LỊCH SỬ KHÁNG CHIẾN CỦA ĐÀ NẴNG
Đà Nẵng là vùng đất giàu truyền thống đấu tranh, nơi ghi dấu nhiều sự kiện lịch sử quan trọng của dân tộc. Trong đó, cuộc tấn công của thực dân Pháp vào Sơn Trà năm 1858 là một trong những sự kiện quan trọng thể hiện tinh thần yêu nước, ý chí bất khuất đấu tranh của quân dân Quảng Nam – Đà Nẵng. Quân Pháp sau nhiều lần đưa quân tới khiêu khích, chiều 31 -8 -1858 liên quân Pháp - Tây Ban Nha với khoảng 3 000 binh lính và sĩ quan, bố trí trên 14 chiến thuyền, kéo tới dàn trận trước cửa biển Đà Nẵng. Âm mưu của Pháp là chiếm Đà Nẵng làm căn cứ, rồi tấn công ra Huế, nhanh chóng buộc triều đình nhà Nguyễn đầu hàng. Sáng 1-9-1858, địch gửi tối hậu thư, đòi Trấn thủ thành Đà Nẵng trả lời trong vòng 2 giờ. Nhưng không đợi hết hạn, liên quân Pháp - Tây Ban Nha đã nổ súng rồi đổ bộ lên bán đảo Sơn Trà. Quân dân ta anh dũng chống trả quân xâm lược, đẩy lùi nhiều đợt tấn công của chúng, sau đó lại tích cực thực hiện “vườn không nhà trống” gây cho quân Pháp nhiều khó khăn. Liên quân Pháp -Tây Ban Nha bị cầm chân suốt 5 tháng (từ cuối tháng 8 - 1858 đến đầu tháng 2 - 1859) trên bán đảo Sơn Trà. Về sau, quân Tây Ban Nha rút khỏi cuộc xâm lược. Chính sự kiên cường, anh dũng chống trả của quân dân Đà Nẵng đã thành công ngăn chặn sự tấn công của thực dân Pháp. Tuy nhiên, Pháp dần dần nắm thời cơ, ép triều đình nhà Nguyễn kí kết các hiệp ước, đặc biệt là hiệp ước Giáp Thân (hay Pa-Tơ-Nốt năm 1884) khiến cho nước ta bị đô hộ, nhân dân Đà Nẵng nói riêng và cả nước nói chung phải chịu ách đô hộ. Tại đây, các sự kiện lần lượt xảy ra như cuộc vận động Duy Tân của Phan Châu Trinh (1906-1909), phong trào Đông Du của Phan Bội Châu (1905-1909) hay các cuộc vận động khởi nghĩa của Thái Phiên và Trần Cao Vân năm 1916. Chính các cuộc vận động này thể hiện khát vọng đấu tranh chống giặc ngoại xâm, nhưng vì chưa tìm được con đường đấu tranh phù hợp.
Mãi đến hơn mười năm sau, tháng 9 – 1929, Đảng bộ Đông Dương cộng sản Đảng Quảng Nam được thành lập. Từ đó đã tìm được con đường đúng đắn, phù hợp. Nhân dân Đà Nẵng cùng nhân dân cả nước tiến hành các cuộc mít tinh biểu tình đòi tự do, độc lập. Đến ngày 28 – 7 – 1941, quân Nhật đổ bộ lên Đà Nẵng chuẩn bị cho những hoạt động quân sự mới ở Đông Dương và sau sự kiện Nhật đảo chính Pháp (9 – 3 – 1945), phát xít Nhật nhanh chóng tổ chức bộ máy hành chính, quân sự và các tổ chức đoàn thể xã hội thân Nhật. Tháng 5 – 1945, Việt Minh tỉnh Quảng Nam với mật danh là Vụ Quang được thành lập. Ngày 14 – 8 – 1945, Tỉnh uỷ Quảng Nam phát động khởi nghĩa trong toàn tỉnh, nhiều địa phương nhanh chóng nổi dậy giành chính quyền. Ngày 18 – 8 – 1945, quần chúng cách mạng chiếm dinh tỉnh trưởng, làm chủ Hội An; lực lượng vũ trang sau đó tiến về các phủ, huyện Điện Bàn, Duy Xuyên, Đại Lộc, Thăng Bình, Tam Kỳ, Tiên Phước, Hoà Vang phối hợp với lực lượng cách mạng giành chính quyền thắng lợi. Cùng với Bắc Giang, Hải Dương, Hà Tĩnh, Quảng Nam là một trong những địa phương giành được chính quyền thắng lợi sớm nhất cả nước. Tại Đà Nẵng, sáng ngày 26 – 8 – 1945, các lực lượng cách mạng tiến vào trung tâm thành phố Đà Nẵng, treo cờ, giăng biểu ngữ, mít tinh công bố lệnh khởi nghĩa, tuyên bố thủ tiêu bộ máy cai trị của chế độ cũ. Đến 9 giờ sáng, Cờ đỏ sao vàng được kéo lên trên cột cờ Toà đốc lí, đánh dấu thời điểm thành phố Đà Nẵng đã hoàn thành cuộc khởi nghĩa giành chính quyền. Điều đó càng cho thấy khát vọng đấu tranh giành độc lập của toàn thể nhân dân Quảng Đà.
Đến khi thực dân Pháp và sau đó là đế quốc Mỹ xâm lược Việt Nam, lịch sử Đà Nẵng bước sang trang mới. Trong quá trình đấu tranh giành độc lập trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, quân dân Đà Nẵng đã có nhiều chiến công quan trọng như: chiến thắng Núi Thành (5 – 1965), cuộc nổi dậy của nhân dân thành phố Đà Nẵng (năm 1966) và chiến thắng Thượng Đức (8 – 1974). Đặc biệt, trong chiến dịch mùa Xuân 1975, Đà Nẵng trở thành mục tiêu quan trọng của Quân Giải phóng. Từ ngày 27 đến 29/3/1975, lực lượng ta mở cuộc tổng tiến công từ nhiều hướng: qua đèo Hải Vân, từ Điện Bàn – Quảng Nam và từ các vùng ngoại ô phía Nam, Tây Nam thành phố. Với tinh thần quyết thắng và sự ủng hộ của nhân dân, quân ta nhanh chóng làm tan rã lực lượng địch. Ngày 29/3/1975, lá cờ cách mạng tung bay giữa trung tâm thành phố, đánh dấu Đà Nẵng hoàn toàn giải phóng. Chiến thắng thần tốc trong ba ngày không chỉ giải phóng một thành phố lớn mà còn góp phần mở đường cho đại thắng mùa Xuân 30/4/1975.
Qua những sự kiện lịch sử này, ta lại thấy được những trang sử hào hùng, những chiến công oanh liệt trong một thời khói lửa của nhân dân Đà Nẵng, chính những chiến công ấy càng thể hiện tinh thần quả cảm, lòng yêu nước và tinh thần quyết tử cho tổ quốc quyết sinh của nhân dân Đà Thành. Nhắc lại những dấu mốc này không chỉ để tưởng nhớ quá khứ mà còn để nhắc nhở mỗi chúng ta trân trọng hòa bình và góp sức xây dựng quê hương Đà Nẵng ngày càng giàu mạnh, văn minh.


