Khác

Lịch sử Tiểu đoàn 307 (1948-1954)

Lai Châu05/07/2026Quân đội nhân dân (xã nậm mạ)2 lượt xem0 lượt chia sẻ
Tiểu đoàn 307 là tiểu đoàn chủ lực đầu tiên của chiến trường Nam bộ, hoạt động ở vùng đồng bằng sông Cửu Long, những năm chiến tranh chống thực dân Pháp. Nó ra đời để đáp ứng một nhu cầu chiến lược của chiến trường, thời kỳ chiến tranh du kích phát triển mạnh mẽ ở Nam bộ.

Vào cuối năm 1948 thực dân Pháp nghĩ rằng, chúng đã chiếm xong toàn Nam bộ, nên tập trung lực lượng xâm lược ra miền Bắc nước ta. Thực sự thì chiến tranh du kích đã có cơ hội để lan rộng khắp nơi ở Nam bộ, buộc Pháp phải đóng đồn nhiều và càn quét liên miên để bình định. Năm 1947 là năm mà tác chiến du kích đã có thể diệt từng tiểu đội quân viễn chinh hay quân ngụy và kết hợp địch vận diệt đồn lẻ cỡ nửa hay một tiểu đội. Điển hình là trận phục kích trên đường giao thông như trận Giồng Dứa (Mỹ Tho) do nhiều trung đội du kích tập hợp lại dưới sự chỉ huy thống nhất theo một kế hoạch, trận đánh có tổ chức tương đối qui mô. Trận ấy có một đại đội tập trung của khu 8 làm đơn vị chủ công cho toàn trận đánh và đã thu được thắng lợi lớn; tiêu diệt đoàn “con voi” có bảo vệ mạnh của Chính phủ Sài Gòn do một đại tá Pháp chỉ huy (tên đại tá cũng bị giết).

Trước sự uy hiếp của chiến tranh du kích, Pháp buộc phải thay đổi phương pháp: rút bỏ các đồn lẻ nhỏ, tập trung về các đồn từ trung đội trở lên, được phòng thủ kiên cố và kết hợp với những cuộc càn quét của từng tiểu đoàn trở lên. Quân du kích cách mạng vũ khí kém không diệt được đồn lớn, lực lượng nhỏ không diệt được tiểu đoàn địch đi càn, tuy đánh lẻ nhỏ diễn ra đều khắp. Tình hình không sáng sủa lắm về phía ta.

Rút kinh nghiệm về đại đội xung phong, một đại đội được huấn luyện kỹ toàn đại đội từ cán bộ đến chiến sĩ, về kỹ chiến thuật và chiến đấu tập trung đã đưa lại hiểu quả chiến đấu cao. Yêu cầu của giai đoạn phải diệt được đồn cấp trung đội và đánh ngoài trời cỡ đại đội và tiểu đoàn, Khu ủy và Bộ chỉ huy khu 8 quyết định lập tiểu đoàn tập trung được trang bị mạnh và huấn luyện chu đáo để làm đơn vị cơ động toàn quân khu, phối hợp với các đơn vị địa phương và du kích thực hiện cho được yêu cầu chiến lược nêu trên. Mặc dù Nam bộ trong cả thời kỳ chống thực dân Pháp là một chiến trường chiến tranh du kích, nhưng vẫn phải phá càn quét địch có hiệu quả và diệt đồn bót nhỏ, vừa, của địch để mở rộng vùng làm chủ của nhân dân.

Ý định thành lập Tiểu đoàn 307 đã có từ cuối năm 1947, tổ chức, tập trung huấn luyện những tháng đầu năm 1948 và xuất quân chiến đấu vào giữa năm 1948. Tiểu đoàn đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ được giao, nổi tiếng về đánh tiêu diệt địch, công tác vận động quần chúng kháng chiến và dìu dắt lực lượng địa phương và du kích ở khắp đồng bằng sông Cửu Long. Khi Nam Bộ chia thành hai phân liên khu, vào năm 1952, tiểu đoàn trở thành đơn vị chủ lực của phân liên khu Tây Nam bộ cho đến khi tập kết ra miền Bắc.

Tiểu đoàn 307 là đơn vị có thành tích xuất sắc về nhiều mặt, là đơn vị Quân đội Nhân dân tiêu biểu của chiến trường Nam bộ trong kháng hiến chống thực dân Pháp. Trong tập sách này tuy chưa nói lên được hết vai trò có tính chất chiến lược từng thời kỳ của chiến trường, cán bộ và chiến sĩ cũ của Tiểu đoàn 307 đã ghi lên được một cách trung thực những hoạt động cụ thể, những trận đánh của tiểu đoàn, của những con người góp phần làm nên lịch sử vẻ vang của Nam bộ kháng chiến.

Xin trận trọng giới thiệu với bạn đọc và các nhà nghiên cứu lịch sử chiến tranh, một bộ phận của chiến tranh nhân dân với địch của dân tộc ta, theo tư tưởng quân sự của Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại.

* THƯỢNG TƯỚNG TRẦN VĂN TRÀ

Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.

macbupda

Trung tá
*
Bài viết: 11970


Lính của PTL

Lịch sử Tiểu đoàn 307 (1948-1954)« Trả lời #2 vào lúc: 23 Tháng Tư, 2018, 07:22:40 pm »
PHẦN I:

SỰ RA ĐỜI CỦA TIỂU ĐOÀN 307

Năm 1945, thực dân Pháp trở lại xâm lược nước ta. Đến đầu năm 1946, chúng chiếm hầu hết các tỉnh vùng đông bằng Nam bộ. Sau đó, từ các địa điểm chiến lược, chúng buộc phải dàn quân mỏng ra, đóng đồn, chiếm đất hòng bình định và thôn tính lâu dài đất nước ta.

Cùng với Nam bộ, đồng bằng sông Cửu Long – (khu 8) – là chiến trường phải đương đầu sớm với giặc. Lực lượng vũ trang cách mạng lúc đầu còn ít, vũ khí thô sơ. Song với chủ trương “cướp súng địch để diệt địch”, với tinh thần dũng cảm của bộ đội cách mạng, vũ khí ta thu được của địch ngày càng nhiều, lực lượng ta ngày một phát triển, từ tiểu đội du kích lớn lên thành đại đội địa phương; có tỉnh lúc đầu chỉ có 1 – 2 đại đội, sau phát triển lên 4 – 5 đại độ, và đã dẫn đến việc thành lập các chi đội, sau đổi thành trung đoàn.

Ở Tân An có Chi đội 14 sau đổi thành Trung đoàn 120; ở Mỹ Tho có Chi đội 17 sau đổi thành Trung đoàn 105; ở Long Châu Sa có Chi đội 18 sau đổi thành Trung đoàn 115; ở Bến Tre có Chi đội 19 sau đổi thành Trung đoàn 99; ở Trà Vinh, Vĩnh Long có Chi đội 20, sau đổi thành Trung đoàn 111. Ở Sa Đéc, phía tả ngạn sông Tiền có Chi đội Trần Phú, ở hải ngoại (Thái Lan) về, sau đổi thành Trung đoàn 109. Ở Gò Công có Tiểu đoàn 305.

Tuy gọi là trung đoàn, nhưng thực tế chỉ là từng đại đội hoạt động độc lập kết hợp với dân quân địa phương. Mặc dù vậy, hiệu quả hoạt động rất đáng kể. Do tình hình lực lượng địch phân tán mỏng (trừ các thị xã, thị trấn), hầu hết các đồn bót ở những nơi khác chúng chỉ đóng quân từ cấp trung đội, tiểu đội, thậm chí có nơi chỉ khoảng 5 đến 6 tên. Do lực lượng ít, mỗi lần các đồn bót bung ra hoạt động bình định dễ bị đại đội địa phương, kết hợp với dân quân ta tiêu diệt. từ cuối năm 1947 đầu năm 1948, phong trào chiến tranh nhân dân phát triển rộng mạnh khắp khu 8, đồng bằng sông Cửu Long và Nam bộ. Những trận tiêu diệt trung đội, đại đội địch bằng hình thức phục kích, tập kích bất ngờ khi địch đi càn xung quanh đồn, hoặc hành quân trên đường giao thông cùng với hoạt động nội ứng đưa bộ đội ta vào tiêu diệt cả đồn địch, liên tiếp xảy ra ở khắp các nơi.

Bị tổn thất nhiều về lực lượng, ở hầu hết các đồn bót nhỏ địch thường không dám ra ngoài hoạt động vì luôn bị ta bao vây, bắn tỉa. Tinh thần địch ngày càng sa sút.

Từ giữa năm 1947, để đối phó với ta, một mặt địch cho rút bỏ các đồn bót nhỏ, nhất là ở các vùng hẻo lánh, không tiện giao thông, gom dân lại, đóng các đồn lớn, cứ điểm; mặt khác, để bảo đảm an ninh khu vực đóng quân, địch cho tổ chức những lực lượng cơ động các tiểu đoàn nhằm kịp thời ứng cứu cho các đồn bót, cứ điểm khi bị ta tấn công.

Thực hiện thủ đoạn này, địch phần nào tránh bớt được các tổn thất, và cũng gây nhiều khó khăn cho hoạt động của các đại đội độc lập của ta.

Yêu cầu bức xúc của chiến trường đòi hỏi lực lượng vũ trang ta phải được tổ chức tập trung lớn hơn – qui mô cấp tiểu đoàn – mới đủ sức tiêu diệt đại đội và tiểu đoàn của địch. Tuy nhiên, ở thời điểm này, lực lượng của các tỉnh còn ít, dân quân chưa đủ mạnh, nếu ta tập trung xây dựng lực lượng thành tiểu đoàn địa phương ở mỗi tỉnh thì nhiều địa bàn ở các huyện phải bỏ trống, không đủ sức tiêu hao, kiềm chế địch, bảo vệ nhân dân.

Sau khi nhận thức tình hình chiến trường, Bộ chỉ huy khu 8 thống nhất, quyết định thành lập một tiểu đoàn bộ đội chủ lực, trực thuộc Bộ chỉ huy khu, lấy tên gọi là “Tiểu đoàn liên quân lưu động”(1).

Ngay sau khi nhận quyết định của Bộ Chỉ huy Khu 8, đồng chí Nguyễn Chánh – Tham mưu trưởng khu khẩn trương xúc tiến kế hoạch tổ chức tiểu đoàn.

Ngày 1-5-1948, tại địa điểm tập trung quân ở hai bên bờ kênh Nguyễn Văn Tiếp, từ chùa Phật đá xã Mỹ Phước lên Thiên Hộ, lần đầu tiên, người dân cùng căn cứ Đồng Tháp Mười, nức lòng, thổn dạ được nhìn thấy bộ đội các mạng người đông, súng nhiều hơn bao giờ hết.

Đây là thời điểm lịch sử ghi đậm dấu ấn thiêng liêng, hào hùng nhất của quân và dân khu 8 suốt cuộc trường kỳ kháng chiến chống thực dân Pháp. Lần đầu tiên, chiến khu 8 khai sinh một đơn vị chủ lực cấp tiểu đoàn, đứa con đầu lòng của nhân dân khu 8 và Nam bộ thành đồng.

Về biên chế tổ chức, tiểu đoàn gồm 3 đại đội: 931, 932, 933 và Tiểu đoàn Bộ, có văn phòng tiểu đoàn, ban tác chiến, ban chính trị, ban quản trị (hậu cần); Trung đội trinh sát liên lạc(2).

(1) “Liên quân” tức là lực lượng và vũ khí của tiểu đoàn được tập trung từ các trung đoàn trong quân khu (mỗi nơi 1 trung đội hoặc 1 đại đội), còn “lưu động” là vì tiểu đoàn hoạt động ở hầu khắp địa bàn khu 8.
(2) Đến sau này, tiểu đoàn mới tổ chức thêm đại đội trợ chiến, đại đội trinh sát đặc công, đại đội bổ sung (huấn luyện tân binh, bổ sung cho các đại đội chiến đấu).

Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.

macbupda

Trung tá
*
Bài viết: 11970


Lính của PTL

Lịch sử Tiểu đoàn 307 (1948-1954)« Trả lời #3 vào lúc: 23 Tháng Tư, 2018, 07:24:29 pm »
Ban Chỉ huy tiểu đoàn đầu tiên gồm có:

- Chỉ huy trường: Đồng chí Đỗ Huy Rừa.

(Nguyên Trung đoàn phó Trung đoàn 109).

- Chỉ huy phó: Đồng chí Nguyễn Văn Sĩ.

(Nguyên Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 305 – Gò Công).

- Chính trị viên: Đồng chí Hồng Long).

(Nguyên Chính trị viên, Tỉnh đội ở miền Bắc).

+ Đại đội 931: Đại đội trưởng: đồng chí Nguyễn Duy Hải.

Đại đội phó: đồng chí Nguyễn Văn Nhỏ.

Chính trị viên: đồng chí Lê Chí Thành.

- Đại đội 933: Đại đội trưởng: đồng chí Lê Đình Trọng. Sau là đồng chí Đặng Văn Tỷ.

Chính trị viên: đồng chí Đặng Văn Tỷ kiêm.

- Tiểu đoàn Bộ:

- Văn phòng: đồng chí Lê Thạnh Trị.

- Ban tác chiến: đồng chí Trang Tử Long.

- Ban chính trị: đồng chí Bùi Kim Sơn. Sau là đồng chí Dương Anh.

- Ban quản trị: đồng chí Bùi Văn Cần.

- Trung đội trinh – liên:........................

Tiếp theo việc tổ chức, biên chế, Đảng ủy và Bộ chỉ huy khu 8 chủ trương cho tiểu đoàn được huấn luyện trong 2 tháng. Nội dung huấn luyện nhằm thống nhất về động tác kỹ thuật chiến đấu cơ bản, về cách đánh của một đơn vị chủ lực; thống nhất về ý chí, về xây dựng kỷ luật và về tư thế, tác phong.

Chấp hành chủ trương của Đảng ủy và Bộ chỉ huy khu, tiểu đoàn tổ chức vượt sông Tiền (ở đoạn Cẩm Sơn – Rạch Gầm – Mỹ Tho) hành quân về vùng đất giồng cao ráo thuộc huyện Thạnh Phú, tỉnh Bến Tre, khẩn trương bước vào đợt huấn luyện đầu tiên. Trong đợt này, riêng đại đội 932 được điều về huấn luyện tại Trường quân chính khu 8 tại xã Tây Sơn huyện Trà Cú, tỉnh Trà Vinh.

Đợt huấn luyện kết thúc: ngày 5 – 7-1-1948, tại vùng căn cứ kháng chiến Giồng Luông, thuộc xã Đại Điền huyện Thạnh phú tỉnh Bến Tre, tiểu đoàn liên quân lưu động làm lễ xuất quân(1).

Buổi lễ xuất quân được tổ chức trọng thể dưới sự chủ trì của khu trưởng khu 8 – đồng chí Nguyễn Văn Quạn, sự tham dự đầy đủ của nhân dân khắp huyện Thạnh Phú, và các huyện lân cận với rừng cờ, băng đỏ ực.

Dưới sự chỉ huy của Tiểu đoàn trưởng Đỗ Huy Rừa, cán bộ, chiến sĩ tiểu đoàn liên quân lưu động đội ngũ chỉnh tề, trang nghiêm lắng nghe nhật lệnh giao nhiệm vụ của Bộ chỉ huy khu 8, do Tham mưu trưởng khu đọc và những lời căn dặn, động viên thân thiết của đại diện Ủy ban kháng chiến và toàn thể cứu quốc tỉnh Bến Tre.

Tiểu đoàn trưởng Đỗ Huy Rừa, thay mặt cán bộ chiến sĩ tiểu đoàn trịnh trọng phát biểu quyết tâm sẽ hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ của Bộ chỉ huy khu 8 giao và tiếp thu những lời dặn dò, sâu lắng của chính quyền và đoàn thể. Tiểu đoàn trưởng vừa dứt lời, hai tiếng “quyết tâm” được toàn tiểu đoàn đồng thanh hô lên vang dội, giục giã đoàn quân chân đất, đầu trần, đều nhịp, hùng dũng diễu qua lễ đài, giữa tiếng hoan hô nhiệt liệt của nhân dân.

Ngày xuất quân, mặc dù trang bị còn thô sơ, súng trường mã tấu là chủ yếu, nhưng ở mọi tấm lòng của đoàn quân đều hòa nhịp, rực sáng hướng về niềm tin với lười thề:

“Nguyện một lòng gìn giữ non sông”.

Sự ra đời của Tiểu đoàn 307, tiểu đoàn chủ lực đầu tiên của khu 8, thể hiện chủ trương đúng đắn của Đảng ủy và Bộ chỉ huy khu 8, đánh dấu bước trưởng thành của lực lượng vũ trang khu 8 và cũng từ đó, mở đầu những trận đánh tiêu diệt địch lớn hơn (cỡ tiểu đoàn) ở vùng đồng bằng sông Cửu Long, trong thời kỳ kháng chiến chống thực dân Pháp của nhân dân ta.



Đồng chí Đỗ Huy Rừa, Tiểu đoàn trưởng đầu tiên Tiểu đoàn 307.
(1) Mấy tháng sau ngày xuất quân và thấy tên gọi “Tiểu đoàn liên quân lưu động” dài, dễ lộ bí mật, nên Bộ chỉ huy khu 8 quyết định cho đổi tên Tiểu đoàn liên quân lưu động thành Tiểu đoàn 307 – Nối tiếp phiên hiệu tiểu đoàn 305 tỉnh Gò Công được thành lập năm 1947. Ngày 5-7-1948 trở thành ngày truyền thống của Tiểu đoàn 307.

Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.

macbupda

Trung tá
*
Bài viết: 11970


Lính của PTL

Lịch sử Tiểu đoàn 307 (1948-1954)« Trả lời #4 vào lúc: 23 Tháng Tư, 2018, 07:26:12 pm »
PHẦN II:

HOẠT ĐỘNG CHIẾN ĐẤU CỦA TIỂU ĐOÀN 307

Trong cuộc kháng chiến chống Pháp, từ ngày xuất quân co đến khi Hiệp định Genevè được ký kết (5-7-48 đến 20-7-54), Tiểu đoàn 307 hoạt động khắp các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long, đánh nhiều trận lớn, nhỏ. Ở phần này, chỉ ghi lại những hoạt động chiến đấu chủ yếu của tiểu đoàn.

A/- THỜI KỲ HOẠT ĐỘNG Ở KHU 8.

TRẬN MỘC HÓA (8-1948):
Sau khi xuất quân ở Bến Tre, tiểu đoàn hành quân về Mỹ Tho (Tiền Giang). Để tạo được một chiến thắng mở đầu thành tích cho tiểu đoàn sau khi xuất quân, Bộ chỉ huy khu 8 tổ chức đánh trận Mộc Hóa (Tân An).

Chọn chiến trường Mộc Hóa, Bộ chỉ huy khu 8 dự kiến quyết tâm sẽ giải phóng được toàn huyện Mộc Hóa, hoàn chỉnh khu căn cứ Đồng Tháp Mười, liên kết hai chiến trường Việt Nam – Kampuchia; mở rộng sự giao lưu giữa khu 8, khu 7 và khu 9. Xây dựng truyền thống cho Tiểu đoàn 307, một đơn vị của khu mới được thành lập, động viên tinh thần hăng hái giết giặc lập công của nhân dân tỉnh Tân An, nói riêng và của quân dân khu 8 nói chung.

Huyện Mộc Hóa là 1 trong 3 huyện của tỉnh Tân An, trải dài trên phạm vi trung tâm Đồng Tháp Mười. Phía Bắc giáp với tỉnh Soài-riêng (Kampuchia), phía Nam giáp các huyện Châu Thành, Cai Lậy, Cái Bè thuộc tỉnh Mỹ Tho (Tiền Giang), phía Đông giáp với huyện Đức Hòa thuộc tỉnh Chợ Lớn (Long An), phía Tây giáp các huyện Cao Lãnh, Hồng Ngự thuộc tỉnh Sa Đéc (Đồng Tháp). Về địa hình toàn huyện Mộc Hóa là một vùng đồng trũng, sinh thái tự nhiên mọc nhiều lau sậy, đưng, bàng. Về mùa khô, đất rạn nứt, lau sậy dễ bén lửa, mùa mưa thì ngập sâu, nước tràn mênh mông, đi lại chỉ dùng độc nhất một phương tiện ghe, xuồng.

Đồn Mộc Hóa của địch nằm trên đỉnh Gò Bắc Chiêng, là trung điểm của đoạn đường từ thị trấn ra sông Vàm Cỏ Tây. Đồn này, cấu trúc theo hình chữ nhật, bao bọc bằng tường đất dầy, cao đến 2 mét, có trổ lỗ châu mai. Vòng ngoài vây kín bằng 3 lớp rào kẽm gai, 4 góc có 4 lô cốt; giữa đồn có ổ tung thâm đề kháng, trên có chòi canh cao 6m.

Về lực lượng đồn trú, địch có khoảng 70 tên, phần đông là lính Partisans. Đồn trưởng là tên Louis Bertrand với hàm trung úy. Vũ khí trang bị gồm 1 súng cối 81 ly, 2 súng cối 60 ly, 2 đại liên, 4 trung liên, còn lại là tiểu liên và súng trường. Qui luật hoạt động của địch hàng tháng 1 lần từ thị xã Tân An dùng tàu sắt theo sông Vàm Cỏ Tây tiếp tế cho đồn Mộc Hóa. Bọn lính đồn trú, hoạt động chủ yếu là tuần tra quanh đồn bảo đảm an ninh, kiểm soát sự đi lại của dân trên sông Vàm Cỏ Tây và nắm bắt tình hình qua mạng lưới tình báo, gián điệp. về hỏa lực yểm trợ khi đồn bị tiến công, địch có thể sử dụng pháo binh từ lộ 1 (Soài Riêng) bắn chi viện – Lực lượng tiếp viện có thể đi tàu theo sông Vàm Cỏ Tây (từ thị xã Tân An lên) hoặc theo đường bộ từ quốc lộ 1 (Soài Riêng) theo lộ Rô đi xuống.

Đê tiêu diệt đồn Mộc Hóa, phương án tác chiến của ta được bố trí gồm 3 mặt trận:

1) – Tấn công đồn Mộc Hóa: Sử dụng Đại đội Bộ binh 1075 thuộc Trung đoàn 120, tăng cường một trung đội của Đại đội 1080, dùng hỏa lực kết hợp xung lực, tấn công tiêu hao, tiêu diệt nhiều sinh lực địch, buộc địch phải đi tiếp viện và khi lực lượng tiếp viện này bị ta tiêu diệt sẽ tạo một tác động mạnh, làm bọn đồn trú ở Mộc Hóa hoang mang khủng hoảng, xuất hiện thời cơ cho ta tiêu diệt, bức rút, bức hàng đồn Mộc Hóa.

2)- Mặt trận đánh quân tiếp viện:

Trên lộ Rô, lực lượng Tiểu đoàn 307 do đồng chí Đỗ Huy Rừa chỉ huy được bố trí như sau:

- Đại đội 931 chiếm lĩnh khu vực bến Ông Tồn, thuộc xã Bình Hiệp có nhiệm vụ nổ súng đánh ghim đội hình địch, nhanh chóng xung phong tiến công theo trục lộ Rô, từ phía Nam lên phía Bắc.

- Địa đội 893 (thiếu 1 trung đội) chiếm lĩnh khu vực ấp Tầm Đuồng, xã Bình Hiệp, có nhiệm vụ phối hợp với mặt trận chính diện, đánh địch từ sườn phải, xung phong ra lộ chia cắt đội hình và tiêu diệt từng bộ phận địch.

- Đại đội 932 và Đại đội 1072 chiếm lĩnh khu vực chùa Giồng Quéo xã Bình Hiệp, có nhiệm vụ phối hợp với mặt trận chính diện đánh địch từ sườn trái, xung phong ra lộ Rô, chia cắt đội hình và tiêu diệt từng bộ phận địch.

- Đại đội 1072 có nhiệm vụ phối hợp với các đơn vị bạn xung phong ra lộ Rô có bộ phận khẩn trương tiến công, chiếm lĩnh cầu Sáu Huê thực hiện nhiệm vụ khóa đuôi.

Dự kiến tình hình: một mặt khi địch hành quân, chúng sẽ sục sạo ven lộ Rô; do đó: các đơn vị đánh địch từ 2 bên sườn sẽ bố trí khéo léo mai phục bí mật, đào hố sâu đủ dùng cho hai người, đất đào hố đưa lên phải phân tán rải rác ra xa, việc ngụy trang phải rất chu đáo.

Yếu tố bất ngờ và xung phong dũng cảm, nhất là trong nhiệm vụ khóa đuôi là rất quan trọng và có tính chất quyết định thắng lợi của trận đánh.

Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.

macbupda

Trung tá
*
Bài viết: 11970


Lính của PTL

Lịch sử Tiểu đoàn 307 (1948-1954)« Trả lời #5 vào lúc: 23 Tháng Tư, 2018, 07:27:15 pm »
3)- Mặt trận đánh tàu địch trên sông Vàm Cỏ Tây (từ Tân An đến Mọc Hóa):

Mặt trận này, do một trung đội của Tiểu đoàn 307 phối hợp với phân đội thủy lôi của Trung đoàn 120 và du kích xã, bố trí ở khu vực nhà Cả Hoạch, xã Phong Phú do Tiểu đoàn 307 chỉ huy.

Chỉ huy với trận đánh đặt tại ngã ba Bình Tây, xã Tuyên Thạnh. Chỉ huy trưởng là đồng chí Nguyễn Chánh – Tham mưu trưởng khu 8, chỉ huy phó là đồng chí Lê Quốc Sản – Trung đoàn trưởng 120 và đồng chí Đỗ Huy Rừa Tiểu đoàn trưởng 307.

Trạm quân uy được bố trí tại ngọn Bình Tây, xã Tuyên Thạnh do lực lượng quân y Trung đoàn 120 đảm trách.

Về tiếp tế, khi chiếm lĩnh trận địa, chiến sĩ phải mang lương thực, nước uống (đựng trong ống tre) đủ dùng một ngày. Đêm tiếp sau, dân công tiếp tế tại trận địa.

1- Ở mặt trận công đồn: Ngay tối 16-8 khởi sự, Đại đội 1075 hành quân tiếp cận đồn Mộc Hóa.

Đến 22 giờ đêm, đơn vị chiếm lĩnh xong trận địa và nửa giờ sau đó, ta kết hợp xung lực, hỏa lực đồng loạt tiến công đồn địch.

Sau 2 đợt tiến công liên tiếp không thành công, ta chuyển sang lợi dụng địa hình, tổ chức công sự tạo thế vây ép địch nhằm buộc địch bung ra từng toán nhỏ, để tiêu hao dần. Tới sáng (17-8) đúng như dự tính của ta, lúc 8 giờ một toán địch bung ra tìm dấu vết bị ta bắn bị thương 2 tên, chúng rút chạy vào đồn; đến 10 giờ, địch cho 1 trung đội vượt đồn trú ra hướng bờ sông, ta nổ súng diệt tại chỗ 2 tên. Lúc 11 giờ 1 máy bay Dacota địch bay lượn và thả dù tiếp tế, cùng lúc đó, ta phát hiện địch lấy xuồng dân, ta dự đoán, địch có ý đồ chuyển thương binh về phía sau theo mương lộ Kông-pông-rồ.

2- Ở mặt trận đánh viện trên lộ Rô:

Đúng như dự đoán của ta: Địch dùng xuồng dân tải quân bị thương theo mương lộ Rô. Khi địch đến bến Ông Tồn, lập tức đại đội 931 chuyển đội hình từ đánh địch ở biên giới xuống, quay lại đánh địch từ Mộc Hóa lên. Sau 15 phút chiến đấu ta hoàn toàn làm chủ trận địa, diệt tại trận 23 tên, bắt sống tên Trung úy đồn trưởng Luois Bertrand và 5 tên khác.

Đến chiều ngày 17-8-1948, Ban chỉ huy mặt trận nhận định: Ngoài việc thả 2 dù tiếp tế, địch xung quanh chưa có phản ứng, chứng tỏ địch cố giữ bằng được đồn Mộc Hóa và muốn thế chúng phải có viện binh giải vây. Từ nhận định này, Ban chỉ huy mặt trận quyết định: - Cho Đại đội 1075 lợi dụng lúc địch hoang mang, tiếp tục vây ép mạnh, diệt mọi hoạt động bung ra của địch để uy hiếp, bức rút bức hàng đồn Mộc Hóa.

- Cho mặt trận đánh viện trên lộ Kông-pông-rồ sẵn sàng đánh địch đi viện.

- Cho mặt trận đánh viện trên sông Vàm Cỏ Tây sẵn sàng đánh tàu địch.

Quả nhiên, ngày 18-1-1948, địch đưa một tiểu đoàn được chở bằng xe cơ giới từ ngã ba Prasat theo lộ Rồ xuống biên giới để giải vây. Khi đến Bắc cầu Sư Địa 1km, chúng triển khai đội hình và để lại một bộ phận chiếm lĩnh cầu Sư Địa.

Đến 15 giờ địch khởi sự tiến về huyện lỵ Mộc Hóa theo lộ Rô; khi hành quân, chúng thận trọng trinh sát, phân tán đội hình sục sạo 2 bên lộ.

- Khi địch lọt vào trận địa mai phục, Đại đội 931 cho nổ súng diệt gọn bộ phận đi đầu, toàn mặt trận đánh viện đồng loạt nổ súng dũng mãnh xung phong chia cắt đội hình địch. Bị bất ngờ địch rối loạn chống trả yếu ớt và rút chạy về phía biên giới, nơi có hỏa lực bố trí trước ở cầu Sư Địa yểm trợ. Ta tiếp tục truy kích địch gần 2 km đến tận cầu Sáu Huê, diệt nhiều địch, thu nhiều vũ khí, đạn dược. Sau 15 phút chiến đấu, địch bỏ chạy ta hoàn toàn làm chủ chiến trường và đến 16 giờ cùng ngày các đại đội được lệnh rút quân về vị trí qui định.

3- Ở mặt trận đánh tàu: lực lượng ta không chạm địch.

4- Kết quả và đánh giá trận đánh:

a- Với quân địch tại đồn Mộc Hóa: ta tiêu diệt 25 tên, làm bị thương 2 tên, bắt sống được trung úy đồn trưởng và 5 tên khác.

b- Với quân tiếp viện: ta đánh thiệt hại nặng một tiểu đoàn địch, diệt 300 tên, thu 300 súng các loại, trong đó có 3 súng cối 60 ly; một số đại liên và trung liên.

- Trận Mộc Hóa là chiến thắng mở đầu của Tiểu đoàn 307. Tuy không diệt được đồn Mộc Hóa, nhưng sau đó, nhờ số vũ khí ta thu được đã tạo điều kiện trang bị tốt hơn cho du kích của xã Tuyên Thạnh, Tuyên Bình, Bình Hiệp, Tân Lập thường xuyên giữ thế bao vây, uy hiếp địch, hỗ trợ cho phần lớn nhân dân bị gom xung quanh đồn lần lượt thoát khỏi kềm kẹp của địch trở về vùng giải phóng.

Đến giữa năm 1949, cùng với thắng lợi trên chiến trường chung của ta, địch phải rút chạy bỏ đồn Mộc Hóa và đến suốt cuộc chiến tranh chúng vẫn không thể tái đóng lại đồn này.

Chiến thắng Mộc Hóa là một điểm son chói lọi trong lịch sử kháng chiến chống Pháp của quân dân Tân An nói riêng và của quân khu 8 nói chung.

Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.

macbupda

Trung tá
*
Bài viết: 11970


Lính của PTL

Lịch sử Tiểu đoàn 307 (1948-1954)« Trả lời #6 vào lúc: 23 Tháng Tư, 2018, 07:29:19 pm »




Trận Mộc Hóa (Tân An) bắt tù binh có đồn trưởng Mộc Hóa Bertrand.



Chiến lợi phẩm trận Mộc Hóa.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn
Lịch sử Tiểu đoàn 307 (1948-1954) | Câu chuyện thời hoa lửa