Khác

Lịch sử Giải phóng quân Hóc Môn-Bà Điểm-Đức Hoà Chi đội 12 Trung đoàn 312

Giải phóng quân Hóc Môn - Bà Điểm - Đức Hòa, về sau phát triển thành Chi đội 12, rồi Trung đoàn 312 là đơn vị võ trang cách mạng được thành lập rất sớm ở miền Đông Nam Bộ từ sau ngày Cách mạng Tháng Tám thành công. Thành phần tham gia Giải phóng quân đa số là thanh niên nông dân ngoại thành phía bắc, tây bắc Sài Gòn, giàu lòng yêu nước và ý chí đấu tranh giành độc lập dân tộc. Điều đặc biệt là, Giải phóng quân Hóc Môn - Bà Điểm - Đức Hòa được đồng chí Lê Duẩn chỉ đạo xây dựng ngay từ đầu và có đ

07/03/2026Ban Biên tập tổng hợp3 lượt xem0 lượt chia sẻ
Tồn tại trong vong bốn năm (11-1945 - 11-1949), Giải phóng quân Hóc Môn - Bà Điểm - Đức Hòa, Chi đội 12, Trung đoàn 312 đã lập được nhiều thành tích xuất sắc trên các mặt trận phục vụ kháng chiến, bám trụ giữ vững địa bàn, làm nòng cốt cho phong trào chiến tranh nhân dân phát triển trên một hướng chiến lược vùng ven đô, xây dựng cơ sở chính trị, cơ sở kinh tế kháng chiến từ bên ngoài vào đến nội đô Sài Gòn, xây dựng và bảo vệ căn cứ địa và hành lang vận tải liên lạc cho Nam Bộ, cho Khu 7, Khu Sài Gòn - Chợ Lớn và tỉnh Gia Định. Trong vô vàn gian khổ ác liệt, các thế hệ cán bộ chiến sĩ của đơn vị vẫn một mực trung thành với sự nghiệp cách mạng của Đảng, của nhân dân, bền bỉ và dũng cảm chiến đấu, công tác, góp phần xây tạo nên những truyền thống vẻ vang của đơn vị, của Quân đội nhân dân Việt Nam anh hùng.


Sau ngày Trung đoàn 312 được sắp xếp lại trong các tổ chức đơn vị mới (11-1949), cán bộ chiến sĩ của đơn vị vẫn hăng hái tiếp tục chiến đấu, công tác và hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao trên cương vị mới, góp phần đắc lực vào sự nghiệp kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược, vào sự nghiệp bảo vệ và xây dựng Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Nhiều cán bộ, chiến sĩ của Giải phóng quân Hóc Môn - Bà Điểm - Đức Hòa năm xưa, nay đã trưởng thành, trở thành những cán bộ cao cấp, những tướng lĩnh trong bộ máy tổ chức của Đảng, Nhà nước và Quân đội.


Từ trước đến nay, lịch sử xây dựng, công tác và chiến đấu của Giải phóng quân Hóc Môn - Bà Điểm - Đức Hòa, Chi đội 12, Trung đoàn 312 mới chỉ được đề cập rải rác, cục bộ trong các công trình tổng kết chiến tranh, biên soạn lịch sử quân sự của Quân khu 7 và các địa phương thuộc thành phố Hồ Chí Minh. Chưa có một công trình lịch sử nào nghiên cứu trình bày một cách hệ thống, toàn diện quá trình hình thành, phát triển của đơn vị trên tất cả các mặt xây dựng, chiến đấu, công tác và xuyên suốt các giai đoạn lịch sử. Trong khi đó, tư liệu thành văn (gốc) còn lại không nhiều, tư liệu trí nhớ (nhân chứng lịch sử) đang ngày càng mai một đi.


Việc nghiên cứu biên soạn cuốn “Lịch sử Giải phóng quân Hóc Môn - Bà Điểm - Đức Hòa, Chi đội 12, Trung đoàn 312 (1945-1949)” trước hết nhằm đáp ứng nguyện vọng tha thiết của đông đảo cựu chiến binh và thân nhân các cán bộ, chiến sĩ của đơn vị, của cố Thiếu tướng Tô Ký, vị chỉ huy, người Anh Cả kính mến của Giải phóng quân Hóc Môn - Bà Điểm - Đức Hòa; để ghi nhớ công ơn những người đã anh dũng hy sinh trong cuộc chiến tranh giải phóng dân tộc; để góp phần giáo dục lịch sử truyền thống cho thế hệ trẻ; và sau cùng, để qua đó, rút ra những bài học kinh nghiệm cho nhiệm vụ xây dựng lực lượng võ trang, huấn luyện sẵn sàng chiến đấu bảo vệ Tổ quốc trong điều kiện lịch sử hiện nay.


Trong thời gian chưa đầy một năm, bộ phận nghiên cứu biên soạn đã cố gắng sưu tầm gom góp tư liệu, đối chiếu thẩm định từ nhiều nguồn lưu trữ khác nhau, bước đầu trình bày một cách hệ thống và tương đối đầy đủ quá trình lịch sử xây dựng, chiến đấu và công tác của đơn vị. Tuy nhiên, vì những lý do nằm ngoài nỗ lực chủ quan của những người nghiên cứu biên soạn, chắc chắn cuốn sách còn thiếu nhiều chi tiết cần được tiếp tục bổ sung hoặc một số chi tiết cần được chỉnh lý hoàn thiện thêm. Dù sao, đây cũng là một công trình nghiên cứu lịch sử được thực hiện công phu, có sự góp sức của nhiều nhân chứng lịch sử, và về cơ bản, đáp ứng được những yêu cầu cần có đối với một đề tài khoa học lịch sử quân sự.


Với ý nghĩa ấy, tôi xin trân trọng giới thiệu cuốn “Lịch sử Giải phóng quân Hóc Môn - Bà Điểm - Đức Hòa, Chi đội 12, Trung đoàn 312 (1945-1949)” cùng đông đảo bạn đọc.


Tháng 9 năm 2000
Trung tướng PHAN TRUNG KIÊN
ỦY VIÊN TRUNG ƯƠNG ĐẢNG
TƯ LỆNH QUÂN KHU 7

Logged

Ai công hầu, ai khanh tướng, vòng trần ai, ai dễ biết ai
Thế Chiến Quốc, thế Xuân Thu, gặp thời thế, thế thời phải thế

quansuvn

Moderator
*
Bài viết: 7290



WWW

Lịch sử Giải phóng quân Hóc Môn-Bà Điểm-Đức Hoà Chi đội 12 Trung đoàn 312« Trả lời #1 vào lúc: 28 Tháng Bảy, 2021, 07:53:48 pm »
Chương mở đầu
CHIẾN TRƯỜNG HOẠT ĐỘNG CỦA GIẢI PHÓNG QUÂN
HÓC MÔN - BÀ ĐIỂM - ĐỨC HÒA


Hóc Môn - Bà Điểm - Đức Hòa là địa danh thuộc hai tỉnh Gia Định, Chợ Lớn, nằm ở trung tâm miền Đông Nam Bộ.


Miền Đông Nam Bộ là cụm danh từ chỉ vùng đất phía đông của Nam Bộ, gồm Sài Gòn - Chợ Lớn và các tỉnh Gia Định, Chợ Lớn, Bà Rịa, Biên Hòa, Thủ Dầu Một, Tây Ninh (theo sự phân chia địa lý hành chính năm 1945).


Trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp (1945-1954), miền Đông Nam Bộ là chiến trường trọng điểm của Nam Bộ, được tổ chức thành hai khu: Khu 7 và khu Sài Gòn - Chợ Lớn.

Tỉnh Gia Định nằm trong khu Sài Gòn - Chợ Lớn, án ngữ một địa bàn quan trọng bao quanh thành phố Sài Gòn từ các mặt tây bắc, bắc, đông và đông nam, gồm các quận Hóc Môn, Gò Vấp, Thủ Đức, Nhà Bè; nằm trên vùng đất miền Đông Nam Bộ, nơi ra đời của Giải phóng quân liên quận Hóc Món - Bà Điểm (thuộc tỉnh Gia Định) và Đức Hòa (thuộc tỉnh Chợ Lớn).


Hóc Môn là một trong bốn quận của tỉnh Gia Định (Hóc Môn, Gò Vấp, Thủ Đức, Nhà Bè), nằm về phía tây bắc thành phố Sài Gòn, cách trung tâm thành phố 20km.

Suốt dọc chiều dài phía đông của Hóc Môn1 (Ngày nay Hóc Môn chia thành huyện Củ Chi, Hóc Môn và quận 12) là sông Sài Gòn, dài 17 km, làm ranh giới tự nhiên giữa hai quận: Hóc Môn và Thuận An2 (Ngày nay Thuận An bao gồm các quận Lái Thiêu, Dĩ An (Thủ Dầu Một)) (Bình Dương). Ngoài ra còn có nhiều sông rạch nhỏ với các hệ thống kinh mương chằng chịt khắp huyện như: rạch Bến Cát, rạch Bà Hồng, Rạch Tra, kinh cầu Xáng từ Rạch Tra chảy qua cầu Bông đến cầu An Hạ (Đức Hòa - Long An). Sông ngòi trong quận chiếm 1/3 đất đai, bồi đắp phù sa cho những ruộng vườn dọc ven sông bôn mùa đều có hoa quả xanh tươi màu mỡ. Trong quá trình cách mạng, việc qua lại bằng giao thông thủy đã đóng góp lớn cho các cuộc kháng chiến chống xâm lược, của địa phương.


Hóc Môn có các tuyến đường bộ quan trọng như quốc lộ 1 cũ (nay là quốc lộ 22), xuất phát từ thành phố đi Tây Ninh sang Cam-pu-chia. Tỉnh lộ 15 từ tỉnh lỵ Gia Định (nay là quận Bình Thạnh) chạy qua Hóc Môn 7 km, từ cầu Đông Hưng Thuận (Chợ cầu) đến cầu Xáng lên các xã, huyện Củ Chi. Các tỉnh lộ 9, 14, 16, hương lộ 1, hương lộ 12 chia ngang xẻ dọc khắp các xã trong huyện và sang các huyện bạn thuộc các tỉnh Long An, Tây Ninh, Bình Dương... Do giao thông thủy bộ thuận lợi nên việc tiếp xúc giữa huyện với thành phố và các tỉnh bạn dễ dàng, nhanh chóng.


Huyện Hóc Môn nằm trên vành đai ngoại ô của thành phố Sài Gòn, là một địa bàn giao thông chuyển tiếp quan trọng cho việc giao lưu hàng hóa, việc tiếp xúc mọi hoạt động của thành phố về quân sự, chính trị, kinh tế và văn hóa xã hội với các tỉnh bạn.


Hóc Môn chia làm ba vùng: Vùng đất gò, vùng đất triền và vùng đất trũng. Vùng đất gò và vùng đất triền gồm các xã xung quanh thị trấn. Hai vùng này có nhiều ruộng lúa, hoa màu, vườn trầu, tre trúc, và vườn cao su... Vùng trũng ven sông Sài Gòn chạy suốt dọc phần đất phía đông bắc với nhiều sông rạch chi chít. Đất đai khá phì nhiêu, màu mỡ, có nhiều ruộng lúa, mía, vườn cây ăn quả... Địa hình rất thuận lợi cho hoạt động cách mạng nên đã từng được chọn làm nơi đặt cơ quan đầu não của các đồng chí Trung ương, Xứ ủy, Tỉnh ủy Gia Định, lấy nơi đây làm cơ sở cho hoạt động cách mạng chỉ đạo chung cho thành phố và các tỉnh. Nơi đây, năm 1930 cũng đã có những chi bộ Đảng đầu tiên thuộc Đảng bộ huyện Hóc Môn ra đời và không ngừng phát triển.


Từ năm 1950 trở về trước, Hóc Môn (gồm cả quận 12 và huyện Củ Chi ngày nay) có 4 tổng và 25 xã, là một trong bốn quận của tỉnh Gia Định cũ. Phía bắc quận (Củ Chi hiện nay) là vùng đất cao, có nhiều rừng rộng hàng trăm héc ta trải dài tiếp giáp với các huyện Trảng Bàng (Tây Ninh), Bến Cát (Bình Dương), nối liền Hóc Môn với các căn cứ kháng chiến lớn nổi tiếng của nghĩa quân thời chống Pháp như vùng bưng. Từ Vườn Điều (Xuân Thới Sơn), có thể nối với bưng Tràm Lạc (Mỹ Hạnh - Đức Hòa), vượt sông Vàm Cỏ Đông rồi xuống tận Đồng Tháp Mười, về phía tây có vùng bưng Xuân Thới Tây, Xuân Thới Thượng, Tân Thới Nhứt tiếp giáp vùng Gò Mây, Vĩnh Lộc (Bình Chánh), có nhiều rừng cây thấp mênh mông như giồng Bằng Lăng nổi tiếng. Vùng rừng từ Tân An Hội chạy dài đến Truông Mít, tiếp cận vùng núi Bà Đen (Tây Ninh) và biên giới Việt Nam - Cam-pu-chia. Những cánh rừng này là nguồn lợi đáng kể bị bọn thực dân Pháp độc chiếm chuyển thành những rừng cao su để thu lợi. Các khu rừng trên đây, ngày xưa là nơi trú ẩn hoạt động của nghĩa quân Trương Định rồi Trương Quyền để chống quân xâm lược Pháp. Sau khi Trương Định rút về Gò Công thì một bộ phận nghĩa quân Hóc Món, Củ Chi, Bến Cát rút về lập căn cứ ở núi Cậu; sau đó bị bọn phản bội dẫn quân Pháp ở Thủ Dầu Một lên tấn công. Năm 1940, cuộc khởi nghĩa Nam Kỳ thất bại, các chiến sĩ cộng sản đã rút về đây để củng cố lực lượng chiến đấu. Trong cuộc Cách mạng Tháng Tám năm 1945 và trong các cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, các vùng rừng này là những căn cứ địa vững chắc của quân, dân tỉnh Gia Định. Ở phía đông, vượt sông Sài Gòn là sang địa phận huyện Thuận An và Bến Cát của Bình Dương, nối liền Hóc Môn với các căn cứ kháng chiến hiểm trở nổi tiếng ở miền Đông Nam Bộ như chiến khu Bời Lời, Dương Minh Châu (Tây Ninh), chiến khu Đ (Đồng Nai), chiến khu Long Nguyên (Thủ Dầu Một).


Có thể nói huyện Hóc Môn kết hợp với các huyện Gò Vấp, Đức Hòa, Trảng Bàng, Bến Cát, Bình Chánh... tạo thành một khu vực chiến lược có tầm quan trọng sống còn đối với lực lượng cách mạng, tiên thoái đều thuận lợi1 (Căn cứ 4 xã Bình Mỹ, Bình Lý, Tân Mỹ, Đông Thạnh (hai bên Rạch Tra) và một phần làng Tân Thới Tam, Tân Thới Tứ, Tân Hiệp, Xuân Thới Sơn. Riêng xã Tân Xuân xây dựng được xã chiến đấu có địa đạo, có hàng rào sát quốc lộ 1, cách giếng nước Tân Thới Nhì 500m). Vì thế nên Hóc Môn còn được gọi là “vành đai đỏ” trong thời kỳ bí mật chống thực dân Pháp ở vùng ngoại vi Sài Gòn - Chợ Lớn - Gia Định.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn