Khác

TRƯỜNG VĂN LƯƠNG - NGÔI TRƯỜNG CÁCH MẠNG

SỰ CHỈ ĐẠO CỦA TỈNH ỦY BÀ RỊA TRONG VIỆC THÀNH LẬP TRƯỜNG VĂN LƯƠNG (1955-1962)

TP. Hồ Chí Minh22/10/2026Đoàn xã Long Điền (Xã Long Điền)4 lượt xem0 lượt chia sẻ
TRƯỜNG VĂN LƯƠNG - NGÔI TRƯỜNG CÁCH MẠNG

1. Hoàn cảnh ra đời của trường Văn Lương :

Tôi chỉ biết trường Văn Lương bắt đầu công việc dạy học từ năm 1955 mà tháng nào thì không rõ, vì khi tôi về với trường trong hoàn cảnh từ Sài Gòn, tôi thôi công việc đi vẽ mướn cho “Nhà vẽ quảng cáo Anh" về Long Điền mở nhà vẽ “làm ăn” với danh nghĩa cá nhân, nhân đó tôi nhận dạy giờ hai môn vẽ và nhạc cho bậc trung học và lớp nhất bậc tiểu học. Chỉ thỏa thuận miệng với nhau giữa những người bà con thân thuộc, coi là giữa đồng đội với đồng đội cũng được. Ông Tám Long là cậu của tôi. Trong kháng chiến chống Pháp, ông là Trưởng ty Giáo dục tỉnh Bà Rịa, còn tôi là họa sĩ, Trưởng tiểu ban Văn nghệ của Ty thông tin. Có lúc chúng tôi ở chung, có lúc hai cơ quan giáo dục và thông tin đóng gần nhau, tôi thường đến gặp ông Tám Long và các thầy ở Ty Giáo dục mà số đông đều là người Long Điền và Bà Rịa.

Trong các bài viết của hai tập "Một mũi xung kích từ miền Đông" có kể lại các câu chuyện thật (rất thật), từ mượn giấy phép mở trường của ông Đốc Lượng (ông Nguyễn Văn Lượng) quê ở Đất Đỏ (Bà Rịa) lúc bấy giờ đang nghỉ ở Sài Gòn, đến việc mượn nhà dệt của anh Năm Ngầu, Hoa Kiều, có nhà ở Long Điển và có nhà ở Chợ Lớn nữa, rồi mượn tiếp nhà của bác Sáu Hinh ở xóm Đình (còn gọi là ấp Long Phượng). Bà Sáu cho mượn nhà trên, bà vẫn ở phần còn lại cùng với con cháu (bà Sáu là em dâu của ông ngoại tôi, mẹ tôi gọi ông Sáu Hinh bằng chú). Tôi trở về Long Điền vào tháng 5/1955, trường Văn Lương đã mở ra dạy rồi nhưng vẫn không đủ chỗ vì thiếu phòng học. Tiếng lành đồn xa “trường Văn Lương dạy giỏi, thầy cô giáo nghiêm nghị nên học sinh nề nếp, kỷ luật". Học sinh các xã lân cận đến học ngày càng đông. Tình hình này đã thúc giục thầy Tám Long, thầy Năm Đường, thầy Bảy Chiếu phải tìm cách nhờ bà con giúp đỡ xây cất thêm phòng học mới. Đây là một cuộc vận động các nhà tư sản địa phương yêu nước đứng ra bỏ vốn xây cất trường. Có ba vị đa số người dân ở quận Long Điền và thị xã Bà Rịa đều biết tiếng:

- Một là ông Đặng Văn Ngọ, thường gọi là ông Năm Mối chủ tiệm vàng, có một căn phố nhìn ra ngay chợ thị trấn. Ông lại có gần một mẫu đất ở xóm Bàu Tràm, cách chợ hơn 100m. Trên mảnh đất này, ông có cất một ngôi nhà sàn rất rộng bằng gỗ tốt, lợp ngói móc, xây dựng theo dạng vila. Phần đất còn lại ông cho dùng vào việc xây cất trường Văn Lương.

Người thứ hai là ông Nguyễn Oanh, thầu khoán xây dựng, bỏ vốn-vật tư, đồng thời đứng ra trông coi xây cất trường,

Người thứ ba là ông Bùi Đức Nhuân, chủ hiệu thuốc tây ở phố chợ thị trấn cùng bỏ vốn hùn vào việc xây dựng trường (riêng ông Đức Nhuận có ba người em trai tham gia kháng chiến chống Pháp đến năm 1954 đều ở lại miền Nam). Cả ba ông đều cho con theo học tại trường Văn Lương.

Ngôi trường mới này được xây cất gồm 2 dãy nhà 7 phòng học (mỗi phòng có thể chứa 50 học sinh), một nhà 4 phòng vừa làm văn phòng của trường, vừa làm nhà ở cho Hiệu trưởng. Có nhà ăn, nhà bếp, nhà vệ sinh cho gia đình và cả nhà vệ sinh cho học sinh. Nhà trường mới này chúng tôi gọi là cơ sở 3, được khánh thành và đưa vào sử dụng đầu năm học 1957 – 1958 (sổ ảnh đen trắng chụp năm 1957 còn được lưu giữ). Năm này, trường có lớp đệ tứ (lớp 9) và thi trung học đệ nhất cấp (trung học cơ sở của ta hiện nay) bà con hay gọi là thi đíp-lôm.

2. Đội ngũ thầy cô giáo trường Văn Lương:

Nói đến việc lập trường dạy học, tôi đặt câu hỏi: Ai đứng ra thành lập trường? Xin trả lời ngay là hai người: Ông Nguyễn Thành Long và ông Nguyễn Văn Đường.

Ông Nguyễn Thành Long, quê ở xã Long Điền, huyện Long Điền, tỉnh Bà Rịa (tên cũ) năm 1955, 46 tuổi đã có bằng sư phạm của chế độ thuộc địa Pháp, đã từng là Hiệu trưởng một trường tiểu học do chính quyền thuộc địa bổ nhiệm.

- Ông Nguyễn Văn Đường, quê ở xã Long Phước, thuộc huyện Long Điền (nay thuộc về thị xã Bà Rịa), năm 1955 ông 40 tuổi, trước là công chức chánh ngạch, làm việc ở tòa bố tỉnh Bà Rịa, kế toán trưởng phụ trách ngân sách các xã (chefcomptalole, charge des budgets communaux).

Dân trong tỉnh biết hai ông rất nhiều và coi hai ông là lớp người học rộng và lịch thiệp. Cách mạng tháng 8 thành công, đã thấy hai ông hoạt động trong các tổ chức của bộ máy chính quyền cách mạng mới vừa được thành lập, làm công tác tuyên truyền, phổ biến đường lối của chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ở những nơi công cộng như tại rạp hát, tại lễ đài các cuộc lễ...

- Ông Tám Long có lúc ông cùng một số bạn bè là nghệ sĩ sân khấu tổ chức đêm biểu diễn cải lương tại rạp hát Long Điền lấy tiền ủng hộ kháng chiến trong thời gian giặc Pháp gây hấn ở Sài Gòn - Biên Hòa nhưng chưa chiếm Bà Rịa. Trong kháng chiến chống Pháp, ông được phân công làm Trưởng ty Giáo dục đến khi thành lập tỉnh Bà Rịa – Chợ Lớn, ông được điều động giữ chức vụ Phó Chủ tịch Ủy ban mặt trận Liên – Việt tỉnh.

- Ông Nguyễn Văn Đường, hồi đầu kháng chiến chống Pháp đã giữ nhiệm vụ Phó Chủ tịch Ủy ban hành chính tỉnh Bà Rịa phụ trách luôn khối văn hóa xã hội. Năm 1947, tôi có làm việc dưới quyền ông trước khi được phân công về với Ty Thông tin tỉnh Bà Rịa sau là tỉnh Bà Rịa – Chợ Lớn. Đến đầu năm 1954, ông lại đảm nhận nhiệm vụ Chủ tịch Ủy ban kháng chiến hành chánh huyện Vũng Tàu một lần nữa cho đến khi "đình chiến (tháng 7/1954).

Ông Tám Long và ông Năm Đường là những người có trình độ học vấn cao, cá tính dễ mến nên tuy làm việc cho chính quyền thuộc địa trước đây vẫn được cảm tình với đông đảo quần chúng nhân dân. Một điều chắc chắn hơn là bà con tín nhiệm hai ông trước và lần lần tín nhiêm tất cả thấy cô giáo thuộc quyền hai ông vì hai ông là người đã trải qua cuộc kháng chiến chống Pháp. Chắc chắn hai ông là người yêu nước. Hai ông được Tỉnh ủy đất nước, đòi hiệp thương tổng tuyển cử". Người phân công đó phân công ở lại miền Nam làm nhiệm vụ "đấu tranh thống nhất là đồng chí Võ Văn Khánh (anh Bảy Khánh) lúc cuối kháng chiến chống Pháp là Bí thư Tỉnh ủy Bà Ria - Chơ Lớn. Ông Năm nguyên Bí thư Tỉnh ủy Đảng Dân chủ Việt Nam tỉnh Bà Rịa (hai Đường là đảng viên Đảng Lao động Việt Nam, ông Tám Long Đảng thành viên của Mặt trận Liên Việt lúc bấy giờ).

Từ căn cứ địa trở về nhà, thuộc vùng kiểm soát của quân Pháp, vừa lo giấy tờ tùy thân cho mình vừa tạo thế hợp pháp để tiếp tục hoạt động cách mạng, chỉ trong vòng chừng nửa năm (các tháng cuối năm 1954 và đô 3-4 tháng đầu năm 1955). Về tổ chức, hai ông làm được rất nhiều việc ở Long Điền (lúc đó tôi đi làm công cho một nhà vẽ quảng cáo ở Sài Gòn), cái quan trọng lúc này là chọn thầy tốt và giỏi đứng ra dạy.

- Người thầy giáo lớn tuổi nhất trường Văn Lương hồi ấy mà ông Tám Long và ông Năm Đường mời day cho trường với cương vị là Hiệu phó phụ trách cấp tiểu học (lúc đầu) là ông Bảy Chiếu, tôi gọi là bác Bảy, vốn là Hiệu trưởng trường tiểu học Thắng Tam (Vũng Tàu), đã về hưu, là người có uy tín chẳng những đối dân mà còn đối với chính quyền ngụy lúc bấy giờ nữa. Ông Tám Long, ông Năm Đường và ông Bảy Chiểu là ba người trong Ban Giám hiệu trường nhưng trong giấy tờ Bộ quốc gia giáo dục ngụy quyền cho phép chỉ có ông Nguyễn Thành Long thôi. Đó là khoảng năm 1956. Ngoài 3 ông ra, lúc đầu có các thầy Võ Văn Nhân, thầy Võ Văn Ân, thầy Thông, thầy Tong, thầy Thái, cô Trần Thị Liễu, cô Tám, cô Hoa, thầy Cúc... về sau có mời thêm một số thầy ở Sài Gòn xuống thay thế cho thầy Năm Đường bị bắt rồi thầy Long, thầy Lương, thầy Huân cũng bị bắt. Năm 1960 thầy Ấn phải tạm lánh. Trường mời thêm nhiều thầy: thầy Ngọc, thầy Yêm, thầy Âu, thầy Cơ, thầy Bửu; năm 1960 có các thầy Chánh, thầy Tân, thầy Hồng xuống thế cho thầy Yêm, thầy Âu thôi dạy. Cô Minh (Bội Hoàn) dạy Anh văn khoảng từ năm 1957 đến 1962. Việc chọn mời người dạy thì do thầy Tám Long và thầy Năm Đường trao đổi và quyết định. Trong lúc một số thấy bị bắt thì thầy Tám Ấn (tuy tạm lánh) vẫn cùng với ông Bảy Chiểu lo tìm thấy khác thế để trường tiếp tục hoạt động được.

Vậy là trong 7 năm giảng dạy và học tập của trường Văn Lương, đội ngũ giáo viên không bao giờ yên ổn hoàn toàn, kể tên số người giảng dạy có mặt trong thời gian này (7 năm) tổng cộng có 24 người nhưng chỉ có 2 người đứng lớp trong 7 năm đó là ông Bảy Chiểu và cô giáo Tám. Có người gián đoạn do bị giặc bắt hoặc khủng bố. Một số người từ nơi khác đến (thay thế cho những thầy bị bắt). Thầy Võ Văn Nhân chỉ dạy có một năm đầu...

3. Đội ngũ học sinh :

Khi mới mượn nhà dệt của an Năm Ngẫu rồi đến mượn nhà bà Sáu Hinh, số học sinh cũng mới có độ trên dưới 200. Đặc biệt là sau cuộc đấu tranh ở Ủy Hội quốc tế ở Vũng Tàu thắng lợi, bà con cho rằng thế hợp pháp của trường ngày một vững hơn. Tiếng đồn trường Văn Lương dạy tốt, trường Văn Lương quan tâm đến đạo đức của học sinh vang xa. Sinh hoạt hiệu đoàn tiến bộ lành mạnh, con em được học trường Văn Lương thì gia đình đỡ lo chúng tiêm nhiễm thói hư tật xấu. Có những em trước đó học ở Sài Gòn cũng được gia đình gọi về học ở Văn Lương các em thuộc gia đình đồng bào di cư ở khu Chu Hải, Kim Hải ở cách trường 7, 8 cây số cũng ghi tên học, đi học bằng xe đạp... Sĩ số khi dời về trường mới ở xóm Bàu Tràm là gần 500, con số cao nhất trong các năm học. Khi bọn Công an nguy khủng bố mạnh hơn (1958) cũng là thời điểm nhà trường có lớp đệ tứ (ngang với lớp 9 hiện nay) sĩ số có giảm một ít. Số còn lại mà cốt cán là con em cán bộ kháng chiến vừa học vừa tổ chức đấu tranh - đấu tranh hợp pháp với chính quyền ngụy với danh nghĩa là học sinh đòi chúng phải trả tự do cho Thầy và ban hoc bi chúng bắt giam, đòi bền bỉ đòi liên tục, có tổ chức có kế hoạch và biện pháp thực hiện (có sự lãnh đạo bí mật).

4. Hội phụ huynh học sinh :

Hôi được tổ chức từ lúc nào tôi không rõ, một tổ chức công khai, hợp pháp dưới chính quyền Ngô Đình Diêm, Ban trị sự Hôi khoảng 10 người. Người Hội trưởng là ông Cổ Phát quê ở xã An Nhứt, huyện Long Điền (Long Đất) có 2 con rể đều là cán bộ kháng chiến. Ông Minh Tâm, thư ký hội là chủ tiệm may tại thị trấn Long Điền. Ông Nguyễn Oanh (Sáu Oanh) thầu khoán, ông Đặng Văn Ngọ, chủ tiệm vàng, ông Bùi Đức Nhuận, chủ hiệu thuốc tây. Ông Năm Quang, thầy thuốc đông y. Ông Hội Đồng Kỷ (ba ông Đức Nhuận) ông chủ trại Tân Lập ở Bàu Ông Vân... đa số là người tốt có địa vị xã hội, có trình độ học vấn, có uy tín với nhân dân đồng thời chính quyền ngụy cũng kính nể. Gần hai phần ba các vị trong hội phụ huynh là bạn bè quen biết với ông Tám Long, ông Năm Đường, ông Bảy Chiểu nên mối quan hệ rất thân tình và thuận lợi. Những khó khăn của trường gặp phải nhất là khó khăn từ phía chính quyền ngụy gây ra, các vị đều nửa bí mật, nửa công khai vận động bảo vệ, giúp đỡ, cho phép con em mình đấu tranh với chính quyền ngụy dưới dạng tập hợp lực lượng đến dinh Tỉnh trưởng, đến Ty Công an tỉnh đưa kiến nghị đòi thả thầy, đòi thả bạn bị chúng bắt. Việc xây cất trường mới tại Bàu Tràm năm 1956 và khánh thành năm 1957 vừa là của cá nhân của 3 vị đều là phụ huynh học sinh. Những bức ảnh cũ của thời kỳ 1955 – 1962 của trường, một số giấy tờ coi như kỷ vật trường Văn Lương đều nhờ ông Minh Tâm gìn giữ nguyên vẹn và trao trả lại cho trường cũ (ông Tám Ấn bảo quản nó và đã sửdụng nó trong 2 quyển hồi ký “Một mũi xung kích từ Miền Đông"

5. Bà con cô bác ở Long Điền nhất là nhà ở gần trường:

Tuy sống dưới chế độ ngụy quyền Ngô Đình Diệm, bà con vừa giữ thế hợp pháp của mình làm ăn sinh sống lương thiện nhưng luôn luôn là tai mắt của nhà trường Văn Lương. Bà con biết gần chính xác “Các thầy giáo Văn Lương mà họ rõ là người kháng chiến chống Pháp nhất định là người cách mạng rồi. Nghề dạy học đã là cao quý, mà dạy học trò làm cách mạng còn cao quý hơn, mình phải ủng hộ mấy thầy".

Trong hoàn cảnh đất nước tạm thời chia đôi theo tinh thần hiệp định Genève 20/7/1954, miền Nam tạm thời giao cho phía Pháp quản lý, cũng có nghĩa phải trải qua 9 năm kháng Pháp ta mới chỉ giành được độc lập nửa nước. Vậy là miền Nam Việt Nam tính từ vĩ tuyến 17 trở vào, lấy sông Hiền Lương làm ranh giới tạm thời, không còn chính quyền cách mạng nữa mà phải sống dưới sự cai trị của chính quyền tay sai của đế quốc Mỹ. Dựa vào một số điều khoản của hiệp định như “không được trả thù người kháng chiến"; "Sau hai năm sẽ có hiệp thương, tổng tuyển cử thống nhất đất nước". Trường Văn Lương được thành lập, buổi ban đầu chỉ có 2 người ông Nguyễn Thành Long và ông Nguyễn Văn Đường đã khéo vận động và tổ chức dần. Hai ông vừa có đức vừa có học vấn cao, lại trải qua trọn vẹn cuộc kháng chiến chống Pháp nên được nhân dân yêu mến và kính trọng. Sau hai ông có thể là ông Phạm Ngọc Chiểu (ông Bảy chiếu) và tổ chức dần lên từ không đến có. Số lớp tăng lên thì thầy cô giáo cũng tăng theo. Đứng mũi chịu sào vẫn là hai ông. Suốt 7 năm trên mảnh đất quê hương có truyền thống cách mạng được nhen nhún từ trong cuộc kháng chiến chống pháp (1945 – 1954). Vững vàng về chính trị cộng thêm lòng yêu nước nồng nàn, mỗi ông còn biết phát huy tính sáng tạo qua từng thời kỳ. Dũng khí, nghị lực là các đức tính không thể thiếu khi phải đương đầu trước những cam go, trước bao thử thách. Mỗi ông cũng đứng ra giảng dạy một số môn học như những thầy cô khác, đồng thời chịu trách nhiệm không chút nhẹ nhàng trước phụ huynh học sinh, trước sự tồn vong của đất nước. Thiếu thốn mọi bề ngụy quyền rình rập, khủng bố mà vẫn vượt qua được. Rồi chúng cũng ra tay bắt bớ, tra tấn, giam cầm cả thầy giáo và học sinh. Thầy Năm Đường bị chúng bắt từ năm 1958 ( thời Ngô Đình Diệm) cho đến năm 1966 chúng mới thả ra (các chính phủ sau Diệm cũng tiếp tục giam cho đủ số năm mà chúng kêu án). Chúng bắt thầy Quân và giết chết trong tù. Thầy Tám Long và thầy Lương bị chúng bắt giam từ 28/1/1960 đến 27/1/1961 = 1 năm 9 ngày. Số học sinh bị chúng bắt giam là bao nhiêu chính tôi cũng không nắm được. Chúng đã ra lệnh đóng cửa trường từ sau ngày chúng bắt thầy Tám Long và tôi nhưng ở nhà các thầy cô còn lại, có bà Tám Long (vợ ông Tám Long) nữa vẫn đấu tranh giằng co hơn 2 năm nữa đến ngày 31/3/1962 mới chính thức chuyển giao ông Võ Văn Trước, chuyển giai đoạn đấu tranh. Và cũng chỉ trong năm 1962 thầy Hiệu trưởng Nguyễn Thành Long đắc cửChủ tịch Ủy Ban Mặt Trận Dân Tộc Giải phóng tỉnh Bà Rịa - Long Khánh và đến tháng 9/1962 ông đi dự Đại hội Mặt trận giải phóng miền Đông Nam bộ, lại đắc cử Chủ tịch Ủy Ban Mặt Trận Dân Tộc Giải phóng miền Đông Nam bộ và giữ nhiệm vụ này cho đến ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng (13 năm).

Từ năm 1960 trở đi, một số học sinh Văn Lương lần lượt ra chiến khu tham gia chiến đấu, bổ sung cho lực lượng cách mạng lúc bất giờ có sự dìu dắt của thầy Võ Văn Ân trong một số trường hợp. Các em thoát ly đi kháng chiến, gia nhập bộ đội giải phóng, có một số em có thế mạnh trong công tác thanh niên, trong công tác sinh viên học sinh thì về các đô thị (cả thành phố Sài Gòn - Gia Định lúc bấy giờ) và ở các tỉnh miền Đông Nam bộ và Trung ương Cục miền Nam. Các em nữ được điều về văn phòng cấp ủy Đảng ở tỉnh, khu, Trung ương Cục nếu cấp ủy huyện không kịp giữ lại. Trong kháng chiến đã có khoảng 40 em hy sinh. Số em khác công tác ở nhiều đơn vị khác nhau, có em là thương binh vẫn tiếp tục chiến đấu và công tác.

Vậy là, từ sau kháng chiến chống Pháp kết thúc, tỉnh ủy Bà Rịa đã có hướng giao nhiệm vụ cho ông Tám Long và ông Năm Đường lập trường học, trước là lo cho con em cán bộ kháng chiến mà anh Bảy Khánh gọi đó là “Con nhà nòi” làm nồng cốt rồi mở rộng ra, đào tạo giáo dục con em chúng ta. Tỉnh ủy có phân công người trong thường vụ Tỉnh ủy chỉ đạo thường xuyên. Anh Năm Hòa cũng tạo thế hợp pháp để sát với nhà trường.

Xã Long Điền đồng thời là quận lỵ, mảnh đất hiền hoà có bà con thân thích và có đông người tham gia kháng chiến chống Pháp được chọn làm nơi mở trường. Theo địa thế tự nhiên, xã Long Điền nằm giữa 7 xã có chung ranh giới. Việc đi lại giữa các xã Long Điền với các xã rất thuận lợi. An Ngãi, An Nhứt, Long Tân, Long Phước, Long Kiên (Hòa Long), Phước Lễ (thị xã Bà Rịa), Long Thạnh (chợ bến).

Chung sống với kẽ thù, hàng ngày thấy mặt rất khó nhưng vì nhiệm vụ đành phải "bình thường hóa", chịu đặt ra cho ta rất nhiều vấn đề:

- Tạm thời nhìn nhận chính quyền Ngô Đình Diệm lúc bấy giờ là một thực thể. Muốn mở trường phải xin phép chúng và trường Văn Lương đã làm được.

- Tổ chức cho được một đội ngũ thầy cô giáo cùng chíhướng để giúp cho Văn Lương hoạt động được trong vòng kìm kẹp của kẻ thù mà đạt được mục đích “lý tưởng cách mạng” thật không dễ dàng. Tận dụng tất cả các hình thức tổ chức hợp pháp, công khai và kết hợp với các tổ chức bí mật và nửa công khai có phương châm, có ranh giới. Tổ chức công khai hợp pháp như thể thao, văn nghệ (các đội nhạc tài tử, tân nhạc) tổ chức nghiệp đoàn, hội ái hữu, Hội truyền bá quốc ngữ, các hội tương tế cúng chùa, hiếu hỉ.

- Tỉnh ủy còn giao thêm công tác "trí vận”, vận động tríthức, tư sản dân tộc, giới chức ngụy quyền. Bọn tình báo, công an ngụy không tồi lắm đâu. Nó biết rất rõ trường Văn Lương là trường của cách mạng nhưng khi chúng biết thầy Tám Long là Bíthư Tỉnh ủy Đảng Dân chủ Việt Nam chúng có thái độ ít hằn học hơn. Tỉnh trưởng, Tỉnh đoàn bảo an, ty Thông tin, ty Giáo dục, Tòa Hành chính tỉnh, Quận trưởng Long Điền, Hội đồng xã... không phải tất cả đều muốn đánh phá trường Văn Lương. Mảng công tác này, ông Tám Long làm có kết quả tốt, mặc dù họ biết ông là người kháng chiến.

Cuộc đấu tranh của trường Văn Lương trong 7 năm từ 1955-1962 luôn luôn có tổ chức, có chỉ huy, có kỷ luật, dưới sự lãnh đạo của Đảng. Có thắng lợi và cũng có tổn thất. Cũng có thể coi trường Văn Lương là một đơn vị chịu trách nhiệm một mũi mũi xung kích của chiến trường miền Đông Nam bộ - Thành quả của cuộc đấu tranh này là góp phần cùng cả nước đào tạo cho Bà Rịa - Chợ Lớn rồi Bà Rịa Long Khánh rồi Bà Rịa Vũng Tàu một thế hệ thanh nhiên nay đã trưởng thành.

Gìn giữ truyền thống và học tập truyền thống của trường Văn Lương phù hợp với đường lối chiến lược của Đảng ta mà chúng ta thường gọi nó là “chiến lược con người". Là nhằm truyền đạt kiến thức tạo ra con người tài giỏi, chăm lo nặng nề nữa mặt “Phẩm chất đạo đức” tạo ra người tốt. Tôi mừng là ngày nay trong nhiều văn bản của Đảng và nhà nước ta thường dùng cụm từ "chọn người có đức có tài" thay vì trước kia ta thường dùng “chọn người có tài có đức".

 Nói đến vấn đề đào tạo con người là vấn đề bao trùm gần như tất cả. Nó rất lớn đồng thời cũng vô cùng khó khăn. Nói đến trường là nói đến giáo dục - đào tạo một vấn đề hiện tại mà cũng là vấn đề muôn thuở, vấn đề tương lai.

*Theo lời của Cố Nhà giáo Nguyễn Văn Lương, Giáo viên trường Văn Lương (Trích Kỷ yếu Hội thảo khoa học Lịch sử Trường Văn Lương)

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn