Khác

LỊCH SỬ HÌNH THÀNH VÙNG ĐẤT VÀ DÂN CƯ

Những tư liệu sử học, dân tộc học và khảo cổ học đến nay cho thấy, cách đây khoảng 5.000 năm đã có cư dân sinh sống ở vùng đất Nam Bộ (sọ cổ An Sơn). Vào thế kỷ I sau Công nguyên, khi nước Phù Nam xuất hiện, thì các bộ tộc giôống người Indonesien đã cư trú ở khắp ven biển Nam Đông Dương. Từ thế kỷ I - VII, đã xuất hiện một nước Phù Nam có nền kinh tế và văn hoá khá phát triển. Điển hình là sự tồn tại một trung tâm Óc Eo và nền văn hoá Óc Eo phát triển rực rỡ. Những chứng tích cổ nhân học bước đ

07/03/2026Ban Biên tập tổng hợp2 lượt xem0 lượt chia sẻ
Vào thời đại Óc Eo, Nam Bộ ở trong vùng hội tụ của những dòng giao lưu giữa các dân tộc khác nhau của vương quốc Phù Nam rộng lớn mà những quan hệ văn hoá mở rộng đến Trung Hoa, Java, Thái Lan, Mã Lai, Ấn Độ, thế giới Địa Trung Hải và có thể cả Trung Á [25, tr.109]. Kinh đô Phù Nam ở Vyâdhapura gần đồi Ba Phnom, cách biển chừng 200km. Hải cảng giao thương với nước ngoài ở Óc Eo, gần núi Ba Thê (thuộc tỉnh An Giang ngày nay). Thư tịch cổ của Trung Quốc ghi rõ vị trí của Phù Nam. Theo Thuỷ kinh chú, chương 36...: "Lâm Ấp, hướng Đông giáp biển, hướng Tây đến nước Từ Lang, hướng Nam giáp nước Phù Nam, hướng Bắc giáp nước Cửu Đức...", "dân rợ Từ Lang ở miền thượng lưu sông Lâm Ấp. Đi về hướng Nam sẽ đến vương quốc Phù Nam [73, tr.233]. Nam Tề thư cũng nói: "hàng hoá bán của Phù Nam thường là vàng, bạc, lụa, hàng" hoặc "năm 244, một cơ quan thương mại Phù Nam thành lập gần thủ phủ Nam Kinh gọi là Phù Nam quán" [73, tr.233]ĩ


Trong sách Ethnographie des peuples étranges à la Chine (Lés Méridionaux Traduit par Le Marquisd' Hervey de Saint - Denis, Genève, 1883), ở mục lục cuối sách ghi tên 74 nước "ngoại tộc Nam man" nói những nước ở phía Nam Trung Quốc, trên bán đảo Đông Dương và quần đảo Nam Dương của Mã Đoan Lâm, thu thập tất cả sử sách nói về phương Nam Trung Quôc từ trước đến thế kỷ XIII, có ghi 11 nước, trong đó có ghi Lâm Ấp, Phù Nam, Chân Lạp, là ba nước lớn ở gần nhau [25, tr.142]. P.Pelliot, trong Nam Tề thư cũng nói, nửa sau thế kỷ VII, nhà sư Nghĩa Tình cho rằng: "Thời xưa gọi là Phù Nam... Người xứ ấy thờ nhiều vị thiên thần. Ngoài ra, Phật pháp cũng thịnh hành. Nhưng rồi một tên vua hung bạo đã huỷ diệt hết" [60, tr.255].


Đến thế kỷ VI, từ một thuộc quốc của Phù Nam, tiểu quốc Khmer mạnh lên, thành lập nước Chân Lạp và bành trướng thế lực đánh chiếm Phù Nam. Những tranh chấp trong triều đình Phù Nam diễn ra trước đó đã làm suy yếu triều đình Trung ương, cùng với sự tấn công của Chân Lạp đã làm cho Phù Nam nhanh chóng thất bại và bị Chân Lạp thôn tính. Sau khi bị Chân Lạp xâm chiếm và bị tàn phá nặng nề, trung tâm Óc Eo (miền Tây sông Hậu) rơi vào tình trạng hoang vắng, tiêu điều. Còn Chân Lạp với dân cư ít ỏi, đất đai quá rộng lớn, không thể nào đủ sức cai quản. Quan trọng hơn, vùng đất thấp đó không phù hợp với truyền thống canh tác và truyền thống cư trú của họ. Chân Lạp - "một tộc người tự đóng mình trên thềm đất cao của lưu vực sông Mê Kông và không biết gì đến biển", "không quen sông nước và chủ yếu là không cần cuộc sống gắn với sông nước, với biển” - BP Groslier, Indochine, carrefour des arts, Paris, 1961, tr.67, 68 [60, tr.254-255]. Sau cuộc tấn công của Chân Lạp vào khoảng năm 550 và sự tan rã của Phù Nam, những cư dân ở Nam Bộ vẫn tiếp tục sinh sống trên vùng đất cũ của mình. Trung tâm chính trị của Chân Lạp lúc bấy giờ ở vùng Tong-le Sap (Biển Hồ) cách xa xã hội của các dân tộc ở vùng đồng bằng sông Cửu Long. Vì vậy, chính quyền Trung ương cũng không có những ảnh hưởng nào sâu đậm lắm tới họ [25, tr.110].


Từ thế kỷ IX cho đến XI, là thời kỳ củng cố vương triều Angkor và bành trướng thế lực về phía tây, ảnh hưởng của vương triều Angkor chưa kịp lan rộng đến Nam Bộ. Những thế kỷ XII và XIII là những thời kỳ binh biến ở phía đông với những cuộc chiến triền miên giữa Chân Lạp và Champa. Tiếp theo đó là các đợt xâm lăng của đế quốc Nguyên - Mông vào các nước Đông Nam Á. Do đó, ảnh hưởng chính trị, kinh tế và văn hoá của các triều đại Angkor vào vùng châu thổ sông Cửu Long có thể nói rất là yếu. Cũng vào thời kỳ này, có lẽ đã diễn ra quá trình tan rã trong cơ cấu của nhiều cộng đồng cư dân bản địa vì không thích nghi được với hoàn cảnh chính trị mới, với sự hiện diện của tộc người Chân Lạp mới du nhập, với tình trạng chiến tranh... đã dần dần rời bỏ địa bàn sinh hoạt của họ và rút về những vùng núi ở miền Đông Nam Bộ và phía nam Trường Sơn. Vào các thế kỷ XIV - XVII, những mâu thuẫn phong kiến giữa Đại Việt và Champa, giữa vương quốc Thái và Chân Lạp đã đưa đến sự dồn nén của một số cư dân Chăm xa hơn về phía nam, một số cư dân Khmer xa hơn về phía đông [25, tr.112], gây nên những tranh chấp mới giữa Champa và Chân Lạp.


Tình trạng hoang dã của đồng bằng Nam Bộ được Châu Đạt Quan mô tả trong chuyên công du đến Chân Lạp bằng đường sông Cửu Long cuối thế kỷ XIII trong cuốn Chân Lạp phong thổ ký: "hầu hết cả vùng đều là bụi rậm của khu rừng thấp, những cửa rộng của con sông lớn chạy dài hàng trăm lý, bóng mát um tùm của những gốc cổ thụ và cây mây dài tạo thành nhiều chỗ trú xum xuê. Tiếng chim hót và thú vật kêu vang dội khắp nơi. Vào nửa đường trong cửa sông, người ta mới thấy lần đầu cảnh đồng ruộng bỏ hoang, không có một gốc cây nào. Xa hơn tầm mắt chỉ toàn là cỏ kê đầy rẫy. Hàng trăm nghìn trâu rừng tựu họp từng bầy trong vùng này. Tiếp đó, nhiều con đường dốc đầy tre chạy dài hàng trăm lý" [78, tr.80]. Vào khoảng những năm 1516-1550, có nhiều đoàn thám hiểm Bồ Đào Nha đến cửa Tiểu, cửa Đại. Họ định chiếm Mỹ Tho để lập một thương cảng nhưng sau đó phải bỏ ý định. Vì vùng này hầu như không có dân [132, tr.11]. Cho đến tận đầu thế kỷ XVII, đất Nam Bộ vẫn còn khá hoang vu. Sách Phủ biên tạp lục ghi rằng: "... từ các cửa biển Cần Giờ, Soài Rạp, cửa Tiểu, cửa Đại trở lên toàn là rừng rậm hàng nghìn dặm" [19, tr.439-440]. Tình hình Nam Bộ trong thế kỷ XVII cũng được nhà truyền giáo Alexandre de Rhode mô tả "quạnh hiu, hoang mạc" và chú thích "không có vật gì thuộc về sự sống" [A Rhodes - Những cuộc viếng thăm Trung Quốc và các vương quốc phương Đông, Paris, 1653 [44].

Logged

Ai công hầu, ai khanh tướng, vòng trần ai, ai dễ biết ai
Thế Chiến Quốc, thế Xuân Thu, gặp thời thế, thế thời phải thế

quansuvn

Moderator
*
Bài viết: 7290



WWW

Lịch sử khai phá và bảo vệ chủ quyền vùng đất Châu Đốc thời Nguyễn« Trả lời #8 vào lúc: 29 Tháng Sáu, 2021, 02:10:11 pm »
Thực tế lịch sử cho thấy, việc Chân Lạp sợ mất nước do Xiêm xâm lăng là sự thật lịch sử đau lòng tiếp diễn trong 3 thế kỷ. Từ năm 1351 trở đi, kinh đô Angkor huy hoàng luôn luôn bị Xiêm đánh phá. Từ đó về sau, người Chân Lạp không lúc nào được yên thân, hết người Chàm đến người Xiêm luân phiên cướp phá. Triều đình phải dời đô về Phnôm Pênh (tức Nam Vang) năm 1434. Xiêm tiếp tục xâm lấn một lần nữa, Cao Miên lại phải thiên đô đến Lôvek (tức La Bích) năm 1528. Nhưng Xiêm lại tàn phá cung điện và chùa chiền nguy nga ở Lôvek, đốt phá cả kho tàng, sử sách và kinh kệ quý báu (1593). Từ đó, coi như Xiêm trực tiếp thông trị Cao Miên. Việc phế lập vua chúa Cao Miên đều do Aythia quyết định [25, tr.148].


Triều đình Chân Lạp phải tập trung lực lượng để đối phó với Xiêm đang tiếp tục lấn đánh Chân Lạp ở phía tây. Vì vậy, trong nhiều thế kỷ chiếm đất Phù Nam, vua Chân Lạp không làm gì lớn lao để phát triển vùng đất Nam Bộ [40, tr.26]. Trên danh nghĩa đất Nam Bộ thuộc Chân Lạp nhưng "thuộc một cách lỏng lẻo", các dân tộc vẫn sống tự trị và mấy sóc Khmer lẻ tẻ chưa hợp thành đơn vị hành chính thuộc triều đình Chân Lạp. Trong khi đó, triều đình Chân Lạp phải tập trung lực lượng ở phía nam Biển Hồ (sau khi bỏ Angkor ở phía bắc) để đối đầu với Xiêm La đang tiếp tục lấn đất ở phía tây. Cho nên, khi lưu dân Việt bắt đầu tới khẩn hoang lập ấp thì vùng Sài Gòn và Nam Bộ vẫn là đất tự do của các dân tộc mà hầu như là vô chủ, là đất hoang nhàn cả về kinh tế lẫn chủ quyền từ xưa [25, tr.236].


Như vậy, từ thế kỷ XIII - XVII, vùng đất Nam Bộ hình như đang ở trong quá trình hoang hoá do sự tan rã trong cơ cấu dân cư. Những nhóm người thưa thớt chỉ còn quần tụ ở một số vùng Vũng Tàu - Bà Rịa, Prei Nokor, Sóc Trăng, Trà Vinh, Thất Sơn,... Trừ một vài nhóm lẻ tẻ người Khmer nghèo khổ đi tìm cuộc sống nói trên, trong một thời gian dài vùng hoang dã Nam Bộ là nơi bôn tẩu, ẩn nấp của những phe phái thất thế, những "phó vương", "đệ nhị vương",... khi tranh giành quyền lực ở triều đình Chân Lạp, nơi tụ họp của những phần tử bất hảo, nơi những người Khmer nghèo bị áp bức bóc lột đến lánh nạn,... Những người dân này không bị ràng buộc bởi một chính quyền nào.


Việc không đủ sức cai quản, không phù hợp với truyền thống canh tác, tập quán cư trú và sự buông lỏng, thờ ơ với đất Nam Bộ của Chân Lạp kéo dài cho đến năm 1698, khi Nguyễn Hữu Cảnh vào thiết lập nền hành chính ở Nam Kỳ của người Việt. Năm 1708, Mạc Cửu dâng đất Hà Tiên cho chúa Nguyễn mà quốc vương Chân Lạp chẳng có ý kiến gì. Bởi họ chẳng mấy thiết tha với vùng Nam Bộ bấy giờ còn "điểu thú quần hoang" này. Từ khi tháp nhập đất Hà Tiên vào Đàng Trong đến năm 1757, trong nửa thế kỷ mà chúa Nguyễn đã chiếm lĩnh trọn đất đồng bằng sông Cửu Long. Đó là cuộc mở mang bờ cõi quan trọng nhất và nhanh nhất của chúa Nguyễn trong lịch sử phong kiến Việt Nam.


Sở dĩ, sự mở rộng lãnh thổ của Đàng Trong nhanh như vậy, vì sự tháp nhập đất Hà Tiên của Mạc cửu trở thành một yếu tố quan trọng, "tạo thành một thế gọng kìm" [58, tr.268], khiến sự mở cõi của chúa Nguyễn trở thành bước nhảy vọt. Khi Hà Tiên đã là của Đàng Trong thì lịch sử sẽ "xoay vần", vì Chân Lạp bị đe doạ, xâm lược từ phía Xiêm, vì Chân Lạp muốn tìm sự nương nhờ từ chúa Nguyễn, vì lợi ích của Đàng Trong,... Đây là những nguyên nhân lịch sử để cho Gia Định và Hà Tiên sớm nối liền một dải.


Ở Chân Lạp, từ khi Nặc Nguyên về làm vua, thường hay hà hiếp "rợ Côn Man" (người Chàm) và lại thông sứ với chúa Trịnh ngoài Bắc để lập mưu đánh chúa Nguyễn. Chúa Nguyễn biết được việc ấy nên sai Nguyễn Cư Trinh sang đánh Nặc Nguyên (1753). Đến năm 1755, Nặc Nguyên thua, bỏ thành Nam Vang chạy sang Hà Tiên nương nhờ Mạc Thiên Tứ. Năm sau, Thiên Tứ dâng thư lên chúa Nguyễn nói rằng, Nặc Nguyên xin dâng hai phủ Tầm Đôn (Long An) và Soài Rạp (Gò Công) để chuộc tội và xin về nước. Chúa Nguyễn không muốn cho, Nguyễn Cư Trinh bèn dâng sớ bày tỏ cách khai thác đất ấy. Chúa Nguyễn bèn nhận hai phủ và cho Nặc Nguyên về nước [46, tr.332].


Năm Đinh Sửu (1757), Nặc Nguyên mất, chú họ là Nặc Nhuận làm giám quốc (coi việc nước). Nặc Nhuận đang còn lo hiến đất Trà Vang (Trà Vinh, Bến Tre) và Ba Thắc (Sóc Trăng - Bạc Liêu) [134, tr.43] để xin chúa Nguyễn phong cho làm vua thì bị con rể là Nặc Hinh giết rồi cướp lấy ngôi. Quan tổng suất là Trương Phúc Du thừa thế sang đánh, Nặc Hinh thua chạy đến Tầm Phong Xoi, bị phiên liêu (quan chức Chân Lạp) là Oc-nha Uông giết. Bấy giờ con Nặc Nhuận là Nặc Tôn chạy sang nhờ Mạc Thiên Tứ ở Hà Tiên. Thiên Tứ cũng vì Nặc Ông Tôn trần tấu, dâng thư về chúa Nguyễn Phúc Khoát (1738-1765) xin lập Nặc Tôn làm vua Chân Lạp, chúa Nguyễn thuận cho, ban sách phong tặng Ông Tôn làm quốc vương, khiến Mạc Thiên Tứ hiệp binh tướng 5 dinh đem Ông Tôn về nước. Khi được ngôi tôn, Ông Tôn bèn dâng đất Tầm Phong Long cho chúa Nguyễn để tạ ơn. Chúa Nguyễn bèn sai Trương Phúc Du và Nguyễn Cư Trinh lấy đất Tầm Phong Long lập ra 3 đạo: Tân Châu đạo, Châu Đốc đạo, Đông Khẩu đạo [21, tr.80]. Sau đó, Nặc Tôn lại dâng đất 5 phủ phía tây Hà Tiên là Hương Ức, Cần Bột, Trực Sâm, Sài Mạt và Linh Quỳnh để tạ ơn riêng Mạc Thiên Tứ. Thiên Tứ đem những vùng đất ấy dâng cho chúa Nguyễn, chúa Nguyễn cho thuộc vào trấn Hà Tiên quản hạt.


Do đó, đất Châu Đốc được chính thức thành lập vào năm Đinh Sửu - 1757 từ cố thổ Tầm Phong Long. Giới hạn Tầm Phong Long thời đó có thể hình dung là: Phía tây tương đương với đường biên giới Việt Nam - Campuchia hiện nay; phía bắc chạy dọc phía bắc sông Tiền đến Trà Vinh, Sóc Trăng, Bạc Liêu; chiều ngang, từ Hà Tiên sang tận Tầm Bôn (Tân An) và từ Ba Thắc đến Long Hồ (Vĩnh Long ngày nay) [27, tr.11].


Như vậy, từ năm 1708 đến năm 1757, do sức ép xâm lược Chân Lạp từ phía Xiêm, do sự tranh giành quyền lực của triều đình Chân Lạp làm suy yếu thế nước, những yếu tố khách quan đó đã giúp chúa Nguyễn mở rộng sự chiếm cứ của mình lên toàn cõi đồng bằng sông Cửu Long trong nửa thế kỷ. Vùng đất Châu Đốc được thành lập trong điều kiện lịch sử như đã nêu trên.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn