sơn Bôn-phít cùng hai tên võ quan là Boóc-đi-ô (đồn trưởng đồn Đình Cả) và Lơ-gay (đại lý đồn Bình Gia), chỉ huy khoảng một trung đội lính khố xanh từ Đình Cả (châu Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên) tiến lên chiếm lại đồn Mỏ Nhài, tổ chức lại bộ máy cai trị của chúng tại Bắc Sơn. Thấy Pháp trở lại, những tên tổng lý, kỳ hào phản động, tham tiền và hiếu danh lại quay ra ôm chân chủ, làm mật thám chỉ điểm cho Pháp, tiến hành đàn áp phong trào cách mạng của nhân dân Bắc Sơn.
Thực dân Pháp cùng bè lũ tay sai phản động đã đàn áp, khủng bố nhân dân Bắc Sơn rất dã man. Chúng bắt bớ, bắn giết, tra tấn, tù đầy, đốt phá xóm làng, ruộng vườn những người tham gia khởi nghĩa, hòng dập tắt phong trào cách mạng Bắc Sơn trong một thời gian ngắn, có những tên tay sai đắc lực như xã đoàn Niên (Nguyên Văn Niên), chánh Hương (Nguyễn Văn Hương), lý Chẩn... chỉ lối, đưa đường, quân địch đã đốt phá một loạt nhà cửa, ruộng vườn ở Minh Đán, Nông Lục (xã Hưng Vũ), Mỏ Tát, Nam Nhi, Tràng Sơn (xã Vũ Lăng)(1), và chúng đã bắt được một số người tham gia khởi nghĩa. Địch đã bắt đầu thiết lập lại được chính quyền tay sai ở các địa phương. Chúng đem tổng đoàn Phú và tổng đoàn Vĩnh là những người tham gia cuộc khởi nghĩa Bắc Sơn ra xử bắn ở Mỏ Nhài, để khủng bố quần chúng, đồng thời cũng là để trấn an bọn tay sai. Cuộc khủng bố của địch đã phần nào gây nên sự hoang mang trong một số quần chúng. Vấn đề cấp thiết lúc này là những người lãnh đạo phải bám chắc quần chúng để giữ vững và tiếp tục đưa phong trào tiến lên.
Nhận thức rõ tầm quan trọng của cuộc khởi nghĩa Bắc Sơn, khi được báo cáo, Xứ ủy Bắc-kỳ đã cử hai xứ ủy viên lên Bắc Sơn tham gia lãnh đạo phong trào. Đầu tháng 10 năm 1940 đồng chí Trần Đăng Ninh và Nguyễn Thành Diên(2) đã lên đến Nam Nhi (xã Vũ Lăng). Qua kiểm tra và nắm tình hình, ngày 14 tháng 10 năm 1940, đồng chí Trần Đăng Ninh đã triệu tập một cuộc họp các đảng viên địa phương ở Sa Khao (xã Vũ Lăng) để phổ biến chỉ thị của Xứ ủy. Qua thảo luận, cuộc họp đã nhất trí quyết nghị:
a) Tập trung đảng viên và một số quần chúng tích cực, vận động nhân dân thu thập vũ khí để thành lập đội du kích Bắc Sơn. Xây dựng khu vực Nà Tấu (xã Ngư Viễn), Sa Khao, Mỏ Tát, Bản Me, Nam Nhi (xã Vũ Lăng) thành căn cứ của đội du kích.
b) Giải tán chính quyền địch, thu bằng triện của bọn kỳ hào, tiêu diệt bọn mật thám, tịch thu tài sản của bọn tay sai phản động đem chia cho nhân dân.
c) Tích trữ lương thực để chiến đấu lâu dài, tổ chức mit tinh diễn thuyết kêu gọi nhân dân ủng hộ cách mạng.
đ) Thành lập ban chỉ huy đội du kích gồm có các đồng chí Trần Đăng Ninh, Chu Văn Tấn... |
|
|