Khác

Lịch sử một cuộc chiến tranh bẩn thỉu (1)

Ngày 25 tháng 4 năm 1977, nhận lời mời của Chính phủ Cộng hòa Pháp, Thủ tướng nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam Phạm Văn Đồng đến Pari, chính thức thăm hữu nghị nước Pháp, một chuyến viếng thăm mà Tổng thống Pháp Đextanh (Valery Giscard DEestaing) gọi là “cuộc tái ngộ Việt – Pháp”. Dư luận Pháp và thế giới lại có dịp nhắc lại “một quá khứ nặng nề” trong quan hệ giữa hai nước Việt Nam và Pháp, nhắc lại “một sự trùng hợp kỳ lạ” trong hai chuyến đi của Thủ tướng Việt Nam. Các báo viế

Lai Châu03/07/2026Trần Trọng Trung (xã sìn hồ)3 lượt xem0 lượt chia sẻ
Một chi tiết được tờ Rạng Đông lưu ý là trong “bữa tiệc hòa giải” gồm 119 người dự, “có cả một số nhân vật Pháp, bằng nhiều cách khác nhau, đã có liên quan đến quá khứ Pháp - Việt Nam”. Ngoài bà Văngđécmét (Françoise Wandermeersch), nổi tiếng về những cố gắng không mệt mỏi trong việc vận động ủng hộ hai cuộc kháng chiến của nhân dân Việt Nam, người ta còn thấy có mặt Xanhtơny, người thay mặt Chính phủ Pháp quan hệ với Chính phủ Việt Nam trong những năm 1945-1946, tướng Bigia (Marcel Bigeard), thứ trưởng quốc phòng, nguyên trung tá chỉ huy quân dù ở Điện Biên Phủ, đã bị quân đội Việt Nam bắt làm tù binh khi tập đoàn cứ điểm này bị tiêu diệt. Khi đến dự tiệc, viên tướng đã tuyên bố với các nhà báo: “Gió lịch sử đã đổi chiều. Tôi không cảm thấy ngượng ngùng khi gặp lại đại diện của một dân tộc đã từng đánh bại quân viễn chinh Pháp”.

Nhưng tiếc thay, biết bao sự việc xảy ra trong quá khứ và đang tiếp tục xảy ra vẫn chưa cho người ta thấy rõ triển vọng hứa hẹn sau những lời lẽ tốt đẹp của Tổng thống Pháp Gixca Đextanh.


Nhìn lại từ quá khứ từ sau khi quân Pháp rút khỏi Việt Nam, chặng đường đi tới cuộc tái ngộ đó đã trải qua những bước gập ghềnh, khúc khuỷu, do thái độ thiếu tích cực của Chính phủ Pháp và lập trường ngoan cố của một số nhân vật ở Pari có trách nhiệm góp phần “lấy lại quãng thời gian đã mất” trong quan hệ giữa hai nước.

Nếu một số chính khách và tướng lĩnh “cỡ đàn anh” như Đờ Gôn, Lơcléc, Míttơrăng, Métxme (Charles de Gaulle, Philippe Leclerc, François Mitterand, Pierre Messmer) đã nhận ra đường lối sai lầm của chính phủ Pháp khi đưa quân sang xâm lược Đông Dương để rồi “mất hết” từ quyền lợi, danh dự đến uy tín trên bán đảo này, thì vẫn còn không ít nhân vật trong Chính phủ Pháp và một số tướng lĩnh “cỡ đàn em” lại vẫn tỏ ra ngoan cố, lỗi thời trong thái độ đối với Việt Nam.

Một số chuyện cũ mà người ta đã biết và được hãng thông tấn Pháp AFP nhắc lại ngày 17 tháng 4 năm 1977 là: “Trong lúc người Mỹ rút khỏi Việt Nam và đang cố gắng lãng quên (cuộc đụng đầu lịch sử) ở Việt Nam thì, thông qua các đại sứ quán của mình, Pari vẫn chơi “con bài hai nước Việt Nam”. Đó là thời kỳ mà Thủ tướng Phạm Văn Đồng đã nhẹ nhàng nhắc nhở: “Thế nào, người Pháp (những người đã tính sai khá nhiều nước cờ) các ông đang làm gì vậy? Hãy coi chừng, khéo lại chậm chân một lần nữa đấy”.

Nhiều tờ báo ở Pari (ngày 26-4-1977) cũng nhận xét: “Cho đến ngày thắng lợi của nhân dân Việt Nam đã được bảo đảm (30-4-1975) với việc giải phóng Sài Gòn, thái độ của các chính phủ kế tiếp nhau ở Pari đã không tạo điều kiện cho các quan hệ tốt đẹp giữa hai bên - đó là điều ít nhất người ta có thể nói đến” (báo Nhân Đạo). “Trong nhiều năm đế quốc Pháp đã ngoan cố phát triển quan hệ kinh tế với bọn phát xít Sài Gòn để được hưởng quyền tô nhượng khai thác dầu mỏ. Ngày nay, nước Việt Nam tự do, làm chủ tài nguyên của mình, không thừa nhận những quyền tô nhượng đó và đế quốc Pháp sẽ phải thương lượng trong những điều kiện được coi là cứng rắn” (Nhật báo Nhân Dân).

Trong số tướng lĩnh Pháp, kể cả những người đã trực tiếp nhúng bàn tay tội ác vào cuộc chiến tranh xâm lược Đông Dương, cũng còn có những kẻ tỏ ra “bảo hoàng hơn cả vua chúa”. Có thể kể một ví dụ về trường hợp tướng Vanuyxem (Vanuxem), nguyên đại tá chỉ huy binh đoàn cơ động số 3 (GM3) người đã từng bị quân dân Việt Nam cho ăn đòn ở đồng bằng Bắc Bộ và chết hụt ở Vĩnh Yên đầu năm 1951.

Qua báo Pháp Thế giới (9-6-1972), người ta biết rằng trong một cuộc tiếp xúc với đại diện ngoại giao Việt Nam tại Pari, tướng Đờ Cát (De Castries, chỉ huy tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ 18 năm về trước) đã tỏ lòng khâm phục tinh thần chiến đấu vì độc lập của quân dân Việt Nam. Đờ Cát cũng khuyên người Mỹ (khi đó đang đàm phán với ta ở Pari) hãy nên nhìn vào tấm gương của Pháp để khỏi trượt quá xa trên bước đường xâm lược. Tin về cuộc gặp gỡ đó và nhất là lời tuyên bố của Đờ Cát khiến Vanuyxem phản ứng. Ngay hôm đó (9-6-1972), hắn biên thư yêu cầu Đờ Cát công khai cải chính lời tuyên bố của mình trên báo, vì “không thể nói những lời có lợi cho những kẻ đã giết bao nhiêu chiến hữu của chúng ta” (!!!). Đồng tình với Vanuyxem là một tên Hôlen (Roger Holeindre) nào đó. Hắn viết thư ngỏ đăng trên tuần báo Minute (14 - 20-6-1972) đả kích Đờ Cát thậm tệ về lời tuyên bố của viên tướng này. Bức thư kết thúc bằng một lời thoá mạ: “Thưa ngài Đờ Cát, ngài là một tên khốn kiếp”.

Chưa hết. Mùa xuân năm 1975, khi quân dân Việt Nam đang giáng đòn cuối cùng vào chủ nghĩa thực dân mới Mỹ ở miền Nam, người ta lại thấy Vanuyxem xuất hiện ở Sài Gòn hòng dựng dậy một thây ma bù nhìn đã rữa nát để chuẩn bị cho một mưu đồ chính trị đen tối của đế quốc Pháp và bè lũ phản động Trung Quốc trên mảnh đất này.

Logged

Giangtvx

Thượng tá
*
Bài viết: 25560

Re: Lịch sử một cuộc chiến tranh bẩn thỉu« Trả lời #3 vào lúc: 01 Tháng Mười Một, 2016, 11:28:11 pm »

Thế rồi vào những ngày cuối năm 1978 tức là hai mươi tháng sau “cuộc tái ngộ Việt – Pháp”, tại Pari lại dấy lên một chiến dịch vu khống và đả kích nước Việt Nam. Chiến dịch đó không những “nhằm bôi nhọ một dân tộc đã được tất cả những người lương thiện khâm phục vì cuộc đấu tranh anh hùng giành độc lập tự do của họ, mà nó còn làm hại uy tín và danh dự nước Pháp”1. Theo báo Nhân Đạo (30-11-1978), thời điểm thực hiện âm mưu chính trị vụng về này đã được lựu chọn một cách có dụng ý: đó là lúc “những tai họa do lụt lội và những mối đe dọa ở biên giới đang ngăn trở những cố gắng của nhân dân Việt Nam nhằm khắc phục hậu quả của ba mươi năm chiến tranh”.

Nhúng tay vào chiến dịch bỉ ổi này gồm cả “những kẻ đã thất bại trong việc khuất phục nhân dân Việt Nam bằng sắt thép, lửa và máu... Với lòng hận thù cao độ, chúng mưu toan rửa nhục cho thất bại về quân sụ bằng những thủ đoạn khác...”. Điểm mặt, người ta thấy Bécna Xtadi - phó chủ tịch Quốc hội, Liônen Xpanh - thu ký Đảng Xã hội... tức là những kẻ mà đồng chí Hăngri Máctanh - Ủy viên Trung ương Đảng Cộng sản Pháp, cho là “dường như còn luyến tiếc thời kỳ mà những bộ trưởng thuộc Đảng Xã hội tham gia điều hành cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam”. Ngoài những chính khách cánh hữu, người ta còn thấy những cái loa của giới tư sản phản động Pháp: Giăng Lacutuya (báo Người quan sát mới), Raymông Arông (báo Tin nhanh), Giăng Đoócmétxông (báo Phigarô), Giăng Phrăngxoa Can (Đài phát thanh Pari),... Chưa đủ. Họ còn mời cả những nhân vật ở bên kia đại dương tham gia bản hòa tấu ở Pari: I. Brao, R. Níchxơn... Brao là ai? Bà Phrăngxoadơ Văngđécmét đã vạch mặt tên nhân viên CIA đội lốt công đoàn này. Năm 1947, y đã tùng đem đôla Mỹ đến Mácxây hòng phá hoại cuộc đình công của công nhân ở cảng này. Níchxơn là ai? Loài người biết mặt viên cựu Tổng thống Hoa Kỳ này qua những tiếng bom ném ruộng đất nước Việt Nam và qua vụ Oatơghêt “nổi tiếng”2. Dù Pháp hay Mỹ, họ đều là những kẻ đang dùng những luận điệu xuyên tạc, vu cáo, để nói về “quyền con người” và đả kích nhân dân Việt Nam. Họ muốn làm rùm beng hòng lấp liếm tất cả những tội ác ngàn đời không xóa nổi mà chính họ và đồng lõa đã tùng trực tiếp hoặc gián tiếp gây ra trên đất nước Việt Nam. Những kẻ đi cướp nước, những kẻ từng đem bom đạn đến tàn phá, hủy diệt từ con người cho đến cây cỏ trên đất nước Việt Nam, nay lại mở miệng nói đến “quyền làm người”. Câu kết với các thế lực phản động quốc tế, họ muốn trả thù những người đã đánh thắng họ và tống cổ họ đi để chấm dứt ách nô lệ giành lại quyền thiêng liêng nhất của con người là làm chủ đất nước và cuộc sống của mình. Nhân dân Việt Nam muốn quên chuyện cũ, nhanh chóng thiết lập những quan hệ mới với những kẻ thù ngày hôm qua, nhưng họ lại vẫn cứ muốn ôm ấp những mưu đồ xấu xa.

Trước luồng gió độc của chiến dịch xuyên tạc và vu cáo bỉ ổi này, một lần nữa Đảng Cộng sản Pháp lại giương cao ngọn cờ chính nghĩa, bảo vệ chân lý, bảo vệ tình hữu nghị giữa hai dân tộc Việt - Pháp. Bằng những bài diễn văn, bài báo, bằng những cuộc tranh luận công khai trên đài truyền thanh và truyền hình, nhiều đồng chí lãnh đạo của Đảng Cộng sản Pháp, nhiều nhà hoạt động xã hội nổi tiếng ở Pari, đã lên án mạnh mẽ những kẻ đại diện cho giới cầm quyền phản động Pháp - Mỹ, bác bỏ luận điệu đả kích và vu cáo của chúng đối với nước Việt Nam, khẳng định lập trường kiên quyết của Đảng Cộng sản và nhân dân Pháp đứng về phía nhân dân Việt Nam đang ra sức xây dựng lại đất nước sau ba mươi năm chiến tranh tàn phá, đòi Mỹ phải thực hiện nghĩa vụ góp phần hàn gắn vết thương chiến tranh ở Việt Nam... Phong trào đoàn kết và ủng hộ Việt Nam trong Chiến dịch sự thật về Việt Nam do Đảng Cộng sản phát động, được các nhân sĩ tiến bộ và các tầng lớp nhân dân ủng hộ và hưởng ứng, đang phát triển rộng khắp trên đất Pháp.

Những kẻ đại diện cho những luận điệu chống Việt Nam ngày càng bị cô lập trước sự thật chính nghĩa sáng ngời. Tuy nhiên, không ít kẻ vẫn tỏ ra ngoan cố đi ngược lại ý chí hòa bình và hữu nghị của nhân dân Pháp, làm hại uy tín và danh dự của nước Pháp, vốn đã từng bị tổn thương nghiêm trọng trong những năm đế quốc Pháp xâm lược Đông Dương (1945-1954). Uy tín và danh dự đó chỉ được khôi phục nếu giới cầm quyền Pháp tính lại nước cờ, tôn trọng những gì mà họ đã nói trong “cuộc tái ngộ Việt - Pháp “ năm 1977 (cuộc tái ngộ mà phía Việt Nam đã đi trước một bước quan trọng) để lấy lại quãng thời gian đã mất, nếu phía Pháp không muốn chậm chân..

----------------
1. Tuyên bố ngày 23-11-1978 của Bộ Chính trị Đảng Cộng sản Pháp (báo Nhân Dân, ngày 25-11-1978).

2. Điều đáng chú ý là khi được vời đến lên tiếng ở đài truyền hình Pháp (28-11-1978), cái thây ma chính trị này vẫn lấy làm tiếc vì... không đưa được nước Việt Nam trở lại thời kỳ đồ đá (báo Nhân đạo, 30-11-1978).

Logged

Giangtvx

Thượng tá
*
Bài viết: 25560

Re: Lịch sử một cuộc chiến tranh bẩn thỉu« Trả lời #4 vào lúc: 01 Tháng Mười Một, 2016, 11:29:02 pm »

*

* *
Cuộc chiến tranh xâm lược mà đế quốc Pháp gây ra ở Đông Dương, cuộc chiến tranh mà Đảng Cộng sản Pháp và dư luận tiến bộ ở Pháp lên án là một cuộc “chiến tranh bẩn thỉu”, đã chấm dứt từ gần một phần tư thế kỷ. Kẻ chiến bại trong cuộc đọ sức đó là đội quân viễn chinh Pháp và các chính phủ tư sản Pháp đã điều hành cuộc chiến tranh xâm lược.

Nhưng qua một số sự kiện trên đây, phải chăng trong các giới chính trị, quân sự và học thuật ở Pháp vẫn còn không ít người tỏ ra “chậm hiểu” về sai lầm của phía Pháp sau cuộc viễn chinh thất bại?

Cho đến nay, đã có hàng trăm cuốn sách viết về cuộc chiến tranh xâm lược của Pháp ở Đông Dương. Tác giả gồm những chính khách, tướng lĩnh, ký giả, sử gia Pháp Mỹ và một số người trước đây đã phục vụ chế độ Mỹ - ngụy ở Sài Gòn. Dưới dạng hồi ký, ký sự, công trình lịch sử,... các tác phẩm đó được viết với những động cơ khác nhau. Người này tỏ ra luyến tiếc vì đế quốc Pháp đã đề mất “bông hoa đẹp nhất của vườn hoa thuộc địa”. Người khác viết nhằm đề cao hoặc biện hộ cho mình, đổ lỗi thất bại cho kẻ khác. Người thứ ba chê bai Chính phủ và tướng lĩnh Pháp không biết điều hành cuộc chiến tranh nên đã đi đến thất bại. Cũng không ít người muốn giương lá cờ “khách quan”, phê phán bên này, vạch tội bên kia, v.v…

Một số người trong các tác giả nói trên, chưa rời bỏ được lập trường thực dân của họ, đã cố tình xuyên tạc và bưng bít lịch sử, làm lẫn lộn vàng thau khi nói về “quá khứ nặng nề” trong quan hệ Việt - Pháp. Song, công bằng mà xét, cũng có không ít người tỏ ra đã dày công nghiên cứu và đưa ra ánh sáng được khá nhiều sự kiện xác thực cùng với những mối quan hệ phức tạp của nó. Cũng có người đã đưa ra được những nhận xét có ích. Tuy nhiên, phần lớn vẫn còn chưa vượt ra khỏi chỗ đứng và cách nhìn tư sản cũ kỹ, đầy thiên kiến của họ. Vì vậy, mặc dầu đã tốn khá nhiều giấy mực, họ vẫn bị chìm ngập và loay hoay trong đống sự kiện cùng những kết luận sai lạc, không giúp cho người đọc, nhất là người đọc ở Pháp, thấy được một cách đúng đắn và toàn diện các vấn đề chủ yếu, thuộc về bản chất chiến tranh, lý do chiến tranh và những nguyên nhân thắng bại của hai bên tham chiến.

Còn về phía chúng ta? Rõ ràng, từ các sự kiện của cuộc kháng chiến chống Pháp, chúng ta đã đi tới được những kết luận lịch sử. Trên thực tế, những kết luận đó đã trở thành những bí quyết giành thắng lợi trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước.

Đương nhiên là chúng ta không dừng lại ở những công việc đã làm. Các cơ quan có trách nhiệm, các nhà nghiên cứu đang tích cực xây dựng và hoàn thành những tác phẩm lịch sử, viết một cách toàn diện, hoàn chỉnh về cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và can thiệp Mỹ (1945- 1954). Sau biết bao biến cố, giờ đây chúng ta đang có những điều kiện thuận lợi để nhìn lại quá khứ và tiếp tục nghiên cứu, khai thác sâu hơn nhằm đạt tới những kết quả mới mẻ, rõ ràng đầy đủ hơn những điều trước đây đã kết luận.

Trong khi chờ đợi những tác phẩm có tầm cỡ như vậy ra đời chúng tôi sưu tầm một số tư liệu - chủ yếu rút ra từ sách báo Pháp, Mỹ và phương Tây – để xây dựng cuốn Lịch sử một cuộc chiến tranh bẩn thỉu này. Đúng như tên gọi của nó, cuốn sách không đề cập một cách toàn diện tới cả hai bên tham chiến mà chỉ cố gắng dựng lại một cách trung thực quá trình diễn biến của cuộc chiến tranh từ phía bên kia, tức là cuộc chiến tranh xâm lược của đế quốc Pháp ở Việt Nam từ 1945 đến 1954. Thông qua diễn biến của cuộc chiến tranh phi nghĩa này, chúng tôi muốn đóng góp với bạn đọc những tư liệu và ý kiên tham khảo về một số vấn đề mà không ít người trong giới chính trị, quân sự, học thuật,... phương Tây hiện chưa giải đáp được, hoặc giải đáp một cách sai lạc. Đó là các vấn đề sau:

- Vì sao giới cầm quyền Pháp vội vã đem quân trở lại xâm lược Đông Dương, khi nước Pháp bại trận vừa thoát thỏi ách chiếm đóng còn đứng trước vô vàn khó khăn, khi nhân dân Việt Nam đã khởi nghĩa giành chính quyền trong cả nước từ tay phát xít Nhật và đã trở thành người chủ của một quốc gia độc lập, thống nhất?

- Vì sao giới cầm quyền Pháp cố tình khước từ thiện chí của nhân dân Việt Nam muốn hợp tác bình đẳng với nhân dân Pháp trong hòa bình và hữu nghị, cố tình gây ra và kéo dài cuộc chiến tranh xâm lược suốt chín năm?

- Vì sao đế quốc Pháp đã đưa sang Việt Nam hàng loạt tướng lĩnh, chính khách tài ba nhất của nền Đệ tứ Cộng hòa Pháp, đã dốc vào cuộc chiến tranh hàng chục vạn quân viễn chinh được Mỹ viện trợ phần lớn vũ khí trang bị trong nhũng năm cuối cuộc chiến, mà vẫn bị thất bại trước Việt Nam - một nước đất không rộng, người không đông, chính quyền nhân dân còn non trẻ, kinh tế nghèo nàn, lạc hậu và xơ xác sau hàng trăm năm nô lệ, lực lượng cũ trang nhỏ bé, vũ khí thô sơ?

- Vì sao đế quốc Pháp lại ngoan cố đến mức chỉ sau “cuộc đọ sức cuối cùng” ở Điện Biên Phủ mà chịu từ bỏ ý chí xâm lược và buộc phải rút quân về nước?

Thông qua các vấn đề nói trên, chúng tôi muốn cùng bạn đọc tìm hiểu một cách tổng quát về quy luật thất bại tất yếu của cuộc chiến tranh xâm lược phi nghĩa mà không ít chính khách và tướng lĩnh tư sản Pháp đã phải cay đắng thú nhận rằng họ đã chọn lầm đối tượng.

Mặt khác, qua những tư liệu về diễn biến của cuộc chiến tranh từ phía đế quốc Pháp, bạn đọc cũng có thể thấy thêm được một phần ý nghĩa to lớn và nguyên nhân thắng lợi của quân dân ta, cũng như sự lãnh đạo, chỉ đạo chiến tranh tài tình của Đảng ta trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và can thiệp Mỹ.

Mục đích của cuốn sách chỉ hạn chế trong phạm vi như vậy nhưng do trình độ người viết có hạn, việc sưu tầm, chọn lọc và sử dụng tư liệu lại gặp nhiều khó khăn nên cuốn sách khó tránh khỏi những thiếu sót. Chúng tôi rất mong được sự đóng góp ý kiến của bạn đọc.

TÁC GIẢ

Logged

Giangtvx

Thượng tá
*
Bài viết: 25560

Re: Lịch sử một cuộc chiến tranh bẩn thỉu« Trả lời #5 vào lúc: 01 Tháng Mười Một, 2016, 11:30:58 pm »

Phần một
NHỮNG NƯỚC CỜ TÍNH SAI
Chương một
NGỰA QUEN ĐƯỜNG CŨ
ĐÓA HOA THUỘC ĐỊA ĐẸP NHẤT
Trong nhiều tác phẩm lịch sử hoặc hồi ký viết về Đông Dương sau Chiến tranh thế giới thứ hai, nhiều sử gia chính khách và tướng lĩnh Pháp thường nhắc tới năm 1939, một năm được các “quan cai trị” Pháp coi là “giấc mộng vàng khó quên”.

Thành ngữ “chiến tiền nguyên trạng”1đã được khắc sâu trong trái tim đen của các ngài thực dân Pháp, những người “luyến tiếc sâu sắc đóa hoa đẹp nhất trong vườn hoa thuộc địa” đã tuột khỏi tay họ từ những năm 40 của thế kỷ này.

Những gì xảy ra trên bán đảo Đông Dương trong những năm Chiến tranh thế giới thứ hai đã nói lên sự hèn nhát của những người tự nhận là “mẫu quốc bảo hộ”, đồng thời cũng nói lên tính chất bảo thủ, ngoan cố, cận thị của họ trước những thay đổi sâu sắc về chính trị và xã hội trên bán đảo này.

Ngày 1 tháng 9 năm 1939, Chiến tranh thế giới thứ hai bùng nổ. Hai ngày sau Chính phủ Pháp tuyên chiến với phát xít Đức cũng là ngày tướng Catơru (Catroux) được cử sang làm toàn quyền Đông Dương, với nhiệm vụ ổn định bằng được cái “hậu phương xa xôi” này để vét người, vét của dốc vào chiến tranh.

Vừa tới nơi, Catơru đã vội vã phát xít hóa bộ máy thống trị của Pháp ở Đông Dương. Theo quan điểm của viên toàn quyền mới, nếu ở Đông Dương không có Đảng Cộng sản “rất kiên cường và rất đáng sợ” thì bán đảo này sẽ không còn là một mảnh đất “hiếu động và bất trị nữa”. Bởi vậy, Catơru nắm ngay lấy bộ máy bạo lực thuộc địa (gồm 60 000 lính Âu-Phi và khố đỏ, 30.000 lính khố xanh và một mạng lưới cảnh sát và mật thám dày đặc để bắt đầu kế hoạch đánh toàn diện, mau lẹ và không thương tiếc vào các tổ chức cộng sản.

Trong khi Catơru và đồng bọn đang tập trung mũi nhọn khủng bố vào phong trào cách mạng thì tại “chính quốc”, ngày 10 tháng 5 năm 1940, quân phát xít Đức vượt qua biên giới, tiến công vào đất Pháp. Sau “những cuộc rút lui có trật tự” của quân đội Pháp, ngày 14 tháng 6, quân Đức đã đặt chân đến Khải Hoàn Môn của thủ đô Pari bỏ ngỏ. Một chính quyền tay sai của Đức được dựng lên, đứng đầu là thống chế Pêtanh (Pétain). Một tuần sau, ngày 22, tướng Đờ Gôn (Chales de Gaulle) trốn sang Anh. Ông ta lên tiếng ở đài phát thanh Luân Đôn, tự nhận là người lãnh đạo phong trào kháng chiến của nhân dân Pháp!, nhưng ngay sau đó, ông ta lại kêu gọi nhân dân trong nước “không đấu tranh chống bọn xâm lược Đức:.. mà hãy chờ quân đội Anh - Mỹ tiến công vào đất Pháp” (!)2

Trong lúc Catơru và đồng bọn còn đang bàng hoàng vì tin sét đánh từ “chính quốc” bay sang thì ngày 19 tháng 6 năm 1940, phát xít Nhật đã lợi dụng cơ hội nước Pháp thua trận để gõ cửa Đông Dương. Yêu sách đầu tiên của phát xít Nhật là Pháp phải đình chỉ việc vận chuyển phương tiện chiến tranh của Mỹ từ cảng Hải Phòng lên vùng Hoa Nam cho quân Tưởng và phải đóng cửa biên giới Việt - Trung. Phủ toàn quyền Pháp ngoan ngoãn cúi đầu chấp nhận.

Từ đó, bắt đầu cả một quá trình đầu hàng từng bước của bọn cầm quyền Pháp ở Đông Dương trước sức ép ngày càng tăng của phát xít Nhật. Các bước đầu hàng của Pháp càng công khai lộ liễu từ khi đô đốc Đờcu (Decoux) được chính quyền Vi-si (tay sai phát xít Đức) cử sang thay tướng Catơru làm toàn quyền Đông Dương (20-7-1940): từ việc buột phải để cho phát xít Nhật dùng đường xe lửa và các sân bay ở Bắc Kỳ chuyển quân và trú quân, đến việc đầu hàng nhục nhã ở Lạng Sơn (21-9-1940) và để cho quân Nhật đổ bộ lên Hải Phòng, Đồ Sơn (25-9-1940); từ việc thi hành mệnh lệnh của Nhật đem quân đàn áp các cuộc khởi nghĩa Bắc Sơn (9-1940) và Nam Kỳ (11-1940) đến việc cắt 70.000 kilômét vuông đất lãnh thổ Campuchia và Lào dâng cho bọn quân phiệt Xiêm La (nay là Thái Lan, khi đó là chư hầu của Nhật) sau khi chịu thất bại trong cuộc chiến tranh Pháp - Xiêm (8-12-1940 - 22-1-1941).

Cuộc chiến tranh xâm lược của phát xít Nhật càng phát triển thì Đông Dương ngày càng trở thành chiếc cầu quan trọng trên đường tiến quân của chúng xuống phía Nam. Với chiêu bài “phòng thủ chung”, bản hiệp ước Pháp - Nhật ký ngày 29 tháng 7 năm 1941 đã biến Đông Dương thành một căn cứ chiến lược của phát xít Nhật để chúng chuẩn bị phát động cuộc chiến tranh Thái Bình Dương (7-12-1941).

Chính sách “phòng thủ chung” (thực chất là sự đầu hàng hoàn toàn của Pháp trước phát xít Nhật ở Đông Dương) và các hiệp ước kinh tế, quân sự tiếp theo đã dồn nhân dân ba nước Việt Nam, Campuchia và Lào vào cảnh một cổ hai tròng. Bọn cầm quyền Pháp đã biến thành những tên cai thầu tiếp tay cho phát xít Nhật, cùng chúng bóc lột và bần cùng hóa nhân dân ba nước Đông Dương3. Quân đội Pháp trên bán đảo này đã trở thành công cụ trong tay phát xít Nhật, được chúng dùng để “bảo vệ hậu phương”, cụ thể là đàn áp mọi hoạt động chống đối của nhân dân và khủng bố phong trào cách mạng. Chấp hành lệnh của bộ chỉ huy quân Nhật, phủ toàn quyền Pháp tung quân đội và cảnh sát đi vây ráp các chiến sĩ cách mạng ở vùng đồng bằng, đô thị và liên tiếp tổ chức các cuộc hành binh vào các căn cứ du kích ở Việt Bắc hòng tiêu diệt các đội vũ trang nhỏ bé của cách mạng Việt Nam.

--------------------
1. Statu quo ante bellum: tình hình như trước chiến tranh, ý nói bọn thực dân Pháp mong mỏi trở lại thời kỳ hoàng kim của chế độ thuộc địa như trước Chiến tranh thế giới thứ hai.

2. Lịch sử hiện đại, Nxb Sự thật, Hà Nội, 1963, tập 2, tr. 11.


3. Từ năm 1940 đến tháng 2 năm 1945 Pháp đã vơ vét của nhân dân Đông Dương để nộp cho phát xít Nhật 720 triệu đồng bạc Đông Dương. Riêng năm 1944, trung bình mỗi tháng 30 triệu; hai tháng đầu năm 1945, mỗi tháng 45 triệu. Giá cả tăng vọt. Nạn lạm phát trầm trọng (đầu năm 1945 số giấy bạc lưu hành đã tăng gấp mười lần so với năm 1941). Theo J. Decoux, A la barre de l’Indochine (Chèo chống ở Đông Dương), Nxb Plon, Paris, 1949, tr. 446.

Logged

Giangtvx

Thượng tá
*
Bài viết: 25560

Re: Lịch sử một cuộc chiến tranh bẩn thỉu« Trả lời #6 vào lúc: 01 Tháng Mười Một, 2016, 11:33:27 pm »

Một tháng sau khi quân Mỹ đổ bộ lên Bắc Phi (5-1943), tướng Đờ Gôn đến Angiêri và tổ chức ra Ủy ban giải phóng. Mưu đồ của ông ta là dựa vào Đồng minh để giải phóng nước Pháp. Một mục tiêu khác không kém phần quan trọng là làm sao duy trì được ách thống trị của đế quốc Pháp ở các thuộc địa trong đó có việc giành lại xứ Đông Dương giàu có từ tay phát xít Nhật.

Nhưng làm thế nào để cứu vãn được tình hình khi mà quân đội Đại Pháp có “sứ mệnh bảo hộ” cho dân bản xứ nhưng lại liên tiếp cúi đầu và lùi bước? “Phải tổ chức kháng chiến”, nếu không sẽ mất hết. Đờ Gôn ghi lại trong hồi ký của ông ta như vậy.

Từ cuối năm 1943, Đờ Gôn liên tiếp phái người bí mật sang Đông Dương để truyền đạt chỉ thị “tổ chức kháng chiến” cho tướng Moócđăng (Mordant, tổng chỉ huy quân đội Pháp). Đờ Gôn không hề biết rằng do lập trường đầu hàng của Đờcu và đồng bọn, mọi chỉ thị của Ủy ban giải phóng đã không có chút giá trị trong thực tế. Các “tổ chức kháng chiến” núp dưới mọi danh nghĩa (Ủy ban hành động giải phóng Đông Dương Hội đồng Đông Dương, v.v.) đều là những tổ chức ma. Mọi dự kiến chuẩn bị đối phó trong trường hợp quân Nhật tiến công chỉ là những kế hoạch trên giấy. Giữa bọn cầm quyền Pháp (trước hết là giữa Đờcu và Moócđăng) luôn luôn xảy ra những cuộc xung đột về chủ trương đối phó với quân đội Nhật.

Điều đáng chú ý là ngay khi “tổ chức kháng chiến” ra đời, Mặt trận Việt Minh đã kêu gọi những người Pháp Đờ Gôn trong tổ chức này hãy hợp tác cùng nhân dân Việt Nam, lập thành một mặt trận dân chủ chống phát xít rộng rãi, chĩa mũi nhọn vào phát xít Nhật và tay sai, theo khẩu hiệu Bình đẳng, tương trợ - Việt Nam độc lập. Nhưng những người Pháp thuộc phái Đờ Gôn đã làm ngơ trước những lời kêu gọi đầy thiện chí của cách mạng Việt Nam.

Mặc dù Đờcu và bè lũ đã cúi đầu tuân theo mọi mệnh lệnh của Nhật nhưng phát xít Nhật vẫn không ngừng lấn tới và mâu thuẫn giữa Pháp - Nhật vẫn ngày càng sâu sắc vì cả hai tên cướp đều tìm cơ hội độc chiếm Đông Dương.

Từ cuối năm 1944, quân đội Nhật đã đứng trước cục diện chiến tranh Thái Bình Dương đang phát triển ngày càng không lợi cho chúng. Đường biển xuống phía nam đã bị cắt đứt. Trên bán đảo Đông Dương, chúng phải lo đối phó với ba đối thủ: trước hết là phong trào cách mạng đang nhành chóng lan rộng; thứ hai là quân Anh - Mỹ có thể sẽ đổ bộ vào Đồng Dương và thứ ba là nguy cơ quân Pháp hoạt động phối hợp khi quân Đồng minh tiến công. Nếu đối với phong trào cách mạng Việt Nam, phát xít Nhật không thể dập tắt thì việc hạ thủ quân đội Pháp đã trở nên một yêu cầu cấp thiết để tránh hậu họa bị đánh từ phía sau khi quân Đồng minh đổ bộ và để độc chiếm bán đảo này làm chiếc cầu nối liền xuống chiến trường phía nam.

Cuộc đảo chính của phát xít Nhật nổ ra đêm 9 tháng 3 năm 1945. Chỉ trong đêm đó, toàn bộ bộ máy dân sự và quân sự của Pháp ở Đông Dương đã nhanh chóng bị đập tan. Toàn quyền Đờcu và tổng chỉ huy Moócđăng bị bắt. Khoảng 80.000 quân Pháp - bản xứ trên toàn Đông Dương (trong đó có 60.000 quân chính quy gồm Pháp, lê dương khố đỏ) hoàn toàn bị tan rã. Chỉ còn chừng 5.600 tên sống sót theo tướng Alécxăngđri (Alessandri) chạy trốn sang bên kia biên giới Việt Trung.

Trong hoàn cảnh bi thảm mà sau này tướng Đờ Gôn gọi là “Thượng đế thì quá cao mà nước Pháp thì quá xa”, các tướng lĩnh Pháp đã bất lực không thực hiện được yêu cầu của thủ lĩnh Đờ Gôn là giữ bằng được “bông hoa đẹp nhất của vườn hoa thuộc địa”. Cũng theo ông ta, thất bại nhục nhã của Pháp đêm 9 tháng 3 năm 1945 là “những dòng cuối cùng của thiên anh hùng ca” (!) của quân đội Đệ tứ Cộng hòa Đại Pháp trong Chiến tranh thế giới thứ hai.

Đáng mỉa mai hơn nữa là mãi đến năm 1959, khi cho ra đời tập 3 cuốn Hồi ký chiến tranh của mình, Tổng thống Pháp Đờ Gôn còn hết lời ca tụng “các đơn vị xuất phát từ nhiều địa điểm thuộc bắc Bắc Kỳ, trong đó có binh đoàn quan trọng do tướng Alécxăngđri chỉ huy, với lính lê dương làm nòng cốt, đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ chạy trốn sang đất Trung Hoa” (!). Đờ Gôn không hề nói một lời về nguyên nhân dẫn tướng lĩnh và quân đội Pháp đến thảm cảnh khó quên đêm 9 tháng 3, điều mà ngay từ hồi đó, báo chí cách mạng Việt Nam đã vạch trần. Trong số ra ngày 16 tháng 5 năm 1945, báo Cờ giải phóng - cơ quan của Đảng Cộng sản Đông Dương - viết:

“… Nguyên nhân thất bại cốt yếu của Pháp, Đờ Gôn ở Đông Dương chính là ở chỗ họ ưa hợp tác với bọn phát xít Đờcu hơn là thống nhất hành động với nhân dân Đông Dương trong việc chống Nhật.”

“… Và trước sau họ vẫn tin rằng bọn Đờcu có thể dùng ngoại giao hòa hoãn được những mâu thuẫn Pháp - Nhật cho đến lúc quân Đồng minh đổ bộ vào Đông Dương.”

“… Quyền lợi đế quốc của họ đã làm cho họ mù quáng... Họ không thèm đáp ứng lời kêu gọi của các đoàn thể cách mạng Đông Dương hô hào họ cùng lập Mặt trận thống nhất chống Nhật. Họ không thèm để ý đến lời cảnh cáo của Đảng Cộng sản Đông Dương báo trước cho họ biết rằng: nếu họ không thừa nhận quyền dân tộc độc lập của nhân dân Đông Dương thì nhất định họ sẽ chết chẹt giữa hai gọng kìm: nhân dân Đông Dương - phát xít quân phiệt Nhật...”.

Ngay sau khi lật đổ đế quốc Pháp ở Đông Dương, khi “chính quyền” mới của chúng còn chưa đứng vững ở các địa phương, phát xít Nhật đã vội điều quân lên càn quét căn cứ địa cách mạng Việt Bắc. Trong cả mùa hè 1945, dù tập trung lực lượng và áp dụng mọi thủ đoạn tàn bạo của quân đội phát xít, chúng cũng không đủ sức chống lại phong trào cách mạng Việt Nam đang phát triển cao chưa từng thấy, nhất là ở miền Bắc nước ta.

Nắm vững bản chỉ thị lịch sử Nhật - Pháp bắn nhau và hành động của chúng ta, đề ngày 12 tháng 3 năm 1945, của Thường vụ Trung ương Đảng Cộng sản Đông Dương, các tầng lớp nhân dân Việt Nam ở cả miền núi và miền xuôi, ở nông thôn cũng như thành thị đã hướng theo lá cờ Việt Minh, đẩy mạnh cao trào chống Nhật, cứu nước, từ chiến tranh du kích cục bộ, khởi nghĩa từng phần, giành chính quyền địa phương, tiến lên tổng khởi nghĩa giành chính quyền thắng lợi trong cả nước từ tay phát xít Nhật.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn