Khác

Lịch sử Đảng bộ xã Mỹ Thành (2)

Lịch sử hình thành và phát triển của xã Mỹ Thành

Đồng Tháp30/01/2026Xã đoàn Mỹ Thành (Xã đoàn Mỹ Thành)3 lượt xem0 lượt chia sẻ

Theo lời kể của các cụ già, vùng đất này thời đó các địa danh Đìa Thùng, Bưng Thôn Trang cá sấu nhiều, còn muỗi và đỉa nhiều vô số kể, đã đi vào ca dao: "Muỗi kêu như sáo thổi, đỉa lờn tựa bánh canh". Tương truyền, kinh Cả Gáo chính là lối mòn của đàn voi đi mà thành. Có năm voi về phá lúa, ông Đồng ở ấp Giai Phú là lính đồn điền Thiên Hộ Dương, chặt hai cây tre đực làm sào, chống xuồng ra đánh túi bụi, chúng mới chịu bỏ đi. Về sau nghe nói voi thù, chúng tìm về quật ông chết. Giao thông chưa phát triển, vùng Đồng Tháp Mười hầu như không có đường đi. Muốn đi làm đồng hoặc đi từ ấp này qua ấp khác, làng khác, người dân phải đi bằng xuồng. Ai không có xuồng phải lội bộ băng đồng, có khi đi từ làng này qua làng kia phải mất một buổi. Địa hình của làng Mỹ Thành kinh rạch không nhiều, nhưng xuyên suốt nối liền với Đồng Tháp Mười và các làng phụ cận. Hướng Đông có kinh 10; hướng Tây có kinh Đường Mương, kinh Cả Gáo; hướng Bắc có kinh Nguyễn Văn Tiếp. Nhà cửa của nhân dân thường làm dọc trên các bờ kinh, rạch để dễ dàng đi lại. Sau này, trong thời kỳ kháng chiến chống Pháp, bộ đội và nhân dân có đào thêm 3 con kinh: kinh Một Thước, kinh Kháng Chiến và kinh Chín Thôi Ở Mỹ Thành, tôn giáo có: Công giáo, Phật giáo, Cao đài, nhưng không phát triển. Về đạo Công giáo, có nhà thờ Bà Tồn do cha Bùi Văn Thấy làm linh mục có khoảng 300 giáo dân. Nhà thờ An Long ở ấp An Hòa, do cha Trần Văn Chánh làm linh mục, có 450 giáo dân. Nhà thờ này sau cắt sang cho xã Phú An. Về đạo Cao đài chỉ có một thánh thất Cao đài ở gần Ngã Năm thuộc ấp Giai Mỹ, do ông Trần Văn Đông cai quản, có khoảng 420 tín đồ. Tín ngưỡng của người dân đa số thiên về đạo Phật, thờ cúng ông bà, tổ tiên; mặc dầu không đi tu hành, nhưng ở mỗi ấp đều có đình thờ Thần Hoàng hoặc miếu thờ Bà Chúa Xứ, chủ yếu cầu mưa thuận, gió hòa cho mùa màng bội thu. Về chùa chiền, Tháp Cổ Tự ở ấp Mỹ Đa là ngôi chùa cổ kính nhất, do người Khơ - me lập. Thời Pháp thuộc, chùa bị đạn bom san bằng. Năm 1954, ông Nguyễn Công Nhất và ông Nguyễn Văn Đốm cất lại bằng cây, lá, do ông Nhất làm trụ trì, khi ông Nhất chết, ông Giàu lên làm trụ trì. Khi chưa sáp nhập, làng Giai Phú có chùa Phước Sơn do ông Thủ tạ Hiếu lập, sau này do ông Tâm làm trụ trì. Ngoài ra, làng Mỹ Thành còn có chùa Ông ở ấp An Quới và chùa Thiền Phước ở ấp Phú Vĩnh, do ông Bùi Văn Bảy làm trụ trì và đình An Long Tự do bà Huỳnh Thị Lang cất năm 1954. Đặc biệt, ở ấp 5 có đình Giai Phú, còn gọi đình Cả Gáo xây dựng năm 1866, là nơi hội họp của các đồng chí lãnh đạo cách mạng. Năm 2014, đình Giai Phú được công nhận là Di tích lịch sử - văn hóa cấp tỉnh theo Quyết định số 2711/QĐ-UBND ngày 30/10/2014 của Ủy ban nhân dân tỉnh Tiền Giang. Ngoài ra, trên bờ kinh Đìa Tháp nối với rạch Cả Gáo còn có chùa Tháp, là di tích khảo cổ học với nhiều hiện vật gốm Óc Eo và từng thờ một Linga bằng đá.

Làng Mỹ Thành đất rộng, người thưa, nhưng ruộng đất chủ yếu nằm trong tay địa chủ. Muốn mướn ruộng của địa chủ, người nông dân phải mướn qua tay bọn kiểm điền. Địa chủ thu tô mỗi công 1 giạ, bọn kiểm điền thu lên 1,5 gia một công. Ở Mỹ Thành, có cha con địa chủ Nguyễn Tấn Lý, Nguyễn Tấn Đông, ruộng khoảng 500 mẫu, mỗi năm thu tô 4-5 ngàn gia lúa. Ngoài ra, còn có Hội đồng Sang, địa chủ Đỗ Bá Ninh, Ký Âu, Cai Lý, Ban Hổ, Ban Xương, Ban Bảy ruộng chừng 100 đến 300 mẫu. Địa chủ bóc lột nông dân bằng thu tô, nhưng dưới tay địa chủ là bọn kiểm điền. Chính bọn này mới là những tên hà hiếp, áp bức nông dân nhiều nhất. Đến mùa thu hoạch, bọn kiểm điền dẫn lính làng đi thu tô, chúng đến từng ấp điểm mục bằng cách đánh mõ, đánh trống, nếu ai đong không đủ, chúng đánh đập dã man, thậm chí còn bắt ở tù. Ai thiếu nợ, năm sau chúng bắt đóng gấp đôi. Ở Mỹ Thành có Ba Cang của Ban Sang; Năm Bạch của Ban Bảy là những tên kiểm điền hết sức gian ác. Chính quyền là một ban hội tề gồm 12 vị chức sắc'. Nơi nào an ninh bất ổn hoặc có chống đối, nổi dậy, làng kêu lính quận xuống bắt bớ, đàn áp. Ở Mỹ Thành có Cả Lý, Cả Đẩu, Cả Trương, Cả Đặng, Hương Nghĩa, Thân Mưu, Chánh quản Pho, Hào Liêm (có con là Trương Mỹ Ngọc tham gia cách mạng, sau đầu hàng giặc làm Xã trưởng). Thời đó, việc học hành chưa được chú trọng, vì Pháp thực hiện chính sách ngu dân để dễ bề cai trị. Cả mấy làng chỉ có một điểm trường với 2 lớp (lớp 1, lớp 2 bây giờ) ở chợ Bà Tồn, nhưng cũng chỉ dạy cho con em địa chủ, phú nông. Y tế chỉ có (1) Hương cả, Hương phó, Hương sư, Hương trưởng, Hương chánh, Hương giáo, Hương quản, Hương bộ, Hương thân, Hương hào, Xã trưởng đến Chánh lục bộ. Ít bà mụ vườn, thầy lang, bệnh tật chủ yếu trị bằng các loại cây cỏ, thuốc Nam, thuốc Bắc hoặc thầy bà, bùa phép theo lối mê tín, dị đoan. Những ai bệnh nặng có tiền đưa ra Cai Lậy chữa trị, không có tiền thì nằm nhà chờ chết. Ngoài thu tô, địa chủ còn bắt nông dân đóng các khoản khác như gạo lễ, vịt lễ, công lễ. Gạo lễ là thứ gạo "bẻ bông", ra ruộng chọn từng bông lúa chắc hạt đem về đập, phơi khô, giã kỹ; vịt lễ là một cặp vịt mập, đem đến địa chủ mới nhận. Ai bị địa chủ chê thì coi chừng sang năm không được mướn ruộng. Hàng năm, người nông dân mướn ruộng còn phải làm 10 ngày công lễ, những ngày giỗ, Tết phải đến lau nhà cửa, bửa củi, làm đủ các thứ công việc kể cả đào mương, hốt bùn. Bên cạnh sự bóc lột của địa chủ, người nông dân còn đóng các thứ thuế do bọn thực dân đặt ra như: thuế thân (đánh vào người); thuế điền sản (đánh vào ruộng vườn, nhà cửa); thuế bài chỉ (đánh vào trâu bò); thuế hàng sản (đánh vào nông sản),... Giá lúa 0,25 đồng 1 gia, nhưng thuế thân phải đóng 4 đồng rưỡi 1 suất, người chết chưa 60 tuổi vẫn phải đóng thuế. Sưu thuế nặng nề, ruộng đất không có, người nông dân chỉ còn biết làm thuê, làm mướn nên cuộc sống vô cùng cực khổ. Nhiều gia đình không đủ gạo phải ăn cháo, ăn rau, ăn củ thay cơm. Nhiều người phải lấy bao bố tời khâu thành quần áo; không có dầu phải lấy mủ mù u đốt đèn. Chính sự bóc lột tận cùng của địa chủ, thực dân làm cho lòng căm thù của nhân dân thêm sâu sắc. Vì vậy, khi có ánh sáng của Đảng soi đường, dẫn lối, nhân dân một lòng tin tưởng, vùng lên quyết đập tan xiềng xích nô lệ. 2. Phong trào đấu tranh và sự ra đời chi bộ Đảng đầu tiên ở xã Mỹ Thành Trước năm 1930, phong trào đấu tranh của nông dân làng Mỹ Thành là tự phát, mang tính nhỏ lẻ như: đấu tranh chống thuế thân, chống sưu cao, thuế nặng; chống bắt lính. Mặc dù đấu tranh tự phát, nhưng người dân Mỹ Thành đã biết phát huy truyền thống đấu tranh của dân tộc, tinh thần kiên cường, bất khuất của Thiên Hộ Dương, của "Tứ Kiệt" và khẳng định chân lý: "Ở đâu có áp bức, bóc lột là ở đó có đấu tranh". Giữa năm 1930, ở Cai Lậy có một số chi bộ Đảng Cộng sản thành lập ở các làng Nhị Mỹ, Thanh Hòa, Mỹ Hạnh Đông, Nhị Quí,... Từ đó, đảng viên và cán bộ len lỏi khắp các làng tuyên truyền chủ nghĩa Cộng sản. Ở làng Mỹ Phú và làng An Thành, có một số cán bộ cách mạng thường xuyên qua lại. Hai từ: "Cộng sản" và các cụm từ: "Chống áp bức, bóc lột; chống bắt lính, chống bắt xâu; chống sưu cao, thuế nặng; đem lại ruộng cày cho nông dân" được lan truyền từ làng này sang làng khác. Cho đến đầu năm 1933, khi thực dân Pháp nâng thuế thân từ 4,5 đồng lên 7,5 đồng thì phong trào đấu tranh mới nổi lên rầm rộ. Nòng cốt là các Hội trợ táng thành lập trước đó, ở mỗi ấp thành lập một Hội khoảng 20 đến 30 người. Tinh thần của Hội là giúp đỡ lẫn nhau, hàng tháng có đóng hội liễm đàng hoàng (còn gọi là nguyệt liễm, nay gọi là hội phí). Có Đảng lãnh đạo, nhân dân các làng trong quận, tiêu biểu ở làng Long Trung, sau đó lan ra các làng Bình Phú, Thanh Hòa, Mỹ Phú, An Thành nổi dậy biểu tình, đòi giảm thuế thân xuống 4,5 đồng như trước năm 1930.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn