SƠ LƯỢC QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN CÁC YẾU TỐ CHIẾN DỊCH PHÒNG KHÔNG TỪ 1965 ĐẾN 1972 Chiến dịch phòng không là một loại hình chiến dịch của nghệ thuật quân sự Việt Nam. Chiến dịch phòng không có những đặc điểm chung với các loại hình chiến dịch khác của lực lượng vũ trang nhân dân Việt Nam, đổng thời có những đặc trưng riêng của nó.
Để thực hiện được nhiệm vụ chiến dịch, cần phải có các điều kiện nhất định về lực lượng, về tổ chức chỉ huy, về cách đánh chiến dịch, về hiệp đồng tác chiến của các lực lượng tạo sức mạnh tổng hợp hoàn thành nhiệm vụ do chiến lược giao cho
Do bối cảnh cụ thể trong cuộc kháng chiến chống chiến tranh phá hoại miền Bắc của đế quốc Mỹ, các yếu tố cần thiết để tổ chức chiến dịch phòng không được hình thành từng bước theo quá trình phát triển của thực tiễn chiến tranh và nhiệm vụ tác chiến phòng không. Do vậy, chiến dịch phòng không chưa đủ điều kiện để xuất hiện ngay thời kỳ đầu chiến tranh và phải từng bước hình thành và phát triển từ thấp đến cao, từ chưa hoàn thiện đến hoàn thiện.
Lực lượng phòng không ba thứ quân là một bộ phận quan trọng của lực lượng vũ trang nhân dân Việt Nam, trong đó lực lượng của Quân chủng Phòng không- Không quân là lực lượng nòng cốt trong cuộc chiến tranh nhân dân đất đối không. Từ những ngày đầu cuộc kháng chiến chống Pháp, bằng các loại súng bộ binh ta đã bắn rơi máy bay của giặc Pháp và dần dần hình thành các đơn vị phòng không chuyên trách trong các đơn vị bộ binh. Cuối cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, trung đoàn pháo cao xạ 367, lực lượng phòng không đầu tiên của quân đội ta ra đời và đã chiến đấu có hiệu quả, góp phần vào thắng lợi chung của Chiến dịch Điện Biên Phủ năm 1954, kết thúc thắng lợi cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp. Qua đó, những nguyên tắc và hình thức tác chiến cơ bản của phòng không bước đầu đã được hình thành.
Thực hiện hiệp định Giơ-ne-vơ 1954, đất nước ta tạm chia ra làm hai miền. Cách mạng Việt Nam đồng thời thực hiện hai nhiệm vụ chiến lược: xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc và giải phóng miền Nam, thống nhất Tổ quốc.
Lực lượng phòng không chuyển từ nhiệm vụ tham gia tác chiến trong bộ đội binh chủng hợp thành sang thực hiện chức năng chủ yếu bảo vệ công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc. Trong một lần đến thăm bộ đội cao xạ bảo vệ Hà Nội, Bác Hồ đã nói: "Hà Nội chưa có pháo cao xạ như một ngôi nhà chưa có nóc". Dưới sự lãnh đạo của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh, lực lượng phòng không được phát triển nhanh chóng. Từ đó các binh chủng phòng không lần lượt ra đời và triển khai chiến đấu. Ngày 1 tháng 3 năm 1959, bộ đội rađa bát đầu phát sóng. Từ đó, quân đội ta bắt đầu sử dụng thiết bị điện tử trong thực hiện nhiệm vụ quản lý vùng trời. Ngày 6 tháng 8 năm 1964, sau một thời gian xây dựng và huấn luyện, trung đoàn không quân tiêm kích đầu tiên đã triển khai sẵn sàng chiến đấu bảo vệ vùng trời Tổ quốc
Trước những âm mưu xâm lược của đế quốc Mỹ, năm 1963 Quân chủng Phòng không- Không quân được thành lập. Việc tổ chức và nâng cao chất lượng của lực lượng phòng không trên miền Bắc càng được tăng cường và phát triển khẩn trương hơn.
Để chủ động đánh bại cuộc chiến tranh phá hoại của địch, bảo vệ miền Bắc, tháng 1 năm 1964, Bộ Quốc phòng triệu tập hội nghị phòng không nhân dân bàn biện pháp cụ thể đánh bại các cuộc tập kích đường không của địch vào miền Bắc. Nhờ có sự chuẩn bị từ trước, quân và dân miền Bắc mà lực lượng chủ yếu là bộ đội phòng không và hải quân đã bình tĩnh, chủ động, trừng trị đích đáng không quân Mỹ ngay từ trận đầu khi chúng liều lĩnh lao vào đánh phá các mục tiêu ven biển của ta ngày 5 tháng 8 năm 1964. Trận đánh thắng ngày 5 tháng 8 năm 1964 giúp ta khẳng định, với vũ khí súng pháo phòng không hiện có, chúng ta vẫn có thể bắn rơi máy bay phản lực siêu âm của đế quốc Mỹ.
Trước sự thất bại của chiến lược "Chiến tranh đặc biệt", đế quốc Mỹ ồ ạt đưa quân vào trực tiếp tham chiến ở miền Nam và tiến hành chiến tranh phá hoại nhằm ngăn chặn sự chi viện của miền Bắc cho miền Nam, phá hoại công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bác. Trong ngày nhậm chức tổng thống 20 tháng 1 năm 1965, Giôn-xơn tuyên bố: "Phải có hành động mạnh mẽ hơn nữa để ngăn chặn sự sụp đổ hoàn toàn của quân đội Việt Nam cộng hoà và chính quyền miền Nam, giữ vững Nam Việt Nam".
Để đánh bại chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ, Đảng ta chủ trương phát động một cuộc chiến tranh nhân dân đất đối không: toàn dân bắn máy bay và tàu chiến địch, toàn dân làm công tác phòng tránh, toàn dân bảo đảm giao thông vận tải, kết hợp chặt chẽ giữa chiến đấu và sản xuất, thực hiện chuyển hướng nền kinh tế phục vụ quốc phòng, bảo đảm đời sống nhân dân, tiếp tục xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc, làm tròn nhiệm vụ chi viện cho cuộc chiến đấu của quân dân miền Nam và chi viện quốc tế.
Quán triệt tư tưởng chiến lược tiến công và những tư tưởng chỉ đạo chiến tranh của Đảng vào tác chiến phòng không, ngay từ đầu năm 1965, Quân chủng Phòng không- Không quân đã xây dựng năm nguyên tắc tác chiến phòng không và từng bước bổ sung, hoàn thiện thành tám nguyên tắc cơ bản. Đó vừa là tư tưởng chỉ đạo, vừa là nguyên tắc và củng là yêu cầu của tác chiến phòng không. Đó cũng là nội dung cơ bản của nghệ thuật tác chiến phòng không đánh bại hai cuộc chiến tranh phá hoại miền Bác của đế quốc Mỹ, do hai đời tổng thống Mỹ Giôn- xơn và Ních- xơn tiến hành.
Qua hai lần đọ sức với không quân Mỹ, nghệ thuật tác chiến phòng không đã hình thành các giai đoạn tương đối rõ nét: giai đoạn hoạt động chiến đấu phòng không độc lập, nhỏ lẻ thời kỳ đầu chiến tranh, giai đoạn hoạt động tác chiến phòng không hiệp đồng binh chủng ở quy mô chiến thuật, giai đoạn tác chiến phòng không tập trung có tính chất chiến dịch và tiến tới chiến dịch phòng không quy mô lớn khá hoàn chỉnh ở cuối cuộc chiến tranh phá hoại lần thứ hai của đế quốc Mỹ. | |
Logged
|
|
|
|
Giangtvx Thượng tá  Bài viết: 25560 | 
| Re: Lịch sử nghệ thuật chiến dịch phòng không 12-1972« Trả lời #7 vào lúc: 15 Tháng Tư, 2016, 09:16:27 pm » | I. GIAI ĐOẠN HOẠT ĐỘNG CHIÊN ĐẤU PHÒNG KHÔNG ĐỘC LẬP, NHỎ LẺ THỜI KỲ ĐẦU CHIẾN TRANH PHÁ HOẠI LẦN THỨ NHẤT Cuộc chiến tranh phá hoại miền Bắc của đế quốc Mỹ được tiến hành liên tục từ chiến dịch "Mũi lao lửa", lấy cớ trả đũa các trận tiến công của quân dân miền Nam
Đêm 6 rạng ngày 7 tháng 2 năm 1965, Quân giải phóng miền Nam tiến công vào một đơn vị quân Mỹ ở Plây Cu. Ngày 7 tháng 2 năm 1965, địch dùng lực lượng lớn máy bay trên ba hạm tàu vào đánh phá các doanh trại quân đội, trạm rađa 12 và bệnh viện Đồng Hới tỉnh Quảng Bình. Tiếp đó, ngày 8 tháng 2 năm 1965, địch sử dụng hỗn hợp cả không quân hạm đội 7 của Mỹ với không quân ngụy đánh phá đồng thời vào hai khu vực Vĩnh Linh và Quảng Bình.
Mặc dù chưa có nhiều lực lượng phòng không chủ lực của quân chủng, nhưng với tinh thần sẵn sàng chiến đấu cao, nhờ có kinh nghiệm đánh thắng trận đầu ngày 5 tháng 8 năm 1964, các lực lượng phòng không tại chỗ của các đơn vị bộ binh, của hải quân trên tàu, các tổ súng máy phòng không của các trạm rađa, các trận địa phòng không của dân quân tự vệ thị trấn, cơ quan, nông trường đã đánh trả mãnh liệt. Trong hai ngày đã bán rơi tám máy bay địch và bắn bị thương nhiều chiếc khác. Chiếc máy bay của tướng Nguyễn Cao Kỳ trực tiếp chỉ huy lực lượng không quân ngụy đánh phá Vĩnh Linh bị thương, phải về hạ cánh cấp tốc xuống sân bay Phú Bài (Huế).
Chỉ mới qua hai ngày mở đầu chiến tranh, tổn thất chưa lớn, nhưng đã làm cho địch choáng váng. Giôn-xơn phải ra lệnh tạm dừng đánh phá, tiến hành trinh sát lại khu vực để chuẩn bị những trận đánh mới.
Để đáp ứng kịp thời nhiệm vụ đánh trả không quân địch, chấp hành lệnh của Bộ Tổng Tham mưa, quân chủng và Quân khu 4 đã điều động cấp tốc một số tiểu đoàn cao xạ 37mm, một số đại đội súng máy phòng không 14,5mm tăng cường lực lượng cho phía nam Quân khu 4.
Ngày 11 tháng 2 năm 1965, địch lại lấy cớ ta tiến công trại lính Mỹ ở Quy Nhơn để tiếp tục chiến dịch "Mũi lao lửa", tập trung đánh phá khu vực Vĩnh Linh và Quảng Bình. Tiểu đoàn cao xạ 37mm của quân chủng đã phát huy vai trò nòng cốt đánh máy bay địch trong khu vực, cùng các lực lượng phòng không tại chỗ bắn rơi sáu máy bay địch. Chỉ qua mấy ngày đọ sức với ta chiến dịch "Mủi lao lửa" của địch bị thất bại, Giôn-xơn tuyên bố kết thúc chiến dịch, chuyển sang hoạt động đánh phá nhỏ lẻ các đầu mối giao thông miền tây Quảng Bình.
Sau khi nghiên cứu, các nhà quân sự Mỹ nhận thấy những hành động trả đũa không có khả năng gây sức ép buộc ta ngừng tiến công ở miền Nam. Ngày 13 tháng 2 năm 1965, Giôn-xơn quyết định sử dụng không quân mở rộng phạm vi đánh phá. Quyết định mới của Giôn-xơn được thực hiện bằng các chiến dịch "Sấm rền", đánh phá leo thang dần ra vĩ tuyến 19 rồi vĩ tuyến 20, chủ yếu nhằm vào các mục tiêu quân sự và một số cơ sở kinh tế.
Sau mấy ngày đầu, thế trận phòng không trên địa bàn Quân khu 4 đã được củng cố, một số tiểu đoàn, trung đoàn pháo cao xạ của quân chủng và của quân khu triển khai chiến đấu.
Càng leo thang đánh phá ra phía ngoài, tổn thất của không quân Mỹ ngày càng lớn, số giặc lái bị chết và bị bắt sống ngày càng nhiều. Sau ba ngày đầu của chiến dịch "Sấm rền", Giôn-xơn lại phải ra lệnh tạm ngừng đánh phá, họp hội đồng an ninh quốc gia đánh giá lại tình hình phòng không miền Bắc và tìm cách đối phó. Các nhà quân sự Mỹ cho rằng đối tượng nguy hiểm trước tiên cần phải đánh phá là các trận địa rađa.
Từ nhận định đó, địch tổ chức một đợt đánh phá tập trung vào các trận địa rađa nam Quân khu 4.
Ngày 23 tháng 3 năm 1965, địch đánh trận địa đại đội rađa 11 ở Vĩnh Linh. Các lực lượng phòng không tại chỗ đã kiên quyết đánh trả bảo vệ trận địa, bắn rơi bảy máy bay Mỹ.
Rút kinh nghiệm của đại đội rađa 11, đại đội rađa 12 ở Quảng Bình đã cơ động triển khai sang vị trí khác, bố trí trận địa rađa giả ở vị trí cũ để thu hút, phân tán lừa địch. Ngày 24 tháng 3 năm 1965, địch tập trung đánh vào trận địa rađa giả. Hai tiểu đoàn pháo cao xạ của quân chủng cùng lực lượng phòng không địa phương đã đánh địch quyết liệt, bắn rơi hai máy bay.
Sau hai ngày địch liên tiếp đánh phá trận địa rađa, quân chủng nhận định: máy bay Mỹ còn tiếp tục đánh các trận địa rađa. Rút kinh nghiệm làm trận địa giả lừa địch của trạm rađa 12, quân chủng đá chỉ đạo phát triển thành kế nhử địch để đánh địch. Đại đội rađa 13 ở Hà Tĩnh được lệnh cơ động sang trận địa mới, tại vị trí cũ lập một trận địa giả. Tiểu đoàn 8 cao xạ được lệnh cơ động gấp từ Quảng Bình ra Hà Tĩnh cùng với đại đội pháo cao xạ của Hà Tĩnh và lực lượng dân quân tự vệ tổ chức thành cụm pháo phòng không để thực hiện một trận đánh tiêu diệt. Đúng như dự kiến của ta, ngày 26 tháng 3 năm 1965, địch tổ chức trận đánh tập trung vào trận địa rađa giả ở Hà Tĩnh. Cụm phòng không đã đánh địch quyết liệt, tiêu diệt bốn máy bay địch.
Kế hoạch của địch đánh phá các trận địa rađa phía trước bị thất bại, các trận địa rađa của ta vẫn phát sóng liên tục, quản lý chặt chẽ không phận phục vụ chiến đấu và phòng tránh trên địa bàn.
Qua mấy tháng tập trung đánh phá các mục tiêu ở nam Quân khu 4, tuyến hậu phương trực tiếp của chiến trường miền Nam, hòng buộc ta ngừng tiến công ở miền Nam không đạt mục đích, bộ trưởng Bộ quốc phòng Mỹ Mác Namara đang kiểm tra ở chiến trường đã phải báo cáo với tổng thống: "Tình hình Nam Việt Nam rất nghiêm trọng, quân đội Việt Nam cộng hoà không còn đủ sức đương đầu với Việt cộng..., quyền chủ động đã thuộc về tay Cộng sản". | |
Logged
|
|
|
|
Giangtvx Thượng tá  Bài viết: 25560 | 
| Re: Lịch sử nghệ thuật chiến dịch phòng không 12-1972« Trả lời #8 vào lúc: 15 Tháng Tư, 2016, 09:17:47 pm » | Trước nguy cơ thất bại hoàn toàn của chiến lược "Chiến tranh đặc biệt", ngày 1 tháng 4 năm 1965, chính quyền Giôn-xơn quyết định đưa bộ binh Mỹ vào trực tiếp tham chiến ở miền Nam Việt Nam, chuyển chiến lược: "Chiến tranh đặc biệt" sang chiến lược: "Chiến tranh cục bộ" và mở rộng quy mô đánh phá ra miền Bắc. Mỹ chuyển mục đích của chiến dịch "Sấm rền" từ chỗ "bẻ gãy ý chí Bắc Việt Nam" sang thực hiện "cắt đứt luồng tiếp tế người và hàng hoá từ miền Bắc vào miền Nam". Thực hiện mục tiêu trên, địch mở đợt đánh tập trung vào các tuyến giao thông quan trọng, phá hoại và làm hư hỏng một loạt cầu xung yếu: cầu Hàm Rồng, cầu Đò Lèn, cầu Cấm, cầu Hoàng Mai v.v...
Trong hai tháng đầu chiến tranh, với ý đồ tập trung đánh trả đũa, gây sức ép ở nam Quân khu 4, chúng tổ chức từng trận đánh tập trung vào một số mục tiêu, lợi dụng địa hình ven biển, lòng sông bay thấp rồi đột ngột nâng độ cao chiếm lĩnh điểm bổ nhào đánh phá mục tiêu, kết hợp sử dụng một số tốp nghi binh hướng đột nhập và bay ở độ cao lớn để thu hút hoả lực phòng không của ta.
Lực lượng phòng không trên chiến trường nam Quân khu 4 mới chỉ có một số phân đội cao xạ 37mm của quân chủng, một số phân đội phòng không của bộ binh, súng pháo trên tàu của hải quân, các trung đội, tiểu đội súng máy phòng không của các đơn vị, cơ quan, nông trường và lực lượng bắn máy bay rộng khắp bằng súng bộ binh của dân quân tự vệ. Quy mô tác chiến còn ở phạm vi tiểu đoàn trở xuống, hình thức hoạt động tác chiến còn mang tính chất độc lập, nhỏ lẻ. Một số trận đã hình thành cụm, nhưng quy mô còn nhỏ, chưa tổ chức được chỉ huy cụm thống nhất nên sức mạnh chiến đấu hiệp đồng chưa cao, chưa phát huy hết khả năng tiêu diệt địch của toàn cụm.
Lực lượng phòng không của ta trong giai đoạn đầu chiến tranh mới tổ chức đến quy mô trung đoàn. Các trung đoàn pháo cao xạ đang triển khai bố trí bảo vệ .các thành phố, các khu công nghiệp, chưa có điều kiện vào tham gia chiến đấu ngay từ đầu. Trung đoàn không quân tiêm kích đã về nước từ ngày 6 tháng 8 năm 1964, nhưng ta mới chỉ có một sân bay phản lực ở Hà Nội, phạm vi hoạt động của máy bay hạn chế, chưa có điều kiện vào đánh địch ở phía nam Quân khu 4.
Giai đoạn hoạt động tác chiến phòng không độc lập nhỏ lẻ diễn ra trong một thời gian ngắn ở địa bàn nam Quân khu 4, nhưng đã đem lại cho ta nhiều bài học thực tiễn vô cùng quý giá về nghệ thuật tác chiến phòng không:
Bước đầu ta nhận biết được một cách cụ thể hoạt động của không quân địch: leo thang đánh phá dần ra miền Bắc, cường độ đánh phá ngày càng tăng, tập trung đánh vào từng hệ thống mục tiêu theo một ý đồ cụ thể. Đặc biệt chú trọng đánh phá hệ thống rađa phòng không và các trận địa phòng không trực tiếp bảo vệ mục tiêu. Khi bị tổn thất nặng, địch lại tạm dừng đánh phá. Trong vòng hai tháng đầu chiến tranh, Giôn-xơn đã phải ra lệnh tạm dừng đánh phá hai lần để nghiên cứu rút kinh nghiệm.
Bước đầu vận dụng có hiệu quả phương thức tác chiến tại chỗ, rộng khắp của mọi lực lượng phòng không, mọi loại vũ khí, kể cả vũ khí bộ binh để bắn máy bay phản lực của Mỹ
Các phân đội cao xạ chủ lực của quân chủng đã bước đầu phát huy được vai trò nòng cốt cho toàn dân bắn máy bay địch trên địa bàn, được sử dụng tương đối linh hoạt, nhanh chóng cơ động tập trung bảo vệ trực tiếp các mục tiêu bị uy hiếp. Điển hình là việc sử dụng tiểu đoàn 8 pháo cao xạ cơ động từ ngoài vào đánh địch bảo vệ trạm rađa 12 ở Quảng Bình, rồi lại khẩn trương cơ động ra Hà Tĩnh đánh địch bảo vệ trạm rađa 13.
Bước đầu hình thành chiến thuật nghi binh nhử địch sáng tạo và khôn khéo. Đã tổ chức hai trận nhử địch đạt hiệu quả. Trận đầu mới chỉ nghi binh lừa địch, phân tán sự đánh phá của chúng. Trận sau đã phát triển nghệ thuật cao hơn, tổ chức cụm phòng không phục kích tiêu diệt địch ở khu nhử địch.
Thực hiện triệt để các biện pháp nguy trang, nghi binh, cơ động trận địa, đặc biệt đối với các trận địa rađa tuyến ngoài, nên đã bảo toàn được lực lượng, phát sóng liên tục, thực hiện được nhiệm vụ quản lý không phận.
Qua thực tiễn chiến đấu với không quân Mỹ trong những tháng đầu cho ta thấy rõ hơn lực lượng phòng không ba thứ quân phát triển chưa đáp ứng yêu cầu về số lượng đơn vị, về vũ khí trang bị củng như về tổ chức và chỉ huy chiến đấu.
Dưới sự chỉ đạo trực tiếp của Quân uỷ Trung ương và Bộ Quốc phòng, chúng ta đã tập trung xây dựng gấp nhiều đơn vị phòng không chủ lực, cấp tốc tổ chức hai trung đoàn tên lửa và chuẩn bị cho không quân sớm vào chiến đấu, triển khai rộng rãi các tổ bắn máy bay của dân quân tự vệ, chỉ đạo sơ tán phòng tránh cho các thành phố, xí nghiệp, tổ chức hệ thống thông báo báo động phòng không nhân dân.
Trước tình hình địch leo thang đánh phá Quân khu 4, chúng ta đã điều chỉnh lại thế trận, tăng cường bảo vệ vững chắc các yếu địa quan trọng: Hà Nội, Hải Phòng, Nam Định, Thái Nguyên, Việt Trì, đồng thời đưa một phần lực lượng dự bị và luân phiên các đơn vị bảo vệ yếu địa cơ động vào chiến trường Khu 4 đánh địch leo thang, bảo vệ giao thông vận chuyển và rèn luyện trong thực tế chiến đấu.
Đây là một sự sáng tạo trong quán triệt tư tưởng chiến lược tiến công, giải quyết mâu thuẫn giữa yêu cầu mở rộng tác chiến phòng không với lực lượng của ta còn có hạn. Từ thực tiễn chiến đấu trên chiến trường, quân chủng đã xác định được tư tưởng chỉ đạo tác chiến là: bí mật bất ngờ, cơ động nhanh, tập trung đúng lúc, đánh chắc thắng, tiêu diệt địch, bảo vệ mục tiêu. | |
|
|