Khác

LỊCH SỬ KHÁNG CHIẾN CHỐNG THỰC DÂN PHÁP XÂM LƯỢC (1945-1954) (1)

Nhân dịp xuất bản cuốn «Quân khu 4 — Lịch sử kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược» (1945 — 1954) và sẽ xuất bản cuốn «Quân khu 4 — Lịch sử kháng chiến chống Mỹ, cứu nước» (1954—1975). Đảng ủy và Bộ Tư lệnh Quân khu đề nghị tôi viết lời giới thiệu. Là một cán bộ được vinh dự chiến đấu trên chiến trường quân khu trong cả hai cuộc kháng chiến, tôi rất hân hạnh được làm nhiệm vụ đó.

25/02/2026Ban Biên tập tổng hợp3 lượt xem0 lượt chia sẻ

Trong cả hai cuộc chiến tranh chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ, Quân khu 4 giữ một vị trí chiến lược rất quan trọng. Ở vào Bắc Trung Bộ, trên một dải đất hẹp, Quân khu 4 đông giáp biển là nơi đế quốc có ưu thế về hải quân, nam giáp Quân khu 5 với quân cảng Đà Nẵng, tây giáp Thượng, Trung Lào với các đường giao thông chiến lược 7, 8, 9, 217; bắc nối liền với chiến trường Bắc Bộ; lại có cố đô Huế — một trung tâm chính trị và văn hóa mà đế quốc và bọn tay sai luôn luôn muốn sử dụng để làm bộ mặt cho chế độ bù nhìn. Bản thân Quân khu 4 tuy đất hẹp nhưng mật độ dân đông, truyền thống đấu tranh anh dũng và lao động cần cù, có dãy Trường Sơn hùng vĩ và miền tây Thanh Nghệ là một vùng căn cứ chiến lược hiểm yếu. Trong cả hai cuộc chiến tranh xâm lược dù không đủ binh lực để đánh chiếm toàn bộ địa bàn quân khu, bọn đế quốc vẫn cố chiếm giữ phần phía nam để chia cắt chiến trường Việt Nam và Đông Dương ra làm hai, bảo vệ cố đô Huế và căn cứ quân sự liên hiệp Đà Nẵng, bảo vệ đường vận chuyển sang Lào, ngăn chặn sự chi viện và tiến công của ta từ miền Bắc vào miền Nam, đồng thời tạo bàn đạp tiến công ra miền Bắc. Cũng vì vậy mà trong cả hai cuộc chiến tranh, chiến trường Quân khu 4 đều có vùng tạm bị địch chiếm và vùng tự do; và cả hai vùng đó quan hệ chặt chẽ với nhau.

Với vị trí và hoàn cảnh đó, quân và dân Quân khu 4 có nhiệm vụ rất nặng và phải chiến đấu rất quyết liệt. Trong giai đoạn đầu của chiến tranh chống Pháp, Quân khu 4 tự lực tự cường, phát triển chiến tranh du kích giành dân giữ đất, phá tề diệt địch, xây dựng lực lượng vũ trang, giúp cách mạng Lảo và phối hợp với các chiến trường khác. Trong giai đoạn cuối kháng chiến chống Pháp, cùng với cuộc chiến tranh nhân dân phát triển vùng sau lưng địch, Quân khu 4 là căn cứ xuất phát của bộ đội chủ lực tiến công địch, giải phóng đại bộ phận Trung, Hạ Lào, đồng thời đóng góp sức người, sức của chi viện chiến trường Bắc Bộ, đặc biệt là tham gia phục vụ chiến dịch lịch sử Điện Biên Phủ.

Trong kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, Quân khu 4 là một trong những chiến trường ác liệt nhất. Chiến đấu chống địch chiếm đóng và càn quét ở Trị — Thiên — Huế, đánh bại tuyến đường phòng ngự dày đặc và hiện đại của quân đội Mỹ ở vĩ tuyến 17, đánh bại các cuộc phản công của địch ra đường số 9 — Nam Lào, tiến công địch ở Khe Sanh và bảo vệ thành cổ Quảng Trị, đánh bại chiến tranh phá hoại bằng không quân và hải quân địch ra vùng hậu phương phía bắc, xẻ dọc Trường Sơn xây dựng hành lang vận chuyển Bắc Nam, bảo vệ cửa ngõ đường Hồ Chí Minh và cuối cùng tham gia cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân 1975 lịch sử. Cũng từ địa bàn Quân khu 4, quân đội ta phối hợp với Quân giải phóng nhân dân Lào giải phóng Cánh Đồng Chum và đại bộ phận Trung, Hạ Lào, tạo nên một vùng giải phóng rộng lớn cho cách mạng Lào...

Quân khu 4 là nơi đọ sức ác liệt nhất giữa hai lực lượng chiến tranh: một bên là quân và dân ta — kể cả các đơn vị chủ lực cơ động chiến lược và các quân binh chủng kỹ thuật của Bộ Tổng tư lệnh, một bên là lực lượng tinh nhuệ được trang bị hiện đại nhất của lục, hải, không quân Pháp, Mỹ và tay sai, là nơi đọ sức giữa tinh thần và ý chí “Cảm tử cho Tổ quốc quyết sinh” của quân và dân ta chống lại các thủ đoạn dã man tàn bạo nhất của đế quốc. Trong kháng chiến chống Mỹ Quân khu 4 là nơi đối đầu giữa chế độ xã hội chủ nghĩa ưu việt ở miền Bắc và chế độ thực dân mới ở miền Nam, thể hiện một nước Việt Nam thu nhỏ: tiền tuyến và hậu phương; giải phóng miền Nam, bảo vệ miền Bắc và nhiệm vụ quốc tế, chiến tranh nhân dân địa phương phát triển cao và tác chiến của các binh đoàn chủ lực, lần lượt đánh bại các thủ đoạn của địch, góp phần quan trọng vào thắng lợi của cả nước và của hai nước Lào — Cam-pu-chia.

Trong cuộc chiến đấu một mất một còn với quân thù, dưới sự lãnh đạo của Đảng quang vinh và của Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại, quân và dân Quân khu 4, già trẻ, gái trai, trong vùng tạm bị địch chiếm cũng như ở vùng tự do, bộ đội chủ lực, bộ đội địa phương cũng như dân quân du kích, đã phát huy lòng yêu nước thiết tha, quyết chiến và quyết thắng, vận dụng kinh nghiệm đấu tranh phong phú và lao động dũng cảm cần cù, cùng cả nước, vì cả nước hoàn thành nhiệm vụ lịch sử. Cả quân khu là một pháo đài, mỗi làng xã, mỗi đoạn đường, mỗi cánh đồng là một trận địa, toàn dân là chiến sĩ. Những câu ca dao như: «Rừng Thông, cầu Bố đang lo, chị lo tập gánh, anh lo tập thồ», «Nhà tan cửa nát cũng ừ, đánh thắng giặc Mỹ cực chừ sướng sau», «Xe chưa qua, nhà không tiếc», «Tiếng hát át tiếng bom»... là những biểu hiện cao đẹp của lòng yêu nước và ý chí quyết thắng. Hàng chục vạn thanh niên nam nữ lên đường nhập ngũ và thanh niên xung phong phục vụ chiến đấu trên khắp chiến trường Trung — Nam — Bắc, ở Lào và Cam-pu-chia. Toàn dân vừa chiến đấu, vừa sản xuất, vừa xây dựng chủ nghĩa xã hội và củng cố hậu phương... cuộc chiến đấu thật vô cùng phong phú, toàn diện. Biết bao mảnh đất, dòng sông, con người ở đây đã đi vào lịch sử. Trong kháng chiến chống Pháp Quân khu 4 tự hào đã có Bình —Trị — Thiên bất khuất, chiến khu Hòa Mỹ, làng chiến đấu Cự Nẫm, Cảnh Dương, có anh hùng Lâm Úy, Cao Thế Chiến... Trong kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, Quản khu 4 lại có Trị — Thiên — Huế tiến công nổi dậy, anh dũng, kiên cường, đường số 9 — Khe Sanh, Vĩnh Linh lũy thép, Quảng Bình hai giỏi, Gianh, Xuân Sơn, Long Đại, Đồng Lộc, Bến Thủy, Hàm Rồng, có mẹ Suốt, Nguyễn Viết Xuân... mãi mãi là những điển hình tiêu biểu, đẹp đẽ được cả nước cổ vũ.

Lịch sử kháng chiến của quân và dân Khu 4 cũng như lịch sử kháng chiến toàn quốc là lịch sử của chủ nghĩa anh hùng cách mạng, là lịch sử đoàn kết và đấu tranh của toàn dân, toàn quân dưới sự lãnh đạo của Đảng và của Hồ Chủ tịch, là lịch sử và kinh nghiệm chiến tranh toàn dân, toàn diện, quyết đánh và biết đánh. Đó cũng là lịch sử và kinh nghiệm về mối quan hệ giữa hậu phương và tiền tuyến, giữa tiền tuyến và hậu phương, giữa nhiệm vụ dân tộc và nhiệm vụ quốc tế. Trân trọng lịch sử và kinh nghiệm đó, không những là ghi nhớ công lao của quân và dân quân khu trong kháng chiến cứu nước mà quan trọng hơn nữa là góp phần bồi dưỡng thế hệ hiện tại và tương lai. Bài học lịch sử của Quân khu 4 và của toàn quốc sẽ giúp chúng ta và cả thế hệ mai sau «ôn cố tri tân» phát huy ưu điểm, khắc phục khuyết điểm, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc trên địa bàn quân khu trong giai đoạn mới.

Dưới sự chỉ đạo chặt chẽ của Đảng ủy và Bộ Tư lệnh Quân khu, được sự giúp đỡ của Viện Lịch sử quân sự Bộ Quốc phòng và sự đóng góp của các đồng chí lão thành đã từng lãnh đạo và chỉ huy trên chiến trường quân khu, phòng lịch sử quân sự Quân khu 4 đã có sự cố gắng lớn để thu thập tài liệu và biên soạn cuốn lịch sử này. Tất nhiên cuộc kháng chiến toàn dân toàn diện kéo dài hơn 30 năm và vô cùng phong phú, nhiều sự kiện lịch sử và bài học quý giá chưa nói đầy đủ. Nhưng cuốn «Quân khu 4 — Lịch sử kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược» (1945—1954) đã phần nào đáp ứng yêu cầu cấp thiết của bạn đọc. Mong các đồng chí cán bộ lão thành, các nhà nghiên cứu lịch sử và đông đảo bạn đọc bổ sung và đóng góp nhiều ý kiến.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn