Lịch sử liên Trung đoàn 301-310-1945-1950 (1)
Liên Trung đoàn 301-310, trước đó là Chi đội 1, Chi đội 10, Trung đoàn 301, Trung đoàn 310 là đơn vị vũ trang tập trung của Khu 7 trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược. Hoạt động trên chiến trường miền Đông Nam Bộ, thường xuyên trên địa bàn hai tỉnh Thủ Dầu Một, Biên Hòa, được sự đùm bọc nuôi dưỡng của nhân dân địa phương, Liên Trung đoàn đã vừa xây dựng vừa chiến đấu, lập được nhiều thành tích xuất sắc, đặc biệt trên mặt trận đánh giao thông, chiến dấu chống càn bảo vệ căn cứ đị
Liên Trung đoàn 301-310, trước đó là Chi đội 1, Chi đội 10, rồi Trung đoàn 301, Trung đoàn 310 hoạt động chiến đấu và công tác trên khắp chiến trường miền Đông Nam Bộ, nhưng chủ yếu ở địa bàn tỉnh Biên Hòa và tỉnh Thủ Dầu Một.
Biên Hòa - Thủ Dầu Một là hai tỉnh thuộc miền Đông Nam Bộ. Miền Đông Nam Bộ là cụm danh từ chỉ vùng đất phía Đông của Nam Bộ, ở vào vị trí chuyển tiếp giữa cao nguyên miền Nam với đồng bằng sông Cửu Long, lưng dựa vào dải Trường Sơn và vùng rừng núi Nam Đông Dương, mặt hướng xuông đồng bằng và biển Đông. Miền Đông Nam Bộ gồm có Sài Gòn - Chợ Lớn và các tỉnh Gia Định, Chợ Lớn, Bà Rịa, Biên Hòa, Thủ Dầu Một, Tây Ninh (theo sự phân chia địa lý hành chính năm 1945).
Trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp (1945 - 1954), miền Đông Nam Bộ là chiến trường trọng điểm của Nam Bộ, được tổ chức thành hai khu: Khu 7 và Khu Sài Gòn - Chợ Lớn; từ năm 1951 gồm Đặc khu Sài Gòn - Chợ Lớn và Phân liên khu miền Đông..
1. Tỉnh Biên Hòa
Tỉnh Biên Hòa ở vào vùng đất nối liền giữa Nam Bộ, cực Nam Trung Bộ và Nam Tây Nguyên. Địa danh này đã nhiều lần thay đổi trong tiến trình lịch sử với các tên gọi: Trấn Biên (1698), Trấn Biên Hòa (1808), tỉnh Biên Hòa (1832). Sách Gia Định thành thông chí, tập Trung ghi “Năm 1698, Linh lược xứ Đàng Trong Nguyễn Hữu Cảnh lấy đất Nông Nại làm phủ Gia Định, lập xứ Đồng Nai làm huyện Phước Long, dựng dinh Trấn Biên, lập xứ Sài Gòn làm huyện Tân Bình, dựng dinh Phiên Trấn, mỗi dinh đặt một chức lưu thủ, cai bộ và ký lục để cai trị”.
Tỉnh Biên Hoà có lịch sử hình thành trên 300 năm1 (Tính từ năm 1698 khi Lê Thành Hầu Nguyễn Hữu Cảnh và kinh lược xứ Đàng Trong, lập phủ Gia Định gồm hai huyện Phước Long và Tân Bình). Đến sau cách mạng tháng Tám 1945, địa bàn tỉnh Biên Hoà rất rộng lớn với diện tích trên 11.000 ki-lô-mét vuông bao gồm toàn bộ tỉnh Đồng Nai hiện nay, toàn bộ tỉnh Bình Phước, huyện Tân Uyên, Dĩ An tỉnh Bình Dương, quận Thủ Đức - Sài Gòn (nay là thành phố Hồ Chí Minh), tiếp giáp các tỉnh Bình Dương, Bình Phước, Bình Thuận, Bà Rịa (nay là tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu), Lâm Đồng, thành phố Sài Gòn; dân số trên 200.000 người bao gồm nhiều dân tộc: Kinh, Hoa, Ch’ro, Mạ, S’tiêng..., trong đó người dân tộc Ch’ro, Mạ, S’tiêng là những cư dân bản địa. Xã Bình Trước, quận Châu Thành (sau là thị xã Biên Hoà) là trung tâm của tỉnh Biên Hoà.
Tỉnh Biên Hoà có địa hình bán trung du, diện tích rừng chiếm đến 2/3 (kể cả rừng cao su), với các con sông lớn là sông Đồng Nai, La Ngà, Sông Bé, Lòng Tàu, cùng với hệ thống chi lưu, sông suối chằng chịt. Rừng Biên Hoà là loại rừng nguyên sinh kín, thường ẩm, cây hỗn giao nhiều tầng, đa dạng về chủng loại với nhiều loại gỗ quý như cẩm lai, gõ, bằng lăng, sao, dầu...; động vật rừng phong phú với các loại thú lớn như voi, tê giác, cọp, báo, nai, heo rừng, khỉ... và hàng chục loài bò sát, chim muông khác. Ngoài rừng vùng cao còn khu rừng cận biển ngập mặn là rừng Sác (khu vực Long Thành, Nhơn Trạch giáp với tỉnh Bà Rịa, Cần Giờ của Sài Gòn. Núi cao ở Biên Hoà có núi Bà Rá, Chứa Chan, xen lẫn với những vùng đồi đồng bằng. Đất Biên Hoà đa dạng với các loại đất phù sa, đất đen, đất đỏ (bazan) rất phù hợp với việc phát triển các loại cây lương thực và cây công nghiệp.
Tỉnh Biên Hoà có hệ thống đường giao thông khá phát triển: quốc lộ I nối liền Nam - Bắc; quốc lộ 151 (Quốc lộ 15 trước đây từ ngã ba vườn Mít chạy ra Tam Hiệp, thẳng ra cổng 11 Long Bình hiện nay, nay là quốc lộ 51) Sài Gòn - Biên Hoà - Bà Rịa, Vùng Tàu; quốc lộ 20 Biên Hoà đi Đà Lạt; quốc lộ 13 Sài Gòn - Bình Dương; quốc lộ 14 Bình Phước đi các tỉnh Tây Nguyên; các liên tỉnh lộ số 8, 16, 24, liên tỉnh lộ số 2... Ngoài ra Biên Hoà còn có trên 100 km đường sắt Nam - Bắc, đường sắt Sài Gòn - Lộc Ninh. Sông Đồng Nai thuận lợi cho việc lưu thông về miền Tây Nam Bộ, ra biển Đông...
Với một vị trí chiến lược quan trọng như vậy, khi tái chiếm Biên Hoà (25-10-1945), thực dân Pháp đã xây dựng nhiều căn cứ quân sự, cơ quan đầu não chỉ huy ở Biên Hoà như sân bay, Nha hình cảnh miền Đông, bộ chỉ huy trung đoàn 22 thuộc địa, kho bom đạn Thành Tuy Hạ...
Cuối thế kỷ XIX, thực dân Pháp bắt đầu tiến hành công cuộc khai thác thuộc địa, xây dựng các cơ sở hạ tầng để bóc lột tài nguyên thiên nhiên và nguồn nhân lực dồi dào và rẻ tiền ở Việt Nam. Ở Biên Hoà thực dân Pháp xây dựng nhà máy BIF (từ 1897, đến 1912 đưa vào hoạt động1 (Đây là nhà máy chế biến ván sàn xuất khẩu. Nhà máy xây dựng một tuyến đường sắt từ Tân Mai lên Trảng Bom, Cây Góa để khai thác vận chuyển gỗ)), Đề-pô xe lửa Dĩ An, mở đường sá, đồng thời xây dựng các công ty trồng khai thác mủ cao su2 (Như các công ty Đất Đỏ, Michelin, Đồng Nai, Xuân Lộc). Chính sách khai thác cao su của thực dân Pháp đã hình thành thành nên những “địa ngục trần gian”, đó là những đồn điền cao su, nơi mà bọn chủ người Pháp, bọn tay sai cai, xu có quyền sinh sát đốì với người phu Việt Nam. Chính sách khai thác thuộc địa của tư bản thực dân đã thúc đẩy quá trình hình thành đội ngũ giai cấp công nhân ở Biên Hoà (bao gồm công nhân công nghiệp và công nhân cao su).
Nhân dân Biên Hoà có truyền thống đấu tranh yêu nước và cách mạng. Ngay khi thực dân Pháp xâm lược lần thứ I (tháng 12-1861), nhân dân Biên Hoà đã bất hợp tác với giặc. Sách Đại Nam thực lục chính biên (tập XXVI) viết: “Dân cư ba huyện Nghĩa An, Bình An, Long Thành gần chỗ giặc Pháp đóng, bỏ trốn đến 74 thôn”1 (Sách đã dẫn. Nxb Khoa học xã hội. H.1974, tr.238). Đặc biệt trong cuộc kháng chiến, các lãnh tụ nghĩa quân đã thành công trong việc tập hợp các dân tộc tham gia. Thực dân Pháp thú nhận: “Quân khởi nghĩa đã thành công trong việc lôi kéo những bộ lạc người Thượng ở ven biên giới Biên Hoà - Bà Rịa; trước đó những bộ lạc này vẫn đứng ngoài cuộc chiến. Việc tham gia của những bộ lạc này chứng tỏ cuộc khởi nghĩa ở Biên Hoà đã có một trợ lực quan trọng”2 (Poyen: Notice sur l'artillerie de la marine en indochine. P 88, P 1893).



