Trước sự uy hiếp của chiến tranh du kích, Pháp buộc phải thay đổi phương pháp: rút bỏ các đồn lẻ nhỏ, tập trung về các đồn từ trung đội trở lên, được phòng thủ kiên cố và kết hợp với những cuộc càn quét của từng tiểu đoàn trở lên. Quân du kích cách mạng vũ khí kém không diệt được đồn lớn, lực lượng nhỏ không diệt được tiểu đoàn địch đi càn, tuy đánh lẻ nhỏ diễn ra đều khắp. Tình hình không sáng sủa lắm về phía ta.
Rút kinh nghiệm về đại đội xung phong, một đại đội được huấn luyện kỹ toàn đại đội từ cán bộ đến chiến sĩ, về kỹ chiến thuật và chiến đấu tập trung đã đưa lại hiểu quả chiến đấu cao. Yêu cầu của giai đoạn phải diệt được đồn cấp trung đội và đánh ngoài trời cỡ đại đội và tiểu đoàn, Khu ủy và Bộ chỉ huy khu 8 quyết định lập tiểu đoàn tập trung được trang bị mạnh và huấn luyện chu đáo để làm đơn vị cơ động toàn quân khu, phối hợp với các đơn vị địa phương và du kích thực hiện cho được yêu cầu chiến lược nêu trên. Mặc dù Nam bộ trong cả thời kỳ chống thực dân Pháp là một chiến trường chiến tranh du kích, nhưng vẫn phải phá càn quét địch có hiệu quả và diệt đồn bót nhỏ, vừa, của địch để mở rộng vùng làm chủ của nhân dân.
Ý định thành lập Tiểu đoàn 307 đã có từ cuối năm 1947, tổ chức, tập trung huấn luyện những tháng đầu năm 1948 và xuất quân chiến đấu vào giữa năm 1948. Tiểu đoàn đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ được giao, nổi tiếng về đánh tiêu diệt địch, công tác vận động quần chúng kháng chiến và dìu dắt lực lượng địa phương và du kích ở khắp đồng bằng sông Cửu Long. Khi Nam Bộ chia thành hai phân liên khu, vào năm 1952, tiểu đoàn trở thành đơn vị chủ lực của phân liên khu Tây Nam bộ cho đến khi tập kết ra miền Bắc.
Tiểu đoàn 307 là đơn vị có thành tích xuất sắc về nhiều mặt, là đơn vị Quân đội Nhân dân tiêu biểu của chiến trường Nam bộ trong kháng hiến chống thực dân Pháp. Trong tập sách này tuy chưa nói lên được hết vai trò có tính chất chiến lược từng thời kỳ của chiến trường, cán bộ và chiến sĩ cũ của Tiểu đoàn 307 đã ghi lên được một cách trung thực những hoạt động cụ thể, những trận đánh của tiểu đoàn, của những con người góp phần làm nên lịch sử vẻ vang của Nam bộ kháng chiến.
Xin trận trọng giới thiệu với bạn đọc và các nhà nghiên cứu lịch sử chiến tranh, một bộ phận của chiến tranh nhân dân với địch của dân tộc ta, theo tư tưởng quân sự của Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại.
* THƯỢNG TƯỚNG TRẦN VĂN TRÀ | |
Logged
| Tự hào thay, mác búp đa Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng. Thô sơ, gian khổ đã từng Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên. |
|
|
macbupda Trung tá  Bài viết: 11970  Lính của PTL | 
| Lịch sử Tiểu đoàn 307 (1948-1954)« Trả lời #2 vào lúc: 23 Tháng Tư, 2018, 07:22:40 pm » | PHẦN I:
SỰ RA ĐỜI CỦA TIỂU ĐOÀN 307 Năm 1945, thực dân Pháp trở lại xâm lược nước ta. Đến đầu năm 1946, chúng chiếm hầu hết các tỉnh vùng đông bằng Nam bộ. Sau đó, từ các địa điểm chiến lược, chúng buộc phải dàn quân mỏng ra, đóng đồn, chiếm đất hòng bình định và thôn tính lâu dài đất nước ta.
Cùng với Nam bộ, đồng bằng sông Cửu Long – (khu 8) – là chiến trường phải đương đầu sớm với giặc. Lực lượng vũ trang cách mạng lúc đầu còn ít, vũ khí thô sơ. Song với chủ trương “cướp súng địch để diệt địch”, với tinh thần dũng cảm của bộ đội cách mạng, vũ khí ta thu được của địch ngày càng nhiều, lực lượng ta ngày một phát triển, từ tiểu đội du kích lớn lên thành đại đội địa phương; có tỉnh lúc đầu chỉ có 1 – 2 đại đội, sau phát triển lên 4 – 5 đại độ, và đã dẫn đến việc thành lập các chi đội, sau đổi thành trung đoàn.
Ở Tân An có Chi đội 14 sau đổi thành Trung đoàn 120; ở Mỹ Tho có Chi đội 17 sau đổi thành Trung đoàn 105; ở Long Châu Sa có Chi đội 18 sau đổi thành Trung đoàn 115; ở Bến Tre có Chi đội 19 sau đổi thành Trung đoàn 99; ở Trà Vinh, Vĩnh Long có Chi đội 20, sau đổi thành Trung đoàn 111. Ở Sa Đéc, phía tả ngạn sông Tiền có Chi đội Trần Phú, ở hải ngoại (Thái Lan) về, sau đổi thành Trung đoàn 109. Ở Gò Công có Tiểu đoàn 305.
Tuy gọi là trung đoàn, nhưng thực tế chỉ là từng đại đội hoạt động độc lập kết hợp với dân quân địa phương. Mặc dù vậy, hiệu quả hoạt động rất đáng kể. Do tình hình lực lượng địch phân tán mỏng (trừ các thị xã, thị trấn), hầu hết các đồn bót ở những nơi khác chúng chỉ đóng quân từ cấp trung đội, tiểu đội, thậm chí có nơi chỉ khoảng 5 đến 6 tên. Do lực lượng ít, mỗi lần các đồn bót bung ra hoạt động bình định dễ bị đại đội địa phương, kết hợp với dân quân ta tiêu diệt. từ cuối năm 1947 đầu năm 1948, phong trào chiến tranh nhân dân phát triển rộng mạnh khắp khu 8, đồng bằng sông Cửu Long và Nam bộ. Những trận tiêu diệt trung đội, đại đội địch bằng hình thức phục kích, tập kích bất ngờ khi địch đi càn xung quanh đồn, hoặc hành quân trên đường giao thông cùng với hoạt động nội ứng đưa bộ đội ta vào tiêu diệt cả đồn địch, liên tiếp xảy ra ở khắp các nơi.
Bị tổn thất nhiều về lực lượng, ở hầu hết các đồn bót nhỏ địch thường không dám ra ngoài hoạt động vì luôn bị ta bao vây, bắn tỉa. Tinh thần địch ngày càng sa sút.
Từ giữa năm 1947, để đối phó với ta, một mặt địch cho rút bỏ các đồn bót nhỏ, nhất là ở các vùng hẻo lánh, không tiện giao thông, gom dân lại, đóng các đồn lớn, cứ điểm; mặt khác, để bảo đảm an ninh khu vực đóng quân, địch cho tổ chức những lực lượng cơ động các tiểu đoàn nhằm kịp thời ứng cứu cho các đồn bót, cứ điểm khi bị ta tấn công.
Thực hiện thủ đoạn này, địch phần nào tránh bớt được các tổn thất, và cũng gây nhiều khó khăn cho hoạt động của các đại đội độc lập của ta.
Yêu cầu bức xúc của chiến trường đòi hỏi lực lượng vũ trang ta phải được tổ chức tập trung lớn hơn – qui mô cấp tiểu đoàn – mới đủ sức tiêu diệt đại đội và tiểu đoàn của địch. Tuy nhiên, ở thời điểm này, lực lượng của các tỉnh còn ít, dân quân chưa đủ mạnh, nếu ta tập trung xây dựng lực lượng thành tiểu đoàn địa phương ở mỗi tỉnh thì nhiều địa bàn ở các huyện phải bỏ trống, không đủ sức tiêu hao, kiềm chế địch, bảo vệ nhân dân.
Sau khi nhận thức tình hình chiến trường, Bộ chỉ huy khu 8 thống nhất, quyết định thành lập một tiểu đoàn bộ đội chủ lực, trực thuộc Bộ chỉ huy khu, lấy tên gọi là “Tiểu đoàn liên quân lưu động”(1).
Ngay sau khi nhận quyết định của Bộ Chỉ huy Khu 8, đồng chí Nguyễn Chánh – Tham mưu trưởng khu khẩn trương xúc tiến kế hoạch tổ chức tiểu đoàn.
Ngày 1-5-1948, tại địa điểm tập trung quân ở hai bên bờ kênh Nguyễn Văn Tiếp, từ chùa Phật đá xã Mỹ Phước lên Thiên Hộ, lần đầu tiên, người dân cùng căn cứ Đồng Tháp Mười, nức lòng, thổn dạ được nhìn thấy bộ đội các mạng người đông, súng nhiều hơn bao giờ hết.
Đây là thời điểm lịch sử ghi đậm dấu ấn thiêng liêng, hào hùng nhất của quân và dân khu 8 suốt cuộc trường kỳ kháng chiến chống thực dân Pháp. Lần đầu tiên, chiến khu 8 khai sinh một đơn vị chủ lực cấp tiểu đoàn, đứa con đầu lòng của nhân dân khu 8 và Nam bộ thành đồng.
Về biên chế tổ chức, tiểu đoàn gồm 3 đại đội: 931, 932, 933 và Tiểu đoàn Bộ, có văn phòng tiểu đoàn, ban tác chiến, ban chính trị, ban quản trị (hậu cần); Trung đội trinh sát liên lạc(2).
(1) “Liên quân” tức là lực lượng và vũ khí của tiểu đoàn được tập trung từ các trung đoàn trong quân khu (mỗi nơi 1 trung đội hoặc 1 đại đội), còn “lưu động” là vì tiểu đoàn hoạt động ở hầu khắp địa bàn khu 8. (2) Đến sau này, tiểu đoàn mới tổ chức thêm đại đội trợ chiến, đại đội trinh sát đặc công, đại đội bổ sung (huấn luyện tân binh, bổ sung cho các đại đội chiến đấu). | |
Logged
| Tự hào thay, mác búp đa Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng. Thô sơ, gian khổ đã từng Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên. |
|
|
macbupda Trung tá  Bài viết: 11970  Lính của PTL | 
| Lịch sử Tiểu đoàn 307 (1948-1954)« Trả lời #3 vào lúc: 23 Tháng Tư, 2018, 07:24:29 pm » | Ban Chỉ huy tiểu đoàn đầu tiên gồm có:
- Chỉ huy trường: Đồng chí Đỗ Huy Rừa.
(Nguyên Trung đoàn phó Trung đoàn 109).
- Chỉ huy phó: Đồng chí Nguyễn Văn Sĩ.
(Nguyên Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 305 – Gò Công).
- Chính trị viên: Đồng chí Hồng Long).
(Nguyên Chính trị viên, Tỉnh đội ở miền Bắc).
+ Đại đội 931: Đại đội trưởng: đồng chí Nguyễn Duy Hải.
Đại đội phó: đồng chí Nguyễn Văn Nhỏ.
Chính trị viên: đồng chí Lê Chí Thành.
- Đại đội 933: Đại đội trưởng: đồng chí Lê Đình Trọng. Sau là đồng chí Đặng Văn Tỷ.
Chính trị viên: đồng chí Đặng Văn Tỷ kiêm.
- Tiểu đoàn Bộ:
- Văn phòng: đồng chí Lê Thạnh Trị.
- Ban tác chiến: đồng chí Trang Tử Long.
- Ban chính trị: đồng chí Bùi Kim Sơn. Sau là đồng chí Dương Anh.
- Ban quản trị: đồng chí Bùi Văn Cần.
- Trung đội trinh – liên:........................
Tiếp theo việc tổ chức, biên chế, Đảng ủy và Bộ chỉ huy khu 8 chủ trương cho tiểu đoàn được huấn luyện trong 2 tháng. Nội dung huấn luyện nhằm thống nhất về động tác kỹ thuật chiến đấu cơ bản, về cách đánh của một đơn vị chủ lực; thống nhất về ý chí, về xây dựng kỷ luật và về tư thế, tác phong.
Chấp hành chủ trương của Đảng ủy và Bộ chỉ huy khu, tiểu đoàn tổ chức vượt sông Tiền (ở đoạn Cẩm Sơn – Rạch Gầm – Mỹ Tho) hành quân về vùng đất giồng cao ráo thuộc huyện Thạnh Phú, tỉnh Bến Tre, khẩn trương bước vào đợt huấn luyện đầu tiên. Trong đợt này, riêng đại đội 932 được điều về huấn luyện tại Trường quân chính khu 8 tại xã Tây Sơn huyện Trà Cú, tỉnh Trà Vinh.
Đợt huấn luyện kết thúc: ngày 5 – 7-1-1948, tại vùng căn cứ kháng chiến Giồng Luông, thuộc xã Đại Điền huyện Thạnh phú tỉnh Bến Tre, tiểu đoàn liên quân lưu động làm lễ xuất quân(1).
Buổi lễ xuất quân được tổ chức trọng thể dưới sự chủ trì của khu trưởng khu 8 – đồng chí Nguyễn Văn Quạn, sự tham dự đầy đủ của nhân dân khắp huyện Thạnh Phú, và các huyện lân cận với rừng cờ, băng đỏ ực.
Dưới sự chỉ huy của Tiểu đoàn trưởng Đỗ Huy Rừa, cán bộ, chiến sĩ tiểu đoàn liên quân lưu động đội ngũ chỉnh tề, trang nghiêm lắng nghe nhật lệnh giao nhiệm vụ của Bộ chỉ huy khu 8, do Tham mưu trưởng khu đọc và những lời căn dặn, động viên thân thiết của đại diện Ủy ban kháng chiến và toàn thể cứu quốc tỉnh Bến Tre.
Tiểu đoàn trưởng Đỗ Huy Rừa, thay mặt cán bộ chiến sĩ tiểu đoàn trịnh trọng phát biểu quyết tâm sẽ hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ của Bộ chỉ huy khu 8 giao và tiếp thu những lời dặn dò, sâu lắng của chính quyền và đoàn thể. Tiểu đoàn trưởng vừa dứt lời, hai tiếng “quyết tâm” được toàn tiểu đoàn đồng thanh hô lên vang dội, giục giã đoàn quân chân đất, đầu trần, đều nhịp, hùng dũng diễu qua lễ đài, giữa tiếng hoan hô nhiệt liệt của nhân dân.
Ngày xuất quân, mặc dù trang bị còn thô sơ, súng trường mã tấu là chủ yếu, nhưng ở mọi tấm lòng của đoàn quân đều hòa nhịp, rực sáng hướng về niềm tin với lười thề:
“Nguyện một lòng gìn giữ non sông”.
Sự ra đời của Tiểu đoàn 307, tiểu đoàn chủ lực đầu tiên của khu 8, thể hiện chủ trương đúng đắn của Đảng ủy và Bộ chỉ huy khu 8, đánh dấu bước trưởng thành của lực lượng vũ trang khu 8 và cũng từ đó, mở đầu những trận đánh tiêu diệt địch lớn hơn (cỡ tiểu đoàn) ở vùng đồng bằng sông Cửu Long, trong thời kỳ kháng chiến chống thực dân Pháp của nhân dân ta. |
|
|