Khác

Lịch sử tư tưởng quân sự Việt Nam - Tập 3

Ngay từ khi thành lập, triều Nguyễn coi xây dựng quân đội và củng cố quốc phòng là một trong những quốc sách được ưu tiên hàng đầu, nhất là trong bối cảnh quốc tế và trong nước có nhiều biến động. Tư tưởng, đường lối quốc phòng của triều Nguyễn đã kế thừa và mô phỏng theo tư tưởng, đường lối quốc phòng của các triều đại phong kiến trước đó, được thể hiện rõ nét và sâu sắc trong chức năng, nhiệm vụ và tổ chức lực lượng quân đội. Bên cạnh đó, để ứng phó với sự thay đổi của tình hình thế giới, tri

Lai Châu02/07/2026Chính trị Quốc gia - Sự thật (xã sìn hồ)1 lượt xem0 lượt chia sẻ
Ngày 1-9-1858, thực dân Pháp nổ súng đánh chiếm bán đảo Sơn Trà (Đà Nẵng), mở đầu cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam. Mặc dù có ưu thế về vũ khí, kỹ thuật quân sự và kỹ năng tác chiến, nhưng thực dân Pháp phải mất gần 40 năm (1858 - 1896) mới cơ bản áp đặt được bộ máy cai trị trên đất nước ta. Suốt thời gian đó, phong trào kháng chiến chống quân xâm lược diễn ra sôi nổi khắp ba miền Trung, Nam, Bắc nhưng tất cả các cuộc đấu tranh có tổ chức hay mang tính tự phát này đều bị quân thù dìm trong biển máu. Nguyên nhân bao trùm dẫn đến thất bại của phong trào kháng chiến trong thời kỳ này là do triều đình Huế suy vong không thể đại diện cho dân tộc chống xâm lăng; các văn thân, sĩ phu và các lãnh tụ nông dân dù rất yêu nước, có ý chí kiên cường, dũng cảm... nhưng cũng không vượt qua được những hạn chế của giai cấp, thời đại.


Đầu thế kỷ XX, phong trào đấu tranh chống thực dân Pháp xâm lược của dân tộc Việt Nam phát triển lên một bước mới, mang màu sắc dân chủ tư sản. Những hoạt động của Phan Bội Châu và Duy tân Hội (1904); các cuộc đấu tranh vũ trang của Việt Nam Quang phục Hội (1915); khởi nghĩa Thái Nguyên (1917); khởi nghĩa Yên Bái của Việt Nam Quốc dân Đảng (1930), v.v., đều không thành công. Điều đó chứng tỏ con đường giải phóng dân tộc theo khuynh hướng dân chủ tư sản là không phù hợp với xu thế của thời đại và không đáp ứng được đòi hỏi của cách mạng Việt Nam.


Giữa lúc đó, một xu hướng cách mạng mới hình thành, do Nguyễn Ái Quốc khởi xướng và lãnh đạo. Trên bước đường tìm đường cứu nước, Nguyễn Ái Quốc đã tham gia hoạt động trong phong trào công nhân Pháp, nghiên cứu lý luận Mác - Lênin, tìm hiểu sâu về Cách mạng tư sản Pháp, Công xã Pari (1871), Cách mạng Tháng Mười Nga (1917)... Các hoạt động lý luận và thực tiễn phong phú ấy, đã giúp Người có nhận thức mới về con đường đấu tranh của dân tộc Việt Nam, đưa Người từ một người yêu nước trở thành người cộng sản Việt Nam đầu tiên (1920) và là một trong những người sáng lập Đảng Cộng sản Pháp, người hướng cách mạng Việt Nam vào quỹ đạo cách mạng vô sản. Gắn liền với quá trình hình thành tư tưởng cách mạng, tư tưởng quân sự, Người chuẩn bị các điều kiện tiến tới thành lập chính đảng vô sản ở Việt Nam. Đầu năm 1930, Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời, do Nguyễn Ái Quốc sáng lập, lãnh đạo và rèn luyện. Từ đó, Đảng đã giải quyết thành công những vấn đề then chốt về lý luận, thực tiễn của cách mạng Việt Nam, tạo nên thắng lợi của Tổng khởi nghĩa Tháng Tám năm 1945 lịch sử, đưa dân tộc Việt Nam bước vào kỷ nguyên độc lập, tự do sau khi đã đánh đổ các xiềng xích thực dân gần 100 năm để xây dựng nên nước Việt Nam độc lập; đánh đổ chế độ quân chủ mấy mươi thế kỷ mà lập nên chế độ dân chủ cộng hòa, góp phần tích cực vào sự nghiệp giải phóng của các dân tộc thuộc địa trên toàn thế giới.


Toàn bộ các nội dung trên được thế hiện trong bốn chương:

Chương I: Tư tưởng quân sự Việt Nam nửa sau thế kỷ XIX (1858 - 1896).

Chương II: Tư tưởng quân sự Việt Nam thời kỳ 1897 - 1930.

Chương III: Tư tưởng quân sự của Đảng thời kỳ 1930 - 1939.

Chương IV: Tư tưởng quân sự của Đảng thời kỳ 1939 - 1945.


Cuốn Lịch sử tư tưởng quân sự Việt Nam - tập III viết về tư tưởng quân sự trong một thời kỳ lịch sử rất sôi động, phức tạp của thế giới và Việt Nam; công trình được nghiên cứu biên soạn trong một thời gian ngắt quãng khá dài..., nên mặc dù tập thể tác giả đã có nhiều cố gắng, công tác biên tập đã được thực hiện khá tỉ mỉ, kỹ càng, các văn kiện được thẩm định khá thận trọng, song vẫn khó tránh khỏi những hạn chế, thiếu sót.

Logged

Ai công hầu, ai khanh tướng, vòng trần ai, ai dễ biết ai
Thế Chiến Quốc, thế Xuân Thu, gặp thời thế, thế thời phải thế

quansuvn

Moderator
*
Bài viết: 7580



WWW

Lịch sử tư tưởng quân sự Việt Nam - Tập 3« Trả lời #3 vào lúc: 24 Tháng Năm, 2021, 08:13:42 am »
Chương I
TƯ TƯỞNG QUÂN SỰ VIỆT NAM NỬA SAU THẾ KỶ XIX
(1858-1896)


I- NHỮNG YẾU TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN TƯ TƯỞNG QUÂN SỰ NỬA SAU THẾ KỶ XIX

1. Tình hình thế giới và trong nước

a) Tình hình thế giới

Từ cuối thế kỷ XVIII đến thế kỷ XIX, chủ nghĩa tư bản phương Tây đã phát triển thành một hệ thống và từng bước chuyển sang chủ nghĩa tư bản độc quyền (chủ nghĩa đế quốc). Hệ thống thuộc địa trở thành một trong những cơ sở quan trọng nhất cho sự tồn tại của chủ nghĩa đế quốc. Tiếp sau các cuộc cách mạng tư sản là các cuộc cách mạng công nghiệp đã làm thay đổi diện mạo thế giới. Đến những năm 50 - 60 của thế kỷ XIX, cách mạng công nghiệp đã căn bản hoàn thành ở nhiều quốc gia châu Âu và Bắc Mỹ, tiêu biểu là ở các nước Anh, Pháp và Mỹ. Tại các nước tư bản phát triển, quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa được xác lập vững chắc và đưa đên sự phát triển về mọi mặt.


Sự phát triển mạnh mẽ của chủ nghĩa tư bản đã dẫn đến thị trường trong nước không đủ chỗ cho tiêu thụ sản phẩm làm ra. Để đáp ứng yêu cầu sản xuất phát triển mạnh, việc tìm kiếm thị trường thuộc địa trở nên hết sức cấp thiết. Chính những nhu cầu to lớn và cấp thiết về thị trường và nguyên liệu đã đặt các nước tư bản lớn phải ráo riết trong cuộc chạy đua tìm kiếm thị trường, xâm chiếm thuộc địa, phân chia thế giới sang các nước châu Á, châu Phi và châu Mỹ Latinh. Những nơi này trở thành nơi tranh giành quyết liệt trong quá trình mở rộng thuộc địa của các nước tư bản. Trong tác phẩm Chủ nghĩa đế quốc, giai đoạn tột cùng của chủ nghĩa tư bản, V.I. Lênin đã chỉ ra rằng, vào thế kỷ XIX, "việc tìm kiếm thuộc địa do tất cả các nước tư bản tiến hành là một sự kiện mà mọi người đều biết trong lịch sử ngoại giao và chính sách đối ngoại, cho nên vào thời kỳ đó những cuộc xâm chiếm thuộc địa bắt đầu tăng lên rất mạnh"1 (V.I. Lênin: Chủ nghĩa đế quốc, giai đoạn tột cùng của chủ nghĩa tư bản, tiếng Việt, Nxb. Tiến bộ, Mátxcơva, 1975, tr.132). Để phát triển kinh tế, các nước tư bản ngoài việc bóc lột nhân dân trong nước, còn thực hiện chính sách bành trướng và tiến hành chiến tranh xâm lược các nước khác. Ngược lại, chính sự phát triển về kinh tế và khoa học - kỹ thuật đã thúc đẩy và hỗ trợ các nước này tiến hành các cuộc chiến tranh xâm lược ở những vùng đất xa xôi. Những đội quân xâm lược nhà nghề của phương Tây được trang bị những vũ khí hiện đại như tàu chiến, đại bác. Những công cụ giết người hiện đại này đã trở thành thế mạnh vượt trội so với các vũ khí trước đó của nhân loại và "buộc những người dã man bài ngoại một cách ngoan cường nhất cũng phải hàng phục"1 (C. Mác và Ph. Ăngghen: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, t.4, tr.602). Trong xu thế chung đó, khu vực châu Á rộng lớn, với nguồn nhân lực dồi dào, rẻ mạt và nguồn tài nguyên thiên nhiên phong phú, nhưng còn đang trong tình trạng hết sức lạc hậu, đã trở thành mục tiêu xâm chiếm của các nước đế quốc phương Tây. Cho đến thế kỷ XIX, cuộc chạy đua xâm chiếm thuộc địa ở các nước châu Á diễn ra một cách mạnh mẽ và gay gắt giữa các cường quốc tư bản phương Tây.


Cuộc chiến tranh nha phiến (thuốc phiện) năm 1840 giữa chính quyền Mãn Thanh và thực dân Anh đã mở đầu quá trình biến nhà nước phong kiến Trung Hoa - nhà nước phong kiến lớn nhất châu Á - từ một nước độc lập trở thành một nước nửa thuộc địa nửa phong kiến. Thất bại trong cuộc chiến tranh nha phiến đã buộc nhà Thanh phải ký Hiệp ước Nam Kinh (ngày 29-8-1842), chấp nhận nhiều yêu sách của thực dân Anh. Hiệp ước Nam Kinh được coi là hiệp ước đầu hàng của Trung Quốc, là xiềng xích đầu tiên của bọn đế quốc tròng vào cổ nhân dân Trung Quốc2 (Vũ Dương Ninh, Nguyễn Văn Hồng: Lịch sử thế giới cận đại, Nxb. Giáo dục, Hà Nội, 1998, tr.327). Năm 1856, cuộc chiến tranh nha phiến lần thứ hai bùng nổ. Chính quyền Mãn Thanh một lần nữa thất bại và buộc phải ký Điều ước Thiên Tân (năm 1858) và Điều ước Bắc Kinh (năm 1860) với nhiều điều khoản bất bình đẳng và có lợi cho các nước thực dân. Sau hai cuộc chiến tranh nha phiến, các nước thực dân đua nhau tranh giành và xâu xé Trung Quốc. Chính quyền Mãn Thanh từ đây trượt dài trên con đường thỏa hiệp và đầu hàng bọn thực dân. Kết quả là Trung Quốc tuy không bị mất nước hoàn toàn nhưng lại chịu sự áp bức và không chế của phương Tây.


Ấn Độ, một quốc gia rộng lớn ở phía nam châu Á, đã bị thực dân Anh xâm chiếm hoàn toàn từ đầu thế kỷ XIX.

Làn sóng thực dân cũng nhanh chóng tràn tới khu vực Đông Nam Á. Hà Lan xâm chiếm Inđônêxia. Tây Ban Nha (sau đó là Mỹ) xâm chiếm Philíppin. Malaixia trở thành nơi giành giật giữa Bồ Đào Nha, Hà Lan và Anh. Cuối cùng, thực dân Anh đã độc chiếm Malaixia. Xiêm (Thái Lan) bị biến thành khu đệm giữa các vùng thuộc địa của Anh và Pháp. Ba nước trên bán đảo Đông Dương gồm Việt Nam, Lào và Campuchia cũng lần lượt rơi vào tay thực dân Pháp. Đến cuối thế kỷ XIX, trừ Nhật Bản, các nước thực dân đã cơ bản hoàn tất công cuộc xâm chiếm và đặt được ách thống trị ở các nước châu Á.


Một trong những biện pháp phổ biến được nhiều nước châu Á áp dụng để ngăn cản làn sóng xâm lược của phương Tây là đóng cửa đất nước và tuyệt giao với các nước phương Tây. Đây là một biện pháp "tự vệ thụ động mang tính chất lạc hậu, không tạo được thực lực để chống xâm lược"1 (Vũ Dương Ninh, Nguyễn Văn Hồng: Lịch sử thế giới cận đại, Nxb. Giáo dục, Hà Nội, 1998, tr.323). Kết quả là những nước này không những không bảo vệ được nền độc lập dân tộc mà lần lượt rơi vào sự thống trị của các nước thực dân phương Tây.


Trái với xu thế đóng cửa, bế quan, tỏa cảng, một số nước châu Á đã mạnh dạn mở cửa hội nhập với phương Tây và tiến hành duy tân đất nước. Sau một thời kỳ đóng cửa để đề phòng nguy cơ bị phương Tây xâm lược, Nhật Bản đã nhanh chóng nhận ra sự cấp thiết phải mở cửa. Năm 1868, Nhật hoàng Minh Trị bắt đầu tiến hành công cuộc cải cách đất nước. Trọng tâm cải cách là phải mau chóng mở rộng quan hệ và tiếp thu kỹ thuật hiện đại của phương Tây để làm động lực thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội trong nước, cải cách Minh Trị thành công rực rỡ không chỉ giúp Nhật Bản giữ vững độc lập dân tộc mà còn nhanh chóng trở thành một cường quốc ở châu Á.


Mặc dù Thái Lan may mắn ở vào vị trí khu đệm giữa các thuộc địa của Anh và Pháp nhưng Vua Mongkut (Rama IV) vẫn phải ký những hiệp ước bất bình đẳng trao nhiều quyền lợi về kinh tế, chính trị và lãnh thổ cho Anh và Pháp. Phải đến thời kỳ Chulalongkorn (Rama V) trị vì thì tình hình Thái Lan mới có những bước phát triển đáng kể. Là một người có đầu óc cấp tiến, Rama V từng bước xé bỏ các điều khoản bất bình đẳng mà vua cha đã ký với phương Tây. Đồng thời Rama V còn thực thi nhiều biện pháp cải cách đất nước theo mô hình tư bản phương Tây. Kết quả là Thái Lan không bị rơi vào tình trạng thuộc địa như các nước láng giềng. Đời sống kinh tế, văn hóa và xã hội ở Thái Lan có nhiều khởi sắc mới.


Nhìn chung, thế kỷ XIX là thế kỷ bản lề, chứa đựng đầy những biến động lịch sử của xã hội châu Á mà nổi bật là những cuộc xung đột Đông - Tây dữ dội. Các nước châu Á vừa phải đối diện vừa phải tìm cách tự vệ trước làn sóng xâm lược đến từ các nước thực dân phương Tây. Có nhiều quốc gia đã lựa chọn con đường đóng cửa tuyệt giao với phương Tây và cuối cùng là cầm vũ khí để chống lại phương Tây. Có một số quốc gia, như Nhật Bản và Thái Lan, đã sớm tiến hành canh tân đất nước và chủ động hội nhập với phương Tây. Canh tân được coi là chiến lược và là vũ khí hữu hiệu để bảo vệ đất nước. Thế kỷ XIX vừa tạo ra những thách thức to lớn vừa tạo ra những cơ hội thúc đẩy sự phát triển của châu Á.

Logged

Ai công hầu, ai khanh tướng, vòng trần ai, ai dễ biết ai
Thế Chiến Quốc, thế Xuân Thu, gặp thời thế, thế thời phải thế

quansuvn

Moderator
*
Bài viết: 7580



WWW

Lịch sử tư tưởng quân sự Việt Nam - Tập 3« Trả lời #4 vào lúc: 24 Tháng Năm, 2021, 08:14:53 am »
b) Tình hình trong nước

Năm 1802, sau khi lật đổ vương triều Tây Sơn, Nguyễn Ánh lên ngôi hoàng đế lấy niên hiệu là Gia Long (1802 - 1820), thiết lập vương triều Nguyễn - triều đại phong kiến cuối cùng trong lịch sử Việt Nam. Cho đến trước khi thực dân Pháp xâm lược, các vua triều Nguyễn đã cố gắng nhằm xây dựng một nhà nước quân chủ chuyên chế tập quyền vững mạnh và xét trên nhiều phương diện, mô hình phát triển truyền thống của Việt Nam đã thực sự đạt đỉnh cao nhất của nó1 (Xem Phạm Hồng Tung: "Một vài nhận định về cuộc cải cách ở Thái Lan (Siam) dưới các triều vua Mongkut và Chulalongkorn từ cái nhìn so sánh khu vực", trong sách Đông Á, Đông Nam Á - những vấn đề lịch sử và hiện tại, Nxb. Thế giới, Hà Nội, 2004, tr.374). Đây là thời kỳ cương vực quốc gia được thống nhất và mở rộng. Hệ thống chính quyền các cấp được kiện toàn. Nho giáo vẫn được tôn vinh và đóng vai trò là bệ đỡ tư tưởng cho triều đình nhà Nguyễn. Nông nghiệp vẫn giữ vai trò chủ đạo trong nền kinh tế quốc dân. Mặc dù đạt được những thành quả đáng kể trong công cuộc xây dựng đất nước, nhưng do chế độ phong kiến ở Việt Nam đã bước vào thời kỳ suy thoái, nhiều tàn dư xấu của thời kỳ trước phát tác trở lại, thậm chí có những việc triều Nguyễn càng cố gắng chấn chỉnh thì lại càng tạo ra những khó khăn cho chính mình và phải đối diện với rất nhiều khó khăn không dễ vượt qua.


Về chính trị: Triều Nguyễn đã xây dựng một thể chế nhà nước phong kiến tập quyền với nền tảng tư tưởng là Nho giáo. Vua là người đứng đầu nhà nước và có uy quyền tuyệt đối. Mọi thần dân đều phải trung thành tuyệt đối với vua. Hệ thống quan lại được tuyển chọn thông qua các kỳ thi Nho giáo. Luật pháp dưới triều Nguyễn rất hà khắc nhằm bảo vệ vương thất và chính quyền. Bộ luật Gia Long được coi là bản sao của luật nhà Thanh ở Trung Quốc, đã tước bỏ đi nhiều nội dung tiến bộ trong các bộ luật của các triều đại phong kiến Việt Nam trước đó.


Về kinh tế: Triều Nguyễn ra sức ngăn chặn quá trình tư hữu hóa ruộng đất và cố gắng bảo vệ công điền. Chế độ quân điền được triều đình duy trì nhằm tạo ra một bệ đỡ kinh tế vững chắc cho mô hình nhà nước tập quyền chuyên chế lấy nông nghiệp làm nền tảng. Tuy nhiên, dù có những ưu điểm, nhưng dưới triều Nguyễn ở giai đoạn này, chính sách quân điểm đã trở thành nhân tố cản trở sự phát triển của kinh tế nông nghiệp. Trên thực tế, triều Nguyễn không thế ngăn cản được nạn bao chiếm ruộng tư ở nông thôn. Một số chính sách nông nghiệp tiến bộ như doanh điền, khai hoang, mở làng và lập ấp để chiêu mộ dân xiêu tán vẫn chưa đủ để triều Nguyễn có thể giải quyết được những bế tắc trong nông nghiệp.

Thêm vào đó, chính sách cấm thương với phương Tây của triều Nguyễn đã làm cho thương nghiệp Việt Nam ngày càng giảm sút.


Về xã hội: Triều Nguyễn khi tái lập chính quyền đã không được lòng đông đảo dân chúng, nhất là ở Bắc Kỳ và Trung Kỳ. Một số chính sách xơ cứng và hà khắc của triều Nguyễn ngày càng làm mất lòng dân. Triều Nguyễn tỏ ra bất lực trong việc ngăn chặn các tệ nạn quan lại tham nhũng, cường hào hà hiếp nhân dân. Đời sống của nhân dân vô cùng cực khổ, nhất là vào những năm thiên tai, địch họa dẫn đến mất mùa. Nhiều nông dân không sống nổi ở làng phải bỏ đi xiêu tán khắp nơi. Trong khi nhân dân đói khổ thì triều đình lại lãng phí nhiều tiền bạc vào việc xây dựng thành quách, lâu đài, cung điện, lăng tẩm. Tiếng oán thán của nhân dân vang lên khắp nơi: "Con ơi nhớ lấy câu này: Cướp đêm là giặc, cướp ngày là quan", ''Vạn Niên là Vạn Niên nào, Thành xây xương lính, hào đào máu dân". Làn sóng dân chúng bất mãn với triều đình ngày một dâng cao. Đã nổ ra hàng trăm cuộc khởi nghĩa lớn nhỏ chống chính quyền của các tầng lớp nhân dân, đặc biệt là của nông dân. Chưa có một triều đại phong kiến nào trong lịch sử Việt Nam lại xảy ra nhiều cuộc khởi nghĩa chống chính quyền như ở dưới triều Nguyễn. Chính những khó khăn nội tại trong nước nảy sinh ngày càng nhiều đã làm cho triều Nguyễn luôn ở trong tình trạng bất ổn.


Về chính sách đối ngoại: Cũng giống như nhà Thanh, triều Nguyễn buộc các tiểu quốc láng giềng như Chân Lạp và Cao Miên phải thần phục bằng việc thực hiện chế độ cầu phong và triều công, nhưng lại tỏ ra hết sức lúng túng trong chính sách ngoại giao với phương Tây.

Để đánh bại triều Tây Sơn, Gia Long đã nhờ đến sự trợ giúp đáng kể của các thương nhân và giáo sĩ Pháp. Sau khi lên ngôi, Gia Long sớm nhận thấy nguy cơ mất nước từ phương Tây nên tìm cách gạt dần ảnh hưởng của những người Pháp ở Việt Nam. Đến thời Vua Minh Mệnh, triều Nguyễn đã tỏ ra cứng rắn hơn trong quan hệ với phương Tây khi khước từ quan hệ buôn bán, bang giao và thi hành chính sách cấm đạo. Nhưng chính sự "cứng rắn" này đã dẫn đến sai lầm trong chính sách đổi ngoại của nhà Nguyễn được manh nha từ thời Vua Gia Long, xác lập dưới thời Vua Minh Mệnh và được thực thi quyết liệt dưới triều Vua Tự Đức.


Trước tình hình đất nước bị o ép về mọi mặt, một số sĩ phu và quan lại trong triều đình có tư tưởng tiến bộ đã đề xuất nhiều kiến nghị canh tân đất nước và mở rộng quan hệ hợp tác, buôn bán với phương Tây nhưng không được triều đình chấp nhận; thậm chí những người đề xướng canh tân còn bị chỉ trích gay gắt. Triều đình Huế ngày càng rơi vào con đường bảo thủ và trì trệ.


Như vậy, đặc điểm nổi bật nhất của bối cảnh lịch sử Việt Nam nửa đầu thế kỷ XIX là phải đối đầu trực tiếp với nguy cơ xâm lược của thực dân Pháp. Đế đối phó lại, triều Nguyễn đã đề ra và thực hiện nhiều biện pháp cực đoan như đóng cửa, cấm đạo và tăng cường đàn áp các cuộc khởi nghĩa nông dân, làm gia tăng các mâu thuẫn xã hội, suy nhược đất nước và xói mòn sức đề kháng của dân tộc; tạo cơ hội để thực dân Pháp dễ dàng tấn công xâm lược nước ta.

Logged

Ai công hầu, ai khanh tướng, vòng trần ai, ai dễ biết ai
Thế Chiến Quốc, thế Xuân Thu, gặp thời thế, thế thời phải thế

quansuvn

Moderator
*
Bài viết: 7580



WWW

Lịch sử tư tưởng quân sự Việt Nam - Tập 3« Trả lời #5 vào lúc: 25 Tháng Năm, 2021, 09:40:57 am »
2. Vài nét tư tưởng quân sự Việt Nam dưới triều Nguyễn trước năm 1858

a) Về tổ chức và xây dựng quân đội

Sau khi giành chính quyền, ngoài lực lượng quân đội sẵn có của mình, triều Nguyễn đã được kế thừa một bộ phận binh lực đáng kể của triều Tây Sơn. Trong quá trình tồn tại, nhất là trong giai đoạn đầu thành lập, triều Nguyễn đã có sự chăm lo đáng kể đến việc xây dựng quân đội. Quân đội triều Nguyễn có 5 binh chủng, đó là: Bộ binh, thủy binh, pháo binh, tượng binh và kỵ binh, với hai lực lượng chính quy là Vệ binh và Cơ binh.


Xuất phát từ quan niệm "binh là để giữ nước, quân hiệu có rõ ràng mới có thể nghiêm việc võ bị"1 (Quốc sử quán triều Nguyễn: Đại Nam thực lục chính biên, Nxb. Khoa học xã hội, Hà Nội, 1964, t.IX, tr.342, t.XXI, tr.387) nên lực lượng quân đội triều Nguyễn từ các khâu tổ chức, tuyển chọn, trang bị đến huấn luyện được sắp xếp tương đối hoàn bị. Số lượng quân sĩ khá đông đảo. Thời Vua Gia Long trị vì, lực lượng bộ binh nước ta có khoảng 115.000 người, thủy binh có khoảng 17.600 người2 (Phan Huy Lê, Chu Thiên, Vương Hoàng Tiên, Đinh Xuân Lâm: Lịch sử chế độ phong kiến Việt Nam, Nxb. Giáo dục, Hà Nội, 1965, t.III, tr.444). Đến năm 1840, các lực lượng "thân, biền, binh dịch các hạng từ trong kinh đến các tỉnh, số người cộng lại là 212.290 có lẻ"3 (Quốc sử quán triều Nguyễn: Đại Nam thực lục chính biên, Nxb. Khoa học xã hội, Hà Nội, 1964, t.IX, tr.342, t.XXI, tr.387). Thời Vua Tự Đức, triều đình còn đặt thêm các ngạch hương dũng, dân dũng và thổ dũng ở các xã, huyện và tỉnh miền núi. Triều đình một mặt đã lập nhiều xưởng chế tạo vũ khí; mặt khác, còn mua nhiều vũ khí hiện đại của phương Tây để trang bị cho quân đội. Việc luyện tập được tổ chức thường xuyên và quy củ hơn. Bên cạnh việc khuyến khích mọi người tham gia quân đội, binh lính được luyện tập và thăng thưởng thỏa đáng cho người có công, triều đình còn đặt ra các chế định rất nghiêm ngặt để xử phạt việc quân lính bỏ trốn, lười luyện tập, đánh mất và mua bán vũ khí được cấp... nhằm xây dựng một quân đội có kỷ cương.


Tuy nhiên, ngay khi thiết lập, triều Nguyễn đã không tạo được uy thế chính trị cho mình như các triều đại trước. Trong thời gian cầm quyền, mặc dù có nhiều điều kiện thuận lợi để phát triển đất nước nhưng triều Nguyễn lại gặp phải sự chống đối của các tầng lớp nhân dân. Các cuộc khởi nghĩa, đặc biệt là của nông dân diễn ra triền miên. Thời kỳ Vua Minh Mệnh trị vì - thời kỳ thịnh trị nhất của triều Nguyễn, cũng là thời kỳ nổ ra nhiều cuộc nổi dậy nhất và có quy mô lớn nhất, tiêu biểu là hai cuộc khởi nghĩa do Phan Bá Vành lãnh đạo ở Bắc Kỳ từ năm 1821 đến năm 1827 và cuộc khởi nghĩa do Lê Văn Khôi lãnh đạo ở Nam Kỳ từ năm 1833 đến năm 1835. Đến thời Vua Tự Đức, tình hình càng trở lên phức tạp hơn khi cùng một lúc triều đình vừa phải tập trung lực lượng chống thực dân Pháp, vừa phải chống lại các cuộc nổi dậy của nhân dân. Những biện pháp xây dựng đất nước, củng cố chính quyền của triều Nguyễn đã không hợp với lòng dân. Sự gia tăng không ngừng của các cuộc khởi nghĩa chống đối chính quyền chứng tỏ xã hội Việt Nam dưới triều Nguyễn đang ở trong tình trạng bất ổn và khủng hoảng trầm trọng. Để bảo vệ vương quyền, triều đình phải thường xuyên huy động lực lượng quân đội đàn áp các cuộc khởi nghĩa của nhân dân. Thậm chí nhiều quan quân còn hà hiếp và trộm cướp của dân. Chính vì thế giữa quân và dân cũng có mối bất hòa sâu sắc. Trong lịch sử, nhà Hồ từng có thành cao, hào sâu, quân đông và nhiều vũ khí nhưng vẫn bị quân xâm lược nhà Minh đánh bại. Hồ Nguyên Trừng từng đau xót thốt lên: "Tôi không sợ đánh chỉ sợ lòng dân không theo". Bài học đó chỉ ra rằng, một chính quyền, một quân đội để mất lòng dân là mất tất cả. Nhưng vua tôi triều Nguyễn đã dường như quên mất điều đó hoặc có biết nhưng cũng đành bất lực mà buông xuôi.


Mặc dù đề ra nhiều chế tài để xây dựng quân đội trong sạch nhưng nhiều tệ nạn đã nảy sinh trong quân đội triều Nguyễn, nạn tham nhũng, sách nhiễu và bòn rút lương bổng của binh lính đã trở nên phổ biến, nhất là vào thời kỳ Thiệu Trị và Tự Đức. Vua Minh Mệnh là người đã nhận thức được mối quan hệ ràng buộc giữa binh lính và dân chúng. Theo nhà vua, binh lính cũng từ nhân dân mà ra, binh lính không chịu nổi mà bỏ trốn tất dân chúng sẽ bị khốn đốn; binh lính và dân chúng khốn đốn sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến vận mệnh nước nhà. Vua Minh Mệnh nổi tiếng là người thăng thưởng hậu hỹ cho người có công, nghiêm trị những kẻ bòn rút của công nhằm để binh lính yên tâm trong hàng ngũ, nhưng cũng phải thừa nhận một thực tế: "Bọn đội trưởng, thư lại vẫn quen thói thông đồng nhau, coi thường pháp luật chỉ cầu lợi riêng. Như động khi có việc, thì cho là cần kinh phí việc công, bắt lính đóng góp. Đến kỳ phát lương thì bày đặt chuyện chi phí, về đơn bằng, thông đồng trừ bớt. Thậm chí người được tiền ân thưởng cũng vẽ chuyện chiết trừ. Binh lính không bao giờ được hưởng ân huệ hết. Ngoài ra còn nhiều cách lừa bịp, sách nhiễu mới tệ nảy ra không kể xiết"1 (Quốc sử quán triều Nguyễn: Đại Nam thực lục chính biên, Sđd, tr.33). Trước tình trạng quan tham, lại nhũng trong quân đội, đời sống quá khổ cực nên số binh lính bỏ trốn ngày càng nhiều.


Nhìn chung, mặc dù có nhiều ưu điểm, nhưng quân đội triều Nguyễn vẫn không phải là một đội quân mạnh, có sức chiến đấu cao. Bởi "tinh thần của quân đội là yếu tố quyết định của mọi thắng lợi trên chiến trường"1 (Hồ Chí Minh, Lê Duẩn, Trường Chinh, Võ Nguyên Giáp, Văn Tiến Dũng, Nguyễn Chí Thanh: Bàn về chiến tranh nhân dân và lực lượng vũ trang nhân dân, Nxb. Quân đội nhân dân, Hà Nội, 1966, tr.58) thì quân đội triều Nguyễn đã không có được.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn