Khác

Lịch sử Quảng Trị kháng chiến chống Mỹ cứu nước (1954-1975)

Trong dịp kỷ niệm 50 năm ngày thành lập Quân đội nhân dân Việt Nam (22-12-1944 - 22-12-1994), chấp hành chủ trương của Thường vụ Tỉnh ủy, Bộ chỉ huy quân sự tỉnh Quảng Trị đã phát hành cuốn sơ thảo “Quảng Trị kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược (1945 -1954)” phổ biến rộng rãi trong lực lượng vũ trang nhân dân, nhằm góp phần giáo dục truyền thống cho cán bộ, chiến sĩ và đồng bào trong cả nước, đặc biệt là quê hương Quảng Trị vươn lên hoàn thành tốt nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Cùng

Lai Châu02/07/2026Quân đội nhân dân (xã sìn hồ)1 lượt xem0 lượt chia sẻ
Sau chín năm trường kỳ kháng chiến, ngày 20/7/1954 hiệp định Giơnevơ về chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Đông Dương đã được ký kết. Các nước tham gia hội nghị long trọng tuyên bố tôn trọng độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ 3 nước: Việt Nam, Lào và Campuchia. Theo hiệp định này, quân đội nước ngoài phải rút khỏi Đông Dương và sau 2 năm kể từ ngày ký hiệp định sẽ tổ chức tổng tuyển cử tự do để thống nhất nước Việt Nam.

Trong thời gian chờ tổng tuyển cử, hiệp định đình chiến quy định: ở Việt Nam lấy vĩ tuyến 17 làm giới tuyến quân sự tạm thời để lực lượng vũ trang hai bên tập kết. Lực lượng quân đội nhân dân Việt Nam ở phía Bắc, lực lượng quân “Liên hiệp Pháp” ở phía Nam giới tuyến. Giới tuyến chỉ có tính chất tạm thời hoàn toàn không thể coi là một ranh giới về chính trị hoặc lãnh thổ. Nhưng với hiệp định này, sông Bến Hải của tỉnh Quảng Trị đã trở thành giới tuyến quân sự tạm thời ngăn cách hai miền đất nước. Theo hiệp định, thực dân Pháp phải rút hết quân khỏi Vĩnh Linh, còn lực lượng vũ trang ta từ bờ Nam sông trở vào tập kết ra miền Bắc.

Ngày 25-8-1954, tên lính Pháp cuối cùng rời khỏi Vĩnh Linh. Phía bắc sông Bến Hải gồm hầu hết huyện Vĩnh Linh được hoàn toàn giải phóng cùng với miền Bắc bước vào thời kỳ quá độ đi lên chủ nghĩa xã hội. Một phần huyện Vĩnh Linh và các huyện còn lại của tỉnh Quảng Trị ở phía Nam vĩ tuyến 17 cùng với miền Nam biến thành thuộc địa kiểu mới của đế quốc Mỹ. Hai khu vực Vĩnh Linh - Quảng Trị cùng với cả nước làm hai nhiệm vụ chiến lược. Vừa tiến hành cách mạng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc, vừa tiến hành cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân ở miền Nam. Sự nghiệp đấu tranh giải phóng quê hương của nhân dân tỉnh ta chưa hoàn thành trọn vẹn.

Vốn có âm mưu xâm lược nước ta từ lâu, đế quốc Mỹ không chịu ký vào bản tuyên bố chung của Hội nghị Giơnevơ. Tổng thống Mỹ Axenhao còn trắng trợn tuyên bố “Mỹ không bị những hiệp nghị này ràng buộc”. Lo sợ sư thất bại của Pháp ở Việt Nam sẽ dẫn đến sự phát triển chủ nghĩa Cộng sản ở Đông Nam Á và Tây Thái Bình Dương, Mỹ ráo riết thực hiện việc hất cẳng Pháp, âm mưu chia cắt lâu dài đất nước ta, biến miền Nam Việt Nam thành căn cứ quân sự của chúng.

Từ đó trở đi cùng với cả nước, lực lượng vũ trang và nhân dân Quảng Trị một lần nữa lại vùng lên viết tiếp trang sử vẻ vang của mình - trang sử vàng chống Mỹ, cứu nước.

I. CỦNG CỐ HÒA BÌNH, KHÔI PHỤC VÀ PHÁT TRIỂN KINH TẾ XÃ HỘI,
XÂY DỰNG LỰC LƯỢNG VŨ TRANG, GIỮ VỮNG QUAN HỆ HAI MIỀN

Hai tuần lễ sau khi ký hiệp định Giơnevơ, ngày 3-8-1954, đại diện quân đội nhân dân Việt Nam và Pháp họp Hội nghị Trung Giả ký thỏa thuận về Ủy ban liên hợp. Ban liên hợp chiến trường Bình Trị Thiên ra đời từ hội nghị này, đến ngày 2-8-1955 được ban liên hợp Trung ương đổi thành ban liên hợp khu phi quân sự. Ngày 18/8/1954, Ủy ban liên hợp Trung ương ra quyết định số 06 nêu lên những nét lớn về việc vạch ranh giới giới tuyến quân sự tạm thời, việc phi quân sự hóa, tổ chức hai đội liên hợp cố định ở hai bờ Nam - Bắc giới tuyến, về số lượng Công an mỗi bên trong khu phi quân sự.

Giới tuyến quân sự tạm thời được quy định từ Đông sang Tây, từ cửa sông Bến Hải (Cửa Tùng) và dòng sông đó (ở miền núi sông này gọi là rào Thanh) đến làng Bồ Hồ Sừ biên giới Việt - Lào. Ranh giới khu phi quân sự mỗi bên xa nhất 5km. Khu phi quân sự phía Bắc gồm các xã: Vĩnh Sơn, Vĩnh Hòa, Vĩnh Thành, Vĩnh Giang, Vĩnh Quang và Hướng Lập.

Đường ranh giới Bắc và Nam khu phi quân sự được đánh dấu bằng các cọc gỗ đặt những nơi dễ nhận thấy có ghi “Khu phi quân sự”. Từ biển lên phía Tây mỗi bên đóng 150 cột, mỗi cột cách nhau 20 mét. Cách 12km đóng hai đồn cảnh sát và công an đối diện nhau. Từ Cửa Tùng đến Hói Cụ có 10 đồn. Bản quy chế quy định: Nhiệm vụ của công an và nhân viên hành chính là bảo đảm an ninh trật tự và tôn trọng quy chế trong vùng mình quản lý. Tổng số mỗi đội công an tối đa là 100 người được trang bị 50 súng ngắn, số còn lại 1/3 súng cácbin, hai phần ba tiểu liên, không có lựu đạn. Mỗi khẩu tiểu liên hoặc cácbin 200 viên đạn, súng ngắn 50 viên. Tuyệt đối cấm nhân dân ra vào khu phi quân sự, dọc giới tuyến quy định 10 địa điểm được phép qua lại: Đó là cầu Hiền Lương và 9 bến đò: Cửa Tùng - Cát Sơn; Tùng Luật - Xuân Mỵ; Phước Lý - Bạch Lộc; Chòi - Xuân Long; Hiền Lương - Xuân Hòa; Huỳnh Thượng - Võ Xá; Tiên An - Kinh Môn; Minh Hương - Hói Cụ và Bến Tắt - Cẩm Sơn.

Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.

macbupda

Trung tá
*
Bài viết: 11970


Lính của PTL

Lịch sử Quảng Trị kháng chiến chống Mỹ cứu nước (1954-1975)« Trả lời #2 vào lúc: 08 Tháng Chín, 2022, 08:37:39 am »
Một đồn kiểm soát liên hợp đặt tại Cửa Tùng, một tuần bờ phía Bắc và một tuần bờ phía Nam, quân số mỗi đồn gồm hai chỉ huy và ba chiến sĩ hoặc hai chỉ huy sáu nhân viên làm nhiệm vụ từ sáu giờ đến 21 giờ (giờ Sài Gòn). Mỗi bên đều có một sổ kiểm soát ghi nội dung như nhau, mỗi ngày đồn trưởng xác nhận một lần và ký tên đóng dấu. Sau một tuần đổi vị trí một lần, hai đồn trưởng lập biên bản chứng kiến việc thay nhau kiểm soát ở liên hợp. Tuy vậy, từ tháng 7-1954 đến tháng 2-1955 ta và Pháp chưa kiểm soát trong khu phi quân sự.

9 giờ 30 phút ngày 25-8-1954, đồng chí Ngô Tiến Quân - sĩ quan liên lạc đại diện ban liên hợp chiến trường Bình Trị Thiên cùng đại úy Delatin, đại diện quân đội Pháp ký biên bản chấm dứt sự tồn tại của quân Pháp và bọn tay sai ở Vĩnh Linh đồng thời hoàn thành việc rút quân khỏi khu phi quân sự. Vĩnh Linh được hoàn toàn giải phóng.

Ngày 2-9-1954 Huyện ủy, ủy ban kháng chiến hành chính huyện Vĩnh Linh tổ chức cuộc mít tinh trọng thể tại sân vận động Trạng Cù có đông đảo các tầng lớp nhân dân và lực lượng quân đội Trung đoàn 95, Trung đoàn 270 tham gia chào mừng quốc khánh nước Việt Nam dân chủ cộng hòa và quê hương giải phóng. Để thực hiện nhiệm vụ bảo vệ giới tuyến, ngày 14-8-1954, đội công an được thành lập gồm 100 cán bộ chiến sĩ lựa chọn từ các đại đội 354, 340, 348 của Gio Linh, Cam Lộ, Vĩnh Linh do đồng chí Trần Tình làm đội trưởng, đồng chí Lê Văn Bản (ủy viên thường vụ Huyện ủy Vĩnh Linh) làm chính trị viên.

Ngày 7-11-1954, Bộ tư lệnh Quân khu 4 ra quyết định thành lập đại đội 2 công an giới tuyến do đồng chí Nguyễn Bang làm đại đội trưởng, đồng chí Trần Hữu Thanh (nguyên cán bộ Ty công an Thừa Thiên) làm chính trị viên. Cán bộ chiến sĩ được lựa chọn từ hai đại đội 269 và 271 của Trị Thiên tập kết, đơn vị đã được Đại tướng Võ Nguyên Giáp trực tiếp chỉ thị nhiệm vụ tại Vinh (Nghệ An) nhân dịp kỷ niệm ngày thành lập quân đội (22-12). Cuối tháng 12-1954, đơn vị về nhận nhiệm vụ tại Vĩnh Linh. Các đơn vị khác làm nhiệm vụ bảo vệ nội địa, biên giới, bờ biển ở Vĩnh Linh còn có đại đội 6 thuộc Trung đoàn 270 bảo vệ bờ biển, đơn vị quan sát bờ biển Vịnh Mốc, đại đội 4 thuộc công an Vĩnh Linh làm nhiệm vụ cảnh vệ, đại đội 354 thuộc huyện đội Vĩnh Linh đảm nhiệm vùng biên giới miền tây.

Ngày 5-9-1954, Bộ chính trị ra Nghị quyết về “Tình hình mới, nhiệm vụ mới và chính sách mới của Đảng”. Nghị quyết nhấn mạnh nhiệm vụ trước mắt của quân và dân hai miền Nam - Bắc là đấu tranh thực hiện hiệp định Giơnevơ, ra sức củng cố miền Bắc, giữ vững và đẩy mạnh cuộc đấu tranh chính trị của nhân dân miền Nam nhằm củng cố hòa bình, thực hiện thống nhất hoàn thành độc lập và dân chủ trong toàn quốc.

Giữa tháng 9-1954 tại chợ Tro (Nghệ An), Khu ủy Liên khu 4 triệu tập hai ban Tỉnh ủy Quảng Trị và Thừa Thiên để phổ biến nghị quyết của Bộ chính trị. Đồng thời hội nghị còn kiểm điểm lại việc củng cố Đảng sau ngày có hiệp định, đề ra nhiệm vụ lãnh đạo việc khôi phục các mặt sinh hoạt bình thường của nhân dân sau ngày giải phóng.

Dưới sự lãnh đạo tập trung thống nhất của Ban chấp hành Trung ương Đảng, trực tiếp là Tỉnh ủy Quảng Trị, quân và dân ta ở hai bờ giới tuyến khẩn trương củng cố sắp xếp lại lực lượng chuẩn bị bước vào cuộc đấu tranh mới.

Ở Vĩnh Linh do sự thống trị lâu dài của đế quốc phong kiến và hậu quả chiến tranh, tình hình kinh tế xã hội có nhiều khó khăn phức tạp, nông nghiệp lạc hậu, công nghiệp hầu như không có gì, thị trấn, nông thôn bị chiến tranh tàn phá nặng hề, tiêu điều xơ xác. Đời sống nhân dân vô cùng cực khổ, cơm không đủ ăn, áo không đủ mặc, 90% số dân mù chữ. Trước khi rút quân khỏi Vĩnh Linh giặc Pháp còn âm mưu phá hoại gây thêm nhiều khó khăn cho nhân dân ta khi tiến hành phục hồi sản xuất.

Ngay sau khi hòa bình được lập lại, quán triệt Nghị quyết của Đảng, Đảng bộ nhân dân Vĩnh Linh quyết tâm xây dựng huyện nhà thành một huyện điển hình của chế độ xã hội chủ nghĩa, quyết làm cho “Đời sống nhân dân Vĩnh Linh phải hơn bên kia bờ sông Bến Hải”.

Do điều kiện bị chia cắt, để tăng cường sự lãnh đạo tập trung thống nhất theo yêu cầu nhiệm vụ mới, ngày 28/5/1955, Ban chấp hành Trung ương Đảng ra nghị quyết số 16 thành lập Đảng ủy khu vực Vĩnh Linh. Đồng chí Lê Thanh Liêm, nguyên ủy viên thường vụ Tỉnh ủy Quảng Trị được cử làm Bí thư Đảng ủy khu vực.

Ngày 16/6/1955, Thủ tướng Chính Phủ ra Nghị định số 551/TTg thành lập đặc khu Vĩnh Linh. Nghị định nêu rõ: “Khu Vĩnh Linh thuộc tỉnh Quảng Trị từ nay được tổ chức thành một đơn vị hành chính riêng ngang với một tỉnh dưới sự chỉ đạo trực tiếp của Chính phủ Trung ương”.

Ủy ban hành chính khu vực được thành lập do đồng chí Hoàng Đức Sản làm Chủ tịch. Sự chỉ đạo kịp thời và sâu sát của Trung ương đã giúp cho Vĩnh Linh nhanh chóng ổn định đời sống và vững bước đi lên.

Tình hình ngày càng phức tạp, Mỹ - Diệm ngày càng trắng trợn vi phạm hiệp định Giơnevơ, khu vực Vĩnh Linh trở thành trọng điểm phá hoại của địch. Trước tình hình đó, tháng 5/1955, Thường vụ Đảng ủy Vĩnh Linh họp quán triệt chủ trương của liên khu đối với khu vực giới tuyến. Hội nghị chủ trương: Thực hiện đấu tranh chính trị, dựa vào pháp lý hiệp định tạo ra nhiều hình thức đấu tranh phong phú. Hội nghị bàn biện pháp phối hợp hành động giữa nhân dân, lực lượng vũ trang khu vực với các đơn vị của trung đoàn 270, tiểu đoàn 57.

Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.

macbupda

Trung tá
*
Bài viết: 11970


Lính của PTL

Lịch sử Quảng Trị kháng chiến chống Mỹ cứu nước (1954-1975)« Trả lời #3 vào lúc: 08 Tháng Chín, 2022, 08:39:17 am »
Việc xây dựng lực lượng vũ trang địa phương được đặc biệt quan tâm. Cuối năm 1955, Huyện đội được tăng cường cán bộ. Tổng quân ủy Trung ương quyết định thành lập tiểu đoàn 25 bảo vệ giới tuyến trực thuộc quân khu 4 tăng cường cho Vĩnh Linh do đồng chí Vân Hùng (Đoàn Quang Đán) làm tiểu đoàn trưởng, đồng chí Lưu Quế Ngữ làm chính trị viên.

Năm 1955, toàn khu vực Vĩnh Linh có 1731 người tham gia lực lượng dân quân tự vệ. Đến cuối năm 1957, ngoài những đơn vị chủ lực gồm: (trung đoàn 270, tiểu đoàn 57 phòng không phối hợp, tiểu đoàn 25 công an nhân dân vũ trang bảo vệ giới tuyến), lực lượng dân quân tự vệ của Vĩnh Linh đã lên đến 3084 người. Trước những âm mưu và thủ đoạn của kẻ thù, thực hiện chủ trương của liên khu và thường vụ Đảng ủy khu vực Vĩnh Linh, nhân dân và lực lượng vũ trang đã có nhiều hoạt động đấu tranh phong phú.

Thể theo nguyện vọng của nhân dân và cán bộ chiến sĩ ta ở hai bờ Nam - Bắc sông Bến Hải, việc xây dựng và bảo vệ cột cờ Hiền Lương để đấu tranh với địch là cả một kỳ công lớn. Tháng 10/1954, ta dựng cột cờ cao 12 mét. Bọn địch dựng cột cờ ở bờ Nam cao hơn. Ta lại dựng cột cờ cao 18 mét. Cột cờ của chúng đặt trên nóc lô cốt Xuân Hòa cao 25 mét. Đồng bào và chiến sĩ nhất thiết không chịu thua bọn chúng. Ngày 19/7/1957, ta xây trụ cờ bằng sắt cao 34,5 mét. Bọn địch lại nâng cột cờ của chúng lên 35 mét. Năm 1962, Chính phủ ta lại cho nâng cấp trụ cờ vì vậy cột cờ ta cao 38,6 mét, cao hơn hẳn cờ ngụy. Lá cờ rộng 108 mét vuông bay phấp phới trên bầu trời bờ Bắc sông Bến Hải là biểu tượng cho ý chí quyết chiến quyết thắng, cho độc lập tự do, thống nhất Tổ quốc, làm nức lòng nhân dân hai miền Nam - Bắc. Đồng bào ta ở Cồn Tiên, Dốc Miếu, Cam Lộ, Gio Linh hằng ngày luôn hướng về lá cờ đỏ sao vàng nơi giới tuyến với tấm lòng son sắt thủy chung và niềm tin yêu hy vọng.

Để chống lại các hoạt động về chiến tranh tâm lý của địch, công tác tuyên truyền giáo dục được Đảng uỷ khu vực đặc biệt chú trọng. Cùng với các mặt hoạt động khác về văn hóa giáo dục như xây dựng phòng thông tin, nhà triển lãm, câu lạc bộ, đội chiếu bóng, nhân dân Vĩnh Linh còn xây dựng hệ thống truyền thanh dài 10 km dọc giới tuyến với hàng chục cột bắc loa phóng thanh có công suất lớn chĩa sang bờ Nam để tuyên truyền chủ trương chính sách của Đảng.

Mặt khác chúng ta còn tổ chức 3 cửa khẩu ở Thủy Ba.,Hiền Lương và Mũi Si để đi lại buôn bán, xuất nhập khẩu hàng hóa và làm công tác công khai vận động quần chúng. Từ cuối năm 1955 đến hết năm 1956 việc đi lại buôn bán trao đổi có bị gián đoạn vì bị địch kiểm soát gắt gao. Năm 1957, do ta có sai lầm trong cải cách ruộng đất, địch lợi dụng để tuyên truyền xuyên tạc nhằm chia rẽ Đảng với nhân dân. Chúng chủ trương thông qua kinh tế để chống phá ta về chính trị nên lại mở rộng buôn bán trao đổi để từ đó tăng cường hoạt động gián điệp nắm tình hình. Chúng tung nhiều toán gián điệp biệt kích qua giới tuyến đồng thời quản lý chặt chẽ sự đi lại giữa hai miền. Lợi dụng danh nghĩa chuyến quân tập kết, chúng cưỡng bức hơn hai trăm người từ các nơi trên miền Bắc qua giới tuyến di cư vào Nam. Nắm được âm mưu đó, ta chủ động và khôn khéo cử phái đoàn phụ nữ vận động thuyết phục ngụy binh. Kết quả đã có 180 người trở về quê hương trong đó cơ quan chức năng đã phát hiện được 12 tên gián điệp.

Theo hiệp định Giơnevơ, sau khi ngừng bắn, thời gian tập kết và chuyển quân giữa hai miền được quy định là 300 ngày. Bị địch cưỡng ép và dụ dỗ 5252 người trên miền Bắc đổ dồn về Vĩnh Linh để vượt tuyến vào Nam, chủ yếu là đồng bào theo đạo thiên chúa, ở Vĩnh Linh một số linh mục cực kỳ phản động đã dụ dỗ 7.164 người trong tổng số 7.700 người theo đạo di cư vào Nam.

Trước tình hình đó, Trung ương Đảng chủ trương coi chống địch cưỡng ép dân di cư vào Nam là công tác quan trọng cấp bách. Chỉ thị 272 của Trung ương khẳng định: Công tác này là một công tác đột xuất quan trọng bậc nhất trong một thời gian nhất định. Nếu không giải quyết được nó thì mọi công tác khác không giải quyết được.

Thực hiện chủ trương của Trung ương, ngày 18/7/1955, Đảng ủy khu vực Vĩnh Linh đề ra biện pháp chống địch dụ dỗ cưỡng ép đồng bào di cư vào Nam coi đó là một nhiệm vụ quan trọng cấp bách và chỉ rõ: Phải tăng cường chỉ đạo, tập trung lực lượng, đẩy mạnh việc tranh thủ quần chúng giáo dân, tích cực đấu tranh phá âm mưu của địch với ba yêu cầu cụ thể:

- Ổn định tư tưởng quần chúng giáo dân, tranh thủ đại đa số ở lại làm cho mọi người thực sự yên tâm.

- Tổ chức cho đi đúng mức, không để địch lợi dụng và vu cáo ta vi phạm hiệp định.

- Tiếp tục tấn công địch, tố cáo vạch trần âm mưu của chúng.

Đảng ủy đã thành lập “Ban chống cưỡng ép di cư” và huy động lực lượng cán bộ, bộ đội bám trụ từng cơ sở trong nhân dân để tuyên truyền giáo dục vận động. Kết quả đã vận động được 30 gia đình và 60 người khác trở lại quê hương, đồng thời tổ chức viết 2160 lá đơn tố cáo âm mưu của địch phá hoại hiệp định gửi lên Ủy ban Quốc tế.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn