Cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp kết thúc thắng lợi, nhưng dân tộc ta mới giải phóng được nửa đất nước, miền Nam thành đồng Tổ quốc đi trước về sau vẫn còn bị rên xiết dưới gót giày xâm lược của đế quốc Mỹ - tên đế quốc đầu sỏ và bè lũ tay sai bán nước. Dân tộc ta phải tiếp tục cuộc chiến đấu vô cùng ác liệt, đầy hy sinh, gian khổ suốt 21 năm ròng rã mới quét sạch quân viễn chinh Mỹ và quân các nước phụ thuộc ra khỏi miền Nam, đánh đổ ngụy quân, ngụy quyền, giải phóng hoàn toàn miền Nam thân yêu, thống nhất Tổ quốc.
Cuộc chiến tranh cách mạng kéo dài 30 năm (1945- 1975) với hai cuộc kháng chiến thần thánh đánh thắng hai tên đế quốc xâm lược đầu sỏ, đã làm rạng rỡ, sáng ngời học thuyết và tư tưởng quân sự Việt Nam trong thời đại Hồ Chí Minh, thể hiện sự kết tinh, hội tụ văn hóa dựng nước, văn hóa giữ nước Việt Nam qua hàng ngàn năm lịch sử được nhân lên bởi tư tưởng tiến bộ của thời đại - chủ nghĩa Mác - Lênin và tinh hoa các học thuyết quân sự cổ - kim - Đông - Tây mà Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng Cộng sản Việt Nam đã kế thừa, chọn lọc.
Trong bộ Lịch sử tư tưởng quân sự Việt Nam gồm 5 tập, tập IV được dành riêng để trình bày tư tưởng quân sự Hồ Chí Minh và tư tưởng quân sự của Đảng Cộng sản Việt Nam qua 30 năm chiến tranh cách mạng. Giai đoạn lịch sử quang vinh nhưng nhiều hy sinh, mất mát, đau thương này đã được nghiên cứu, phản ánh trong nhiều bộ sử lớn đã được công bố: Lịch sử Việt Nam, Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam, Lịch sử Quốc hội Việt Nam, Lịch sử Chính phủ Việt Nam, Lịch sử Quân đội nhân dân Việt Nam, Lịch sử kháng chiến chống thực dân Pháp (1945-1954), Lịch sử kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1954-1975) và lịch sử các quân binh chủng, các quân khu, quân đoàn, các địa phương, đơn vị... Bộ Lịch sử quân sự Việt Nam 14 tập đã dành tập 10, tập 11, tập 12 để viết về hai cuộc kháng chiến vĩ đại này. Đặc biệt, bộ tổng kết chiến tranh gồm: Tổng kết cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp (1945- 1954) - Thắng lợi và bài học; Tổng kết cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1954-1975) - Thắng lợi và bài học; 30 năm chiến tranh cách mạng Việt Nam (1945-1975) - Thắng lợi và bài học của Ban Chỉ đạo Tổng kết chiến tranh trực thuộc Bộ Chính trị đã được xuất bản nhiều năm qua.
Đây vừa là thuận lợi rất cơ bản, nhưng đồng thời cũng là thách thức mà các tác giả của tập sách phải vượt qua để vừa kế thừa những kết quả nghiên cứu đã được công bố, vừa trình bày những kết quả nghiên cứu mới có sức thuyết phục trong yêu cầu chung của bộ Lịch sử tư tưởng quân sự Việt Nam.
Mặc dù các tác giả đã rất nỗ lực để cấu trúc hợp lý những nội dung cần truyền tải nhưng khó tránh khỏi những hạn chế, thiếu sót. Nhà xuất bản Chính trị quốc gia - Sự thật và Viện Lịch sử quân sự Việt Nam cùng các tác giả mong nhận được những ý kiến đóng góp, phê bình của bạn đọc.
Xin trân trọng giới thiệu cuốn sách cùng bạn đọc.
Tháng 7 năm 2015 NHÀ XUẤT BẢN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA - SỰ THẬT | |
Logged
| Ai công hầu, ai khanh tướng, vòng trần ai, ai dễ biết ai Thế Chiến Quốc, thế Xuân Thu, gặp thời thế, thế thời phải thế |
|
|
quansuvn | 
| Lịch sử tư tưởng quân sự Việt Nam - Tập 4« Trả lời #2 vào lúc: 31 Tháng Tám, 2021, 07:16:58 am » | MỞ ĐẦU
Trong lịch sử hàng nghìn năm dựng nước gắn liền với giữ nước, dân tộc Việt Nam đã phải tiến hành nhiều cuộc chiến tranh giải phóng và bảo vệ Tổ quốc chống lại các kẻ thù xâm lược mạnh hơn, lớn hơn gấp nhiều lần về sức mạnh kinh tế, quân sự. Quá nửa thời gian trong lịch sử hàng nghìn năm đó, các thế hệ người Việt Nam phải dồn tâm lực vào các hoạt động quân sự để giành và giữ vững nền tự do, độc lập, vẹn toàn lãnh thổ. Tiến trình lịch sử đầy gian khó, thử thách, hy sinh ấy đã hun đúc tinh thần đấu tranh bất khuất, ý chí tự lực, tự cường và truyền thống đánh giặc của con người Việt Nam, dân tộc Việt Nam. Xuất hiện do nhu cầu chống ngoại xâm, đặt trong mối quan hệ giữa chiến tranh và hoà bình, giữa dựng nước và giữ nước, tài thao lược, tư tưởng và nghệ thuật quân sự Việt Nam không ngừng phát triển đạt đến đỉnh cao trong 30 năm chiến tranh giải phóng và bảo vệ Tổ quốc (1945-1975).
Là một nhân tố quan trọng có ý nghĩa quyết định thành - bại trong kháng chiến, tư tưởng quân sự Việt Nam trong 30 năm chiến tranh giải phóng và bảo vệ Tổ quốc (1945-1975) là sự kết hợp nhuần nhuyễn, sự kế thừa, hấp thụ tinh hoa quân sự của dân tộc và thế giới; là bước phát triển mới, đạt tới đỉnh cao; vừa hàm chứa tính hiện đại của hoạt động chiến tranh ở thế kỷ XX, vừa mang nét đặc trưng nghệ thuật quân sự truyền thống của dân tộc. Tư tưởng quân sự Việt Nam trong 30 năm chiến tranh giải phóng và bảo vệ Tổ quốc (1945-1975) vừa mang nội dung rộng lớn, có tính toàn diện và tổng hợp cao, vừa nối kết lĩnh vực quân sự với các lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn hoá, xã hội, đối ngoại... Đó là tư tương quân sự về chiến tranh nhân dân, toàn dân, toàn diện, kết hợp chặt chẽ quân sự với chính trị, tác chiến với binh vận, kết hợp tiêu diệt địch và phát động quần chúng giành quyền làm chủ, kết hợp đánh du kích và đánh tập trung, kết hợp đánh nhỏ, đánh vừa và đánh lớn. Đó còn là tư tưởng về hoạt động xây dựng hậu phương căn cứ địa kháng chiến; xây dựng nền quốc phòng toàn dân, xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân ba thứ quân làm nòng cốt cho toàn dân đánh giặc... Những nội dung cơ bản trên đây của tư tưởng quân sự Việt Nam trong 30 năm chiến tranh giải phóng và bảo vệ Tổ quốc (1945-1975) làm giàu thêm kho tàng lý luận và tư tưởng quân sự Việt Nam - kho tàng ấy cần được giữ gìn, nghiên cứu, khai thác, vận dụng và phát triển trong điều kiện xây dựng và bảo vệ Tổ quốc hiện nay.
Dựa trên việc khai thác và xử lý tư liệu một cách khoa học, phân tích cẩn trọng các nguồn tư liệu, cập nhật những quan điểm, thành tựu nghiên cứu mới nhất, công trình Tư tưởng quân sự Việt Nam trong thời kỳ kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ (1945-1975) làm rõ những nội dung cơ bản, cốt yếu của tư tưởng quân sự Việt Nam hiện đại trên mọi chiều cạnh, chỉ ra tính độc đáo, đặc sắc và vận dụng những giá trị của nó vào bảo vệ Tổ quốc và xây dựng nền quốc phòng toàn dân.
Trên tinh thần khách quan, trung thực, cố gắng khai thác tối đa các nguồn tư liệu, nhất là các tư liệu gốc, tư liệu lưu trữ, mục tiêu xuyên suốt mà tập thể tác giả đặt ra khi bắt tay nghiên cứu và hoàn thành là công trình làm sáng rõ một số vấn đề hoặc liên quan, hoặc thuộc về tư tưởng quân sự Việt Nam trong thời kỳ kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ. Đạt được mục tiêu đặt ra không phải đơn giản, với tinh thần thực sự cầu thị, chúng tôi mong nhận được những đóng góp và phê bình của độc giả.
Nhân dịp cuốn sách Lịch sử tư tưởng quân sự Việt Nam - Tập IV (từ năm 1945 đến năm 1975) ra mắt bạn đọc, tập thế tác giả xin chân thành cám ơn Lãnh đạo Viện Lịch sử quân sự Việt Nam, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia - Sự thật, các cơ quan chức năng, bạn bè, đồng nghiệp đã cộng tác và tạo điều kiện thuận lợi cho chúng tôi trong quá trình nghiên cứu, nghiệm thu và xuất bản công trình. | |
Logged
| Ai công hầu, ai khanh tướng, vòng trần ai, ai dễ biết ai Thế Chiến Quốc, thế Xuân Thu, gặp thời thế, thế thời phải thế |
|
|
quansuvn | 
| Lịch sử tư tưởng quân sự Việt Nam - Tập 4« Trả lời #3 vào lúc: 02 Tháng Chín, 2021, 02:42:31 pm » | Chương I QUÁ TRÌNH PHÁT TRIỂN CỦA CUỘC KHÁNG CHIẾN CHỐNG THỰC DÂN PHÁP VÀ ĐẾ QUỐC MỸ XÂM LƯỢC (1945 -1975)
Trong thế kỷ XX, loài người đã chứng kiến những biến động nhanh chóng và dữ dội nhất trong lịch sử. Nếu trong nửa đầu thế kỷ XX, hai cuộc đại chiến thế giới cùng sự lớn mạnh của hệ thống xã hội chủ nghĩa đã ảnh hưởng trực tiếp tới gốc nền của thế giới cũ, thì trong nửa cuối thế kỷ XX, lại là thời gian diễn ra sự sụp đổ cơ bản của chủ nghĩa thực dân kiểu cũ và kiểu mới lẫn chủ nghĩa xã hội hiện thực - vốn là mô hình chưa hoàn thành của chủ nghĩa xã hội. Chủ nghĩa tư bản trong hình thái chủ nghĩa thực dân, bắt đầu bị tan rã từ những thất bại trước phong trào dân tộc của Thế giới thứ ba. Bất ngờ, nhưng không ngẫu nhiên, hai trụ cột của chủ nghĩa thực dân là Pháp và Mỹ đều lần lượt bắt đầu sự suy tàn của mình tại Việt Nam. Cuộc kháng chiến của nhân dân Việt Nam bảo vệ nền độc lập dân tộc, bảo vệ lý tưởng xã hội chủ nghĩa, thống nhất đất nước đã để lại những trang sử có ý nghĩa sâu sắc không chỉ đối với bản thân dân tộc Việt Nam, mà còn với lịch sử nhân loại. Bao giờ cũng vậy, có những sự kiện trong lịch sử đánh dấu sự mở đầu cho những thời đại mới - trong chừng mực đó, nó có tầm vóc vượt ra ngoài bản thân nó, cũng như có sức sống vượt ra khỏi giới hạn sự kiện. Như vậy, có thế nói rằng, cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược của nhân dân Việt Nam (1945-1975) kết thúc thắng lợi là một biểu tượng về sự toàn thắng của chủ nghĩa dân tộc chân chính và trí tuệ con người, sẽ đi vào lịch sử thế giới như một sự kiện có tầm quốc tế to lớn và có tính thời đại sâu sắc.
Trong khoảng thời gian 30 năm ấy, chiến tranh nhân dân từng bước phát triển, vượt qua các thách thức lịch sử, vươn tới đỉnh cao, đưa cách mạng Việt Nam đến thắng lợi hoàn toàn: lần lượt đánh bại quân xâm lược Pháp và Mỹ, giữ vững và phát triển thành quả cách mạng, giành lại độc lập dân tộc, mang lại tự do trọn vẹn cho Tổ quốc. Chiến thắng ấy đã mở ra một giai đoạn mới trong lịch sử dân tộc Việt Nam: chấm dứt vĩnh viễn ách thống trị của chủ nghĩa đế quốc và chế độ phong kiến ở Việt Nam. Quá trình ấy trải qua hai chặng đường liên tục kế tiếp nhau đầy gian nan, thử thách - từ cuộc kháng chiến 9 năm chống thực dân Pháp (1945-1954) đến cuộc kháng chiến chống đế quốc Mỹ 21 năm trường kỳ (1954-1975).
Công tác tìm hiểu bối cảnh lịch sử của tư tưởng, học thuyết là cần thiết để thấy được những nhân tố lịch đại, đồng đại cấu thành nên đặc tính của mỗi tư tưởng, học thuyết. Trên cơ sở đó, nghiên cứu lịch sử Việt Nam trong 30 năm kháng chiến sẽ cho thấy vai trò lịch sử và sự phát triển của tư tưởng quân sự Việt Nam nói chung, tư tưởng quân sự Việt Nam hiện đại nói riêng. Dĩ nhiên, học thuyết chiến tranh, tư tưởng quân sự và nghệ thuật quân sự có mối quan hệ mật thiết, nhưng sự phát triển về mặt lịch đại của từng lĩnh vực là không đồng nhất với nhau. Việc làm rõ hoàn cảnh lịch sử sẽ chỉ ra hai phương diện khi nghiên cứu tư tưởng quân sự là: (a) những khuynh hướng chính trị quyết định đối tượng và phương pháp luận của học thuyết chiến tranh cùng tư tưởng quân sự; (b) những nền tảng thực tiễn đóng vai trò quyết định trong quá trình ra đời nghệ thuật quân sự, từ đó củng cố và mở rộng hơn nữa các nhân tố của tư tưởng quân sự. Với quan điểm này, mối quan hệ biện chứng giữa chính trị và quân sự, giữa nhà nước và quân đội, giữa thực tiễn và tư tưởng là tiền đề cho nhận thức và công tác nghiên cứu. | |
Logged
| Ai công hầu, ai khanh tướng, vòng trần ai, ai dễ biết ai Thế Chiến Quốc, thế Xuân Thu, gặp thời thế, thế thời phải thế |
|
|
quansuvn | 
| Lịch sử tư tưởng quân sự Việt Nam - Tập 4« Trả lời #4 vào lúc: 02 Tháng Chín, 2021, 02:44:02 pm » | I- KHÁNG CHIẾN CHỐNG THỰC DÂN PHÁP XÂM LƯỢC (1945-1954)
1. Những vận động, biến đổi chính trị trên thế giới và ở Việt Nam sau Chiến tranh thế giới thứ hai
Tháng 5-1945, Chiến tranh thế giới thứ hai kết thúc ở châu Âu, tháng 8-1945 kết thúc trên toàn thế giới với sự thất bại hoàn toàn của phe phát xít. Hai sự kiện ấy tạo nên những biến đổi quan trọng trên toàn cầu.
Tại châu Âu, cuối năm 1944, đầu năm 1945, khi Hồng quân Liên Xô truy kích quân phát xít, lực lượng vũ trang và nhân dân các nước Đông Âu đã phối hợp nổi dậy giành độc lập, thành lập nhà nước cộng hoà dân chủ nhân dân: Ba Lan, Tiệp Khắc, Bungari, Hunggari, Anbani, Nam Tư, Rumani, Cộng hoà Dân chủ Đức. Tại châu Á, dưới sự lãnh đạo của các đảng cộng sản, nhân dân nhiều nước đã giành lại được nền độc lập của mình như Việt Nam, Cộng hoà Dân chủ nhân dân Triều Tiên, Cộng hoà nhân dân Trung Hoa. Tại những nước này, sau khi giành được độc lập, Đảng Cộng sản đã lãnh đạo nhân dân lao động bắt tay ngay vào xây dựng đất nước theo con đường xã hội chủ nghĩa. Như vậy, hệ thống các nước xã hội chủ nghĩa trên thực tế đã hình thành với Liên Xô là trung tâm, là một trong những biến đổi to lớn nhất của lịch sử thế giới trong thế kỷ XX, ảnh hưởng đến bước đường phát triển của lịch sử thế giới nói chung và vận mệnh của nhiều dân tộc nói riêng.
Phong trào giải phóng dân tộc và phong trào công nhân, các cuộc đấu tranh đòi dân sinh, dân chủ đã bùng nổ ngày càng mạnh mẽ. Nhân dân các dân tộc thuộc địa, phụ thuộc ở Á, Phi, Mỹ - Latinh đẩy mạnh phong trào đấu tranh đòi độc lập dân tộc. Ở châu Á, các nước như Việt Nam, Trung Quốc, Bắc Triều Tiên..., dưới sự lãnh đạo của các chính đảng giai cấp công nhân bắt tay vào xây dựng chế độ dân chủ nhân dân theo con đường xã hội chủ nghĩa, ở nhiều nước khác (như Ấn Độ, Mianma, Inđônêxia, Ai Cập, Xyri...), các đảng phái của giai cấp tư sản dân tộc đã tập hợp, lãnh đạo nhân dân đứng lên giành độc lập và phát triển đất nước theo con đường tư bản chủ nghĩa mang tính dân tộc, thực hiện đường lối đối ngoại hoà bình và trung lập.
Đảng Cộng sản và phong trào đấu tranh của giai cấp công nhân chống giai cấp tư sản vì lợi ích chung của những người lao động; cũng như trong cuộc đấu tranh chống chủ nghĩa thực dân và phát xít vì hoà bình, dân sinh và dân chủ là hiện tượng đặc biệt của thế kỷ XX. Tại các nước tư bản Tây Âu đã xuất hiện nhiều Đảng Cộng sản với 3,1 triệu đảng viên, có vị trí vững chắc trong các tổ chức công đoàn và các tổ chức dân chủ khác. Đây thật sự là một lực lượng chính trị vững mạnh. Tại một số nước (như Pháp, Italia,...), các Đảng Cộng sản đã tham gia liên minh cầm quyền trong chính phủ của giai cấp tư sản. Cuộc đấu tranh trực diện của giai cấp công nhân và các tầng lớp nhân dân tiến bộ vào chủ nghĩa tư bản chính là động lực, đồng thời cũng là như đồng minh của phong trào giải phóng dân tộc trên toàn thế giới. Góp phần to lớn vào thắng lợi chung của cách mạng thế giới chính là phong trào giải phóng dân tộc ở các nước thuộc địa, các nước mới giành được độc lập, trong đó có Việt Nam.
Trong khi đó, các nước phát xít bại trận. (Đức, Italia, Nhật Bản) phải đầu hàng quân Đồng minh không điều kiện, chịu những hậu quả chiến tranh tàn khốc, buộc phải bồi thường chiến phí hết sức nặng nề, khiến cho tình hình chính trị, kinh tế - xã hội ở các nước đó càng trở nên khủng hoảng nghiêm trọng.
Các nước đế quốc châu Âu khác tuy thắng trận nhưng cũng bị chiến tranh tàn phá rất nặng nề. Sản xuất công nghiệp, nông nghiệp đều giảm sút nghiêm trọng, góp phần đưa nền kinh tế của các nước này vào tình trạng trì trệ, đình đốn. Bên cạnh đó, các cuộc đấu tranh của phong trào công nhân và các tầng lớp nhân dân không ngừng phát triển, đặt giai cấp tư sản vào những thử thách nghiêm trọng. Bên cạnh đó, các nước này đang phải đối phó với phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc thuộc địa đang ngày càng lên cao. Sau chiến tranh, các nước này đều trở thành con nợ của Mỹ và đều thiếu nguồn vốn để phục hồi nền sản xuất. Để duy trì sự thống trị của mình, đối phó với các cuộc đấu tranh của các tầng lớp nhân dân, giai cấp tư sản ở các nước này phải dựa vào nguồn viện trợ của Mỹ (thông qua kế hoạch của Ngoại trưởng Mỹ Mácsan). Từ năm 1948 đến năm 1952, việc nhận viện trợ của Mỹ tới 15 tỉ đôla1 (Xem Nguyễn Anh Thái (Chủ biên): Lịch sử thế giới hiện đại, Nxb. Giáo dục, Hà Nội, 2001, tr.300), khiến các nước tư bản Tây Âu càng phụ thuộc Mỹ nhiều hơn về kinh tế, chính trị...
Mỹ là nước thu được những lợi nhuận khổng lồ từ việc buôn bán vũ khí và bồi thường chiến tranh (Mỹ đã thu được 114 tỉ đôla lợi nhuận chiến tranh), lại không bị chiến tranh thế giới tàn phá. Nhờ vậy, sau chiến tranh, Mỹ vươn lên trở thành cường quốc số một về kinh tế, tài chính, quốc phòng trong hệ thống các nước tư bản chủ nghĩa1 (Về quân sự, lục quân Mỹ từ vị trí thứ 17 trước chiến tranh đã vươn lên hàng đầu; hải quân và không quân cũng chiếm ưu thế hơn hẳn so với các nước khác. Những năm đầu sau Chiến tranh thế giới thứ hai, Mỹ lại độc quyền sử dụng bom nguyên tử, độc quyền vận chuyển vũ khí nguyên tử với đích xa. Về kinh tế, sản xuất công nghiệp của Mỹ đã chiếm hơn một nửa tổng sản lượng công nghiệp của toàn thế giới tư bản (56,4% năm 1948); sản lượng công nghiệp cũng tăng gấp 2 lần của Anh, Pháp, Cộng hòa Liên bang Đức, Italia, Nhật Bản cộng lại (năm 1949). Về tài chính, Mỹ có khối lượng vàng dự trữ lớn nhất thế giới (gần 25 tỉ đôla năm 1949, chiếm gần 3/4 khối lượng vàng của thế giới tư bản), trở thành trung tâm tài chính duy nhất trên thế giới). Với ưu thế vượt trội, giới cầm quyền Mỹ đã đề ra và theo đuổi chiến lược toàn cầu, thực hiện “sứ mệnh lãnh đạo thế giới". Ba mục tiêu chiến lược toàn cầu được Mỹ đặt ra là: ngăn chặn, đẩy lùi hệ thống các nước xã hội chủ nghĩa; ngăn chặn phong trào giải phóng dân tộc, phong trào hoà bình, dân chủ trên thế giới; củng cố quan hệ với các nước đồng minh. Để đạt được mục tiêu đó, Mỹ tiến hành cuộc chạy đua vũ trang, phát triển lực lượng hạt nhân, xúc tiến thành lập các khối liên minh quân sự, xây dựng các căn cứ quân sự ở nước ngoài. Tháng 3-1947, trong bài diễn văn đọc trước Quốc hội Mỹ, Tổng thống Tơruman đã đưa ra "học thuyết Tơruman"1 (Học thuyết Tơruman (Truman) dựa trên chính sách chống cộng bành trướng được thông qua ngày 22-5-1947, nêu rõ rằng, Mỹ sẽ viện trợ cho bất cứ nước nào bị đe dọa bởi chủ nghĩa cộng sản. Học thuyết này là một trong những cội nguồn của thuyết Domino về chiến tranh Việt Nam, một chiêu bài của chủ nghĩa thực dân mới, cho rằng nếu Mỹ không ngăn chặn chủ nghĩa cộng sản ở Việt Nam, thì các nước Đông Nam Á và sau đó là châu Á sẽ rơi vào tay chủ nghĩa cộng sản, đe dọa đến Mỹ và Tây Âu), chính thức phát động cuộc Chiến tranh lạnh2 ("Chiến tranh lạnh" là từ do Barút (Bernard Baruch) - tác giả giả Kế hoạch nguyên tử lực của Mỹ ở Liên hợp quốc sử dụng lần đầu tiên trong bài phát biểu của ông tại Nam Carolina, ngày 16-4-1947. Theo phía Mỹ, "Chiến tranh lạnh" là chiến tranh không nổ súng, không đổ máu nhưng "luôn luôn ở tình trạng chiến tranh" với mục tiêu là "ngăn chặn" rồi tiến tới tiêu diệt Liên Xô).
Chiến tranh thế giới thứ hai kết thúc, theo thỏa thuận giữa các nước thắng trận, thuộc địa cũ của những nước thuộc phe Đồng minh được bảo đảm, trong đó, Đông Dương "chịu ảnh hưởng truyền thống của nước Pháp".
Ngay sau khi vừa giành lại nền độc lập, nước Việt Nam mới đã phải đối diện với tình thế hết sức hiểm nghèo: Chỉ 10 ngày sau khi cuộc Tổng khởi nghĩa giành chính quyền thành công trong cả nước, theo quyết định của Hội nghị Pốtxđam, quân Đồng minh đã lần lượt kéo Việt Nam thực hiện nhiệm vụ giải giáp quân Nhật (giải giáp khoảng 6 vạn lính Nhật).
Từ vĩ tuyến 16 trở ra Bắc, dưới danh nghĩa quân Đồng minh, 20 vạn quân Tưởng Giới Thạch đã tràn vào Hà Nội và hầu khắp các tỉnh miền Bắc. Có “kim bài” của Hội nghị Pốtxđam, quân Tưởng lộng hành, nuôi ý đồ thực hiện âm mưu tiêu diệt Đảng Cộng sản Đông Dương, phá tan Việt Minh, lật đổ chính quyền cách mạng và thành lập một chính phủ thân Tưởng. Do vậy, theo quân Tưởng vào Việt Nam là lực lượng Việt Nam Quốc dân Đảng (còn gọi là Việt Quốc) và Việt Nam Cách mạng Đồng minh Hội (còn gọi là Việt Cách). Được sự hậu thuẫn của quân Tưởng Giới Thạch, những lực lượng này giúp các thế lực phản cách mạng tiến hành chống phá, cướp chính quyền ở nhiều nơi như: Yên Bái, Móng Cái, Vĩnh Yên. Đội quân này gây ra nhiều vụ cướp bóc, giết người và tuyên truyền, kích động quần chúng chống lại chính quyền cách mạng... Từ vĩ tuyến 16 trở vào Nam, dưới danh nghĩa giải giáp quân Nhật, quân Anh tiến vào Việt Nam, nhưng thực chất là để dọn đường, tạo điều kiện cho thực dân Pháp quay trở lại xâm lược Đông Dương.
Về phía thực dân Pháp, ngay sau khi Nhật Bản đầu hàng quân Đồng minh, chính phủ Đờ Gôn (De Gaulle) đã cử một đạo quân viễn chinh sang Đông Dương do tướng Lơcơléc (Leclerc) chỉ huy; đồng thời, cử Đô đốc Đácgiăngliơ (D' Argenlieu) sang làm Cao ủy Pháp ở Đông Dương với "sứ mệnh đầu tiên của Cao ủy là khôi phục lại chủ quyền của Pháp trên lãnh thổ Liên bang Đông Dương. Tướng chỉ huy tối cao của các lực lượng quân sự tại Viễn Đông chịu trách nhiệm dưới quyền Cao ủy, thi hành mọi biện pháp quân sự cần thiết nhằm khôi phục chủ quyền đó"1 (Chỉ thị của Đờ Gôn gửi Đácgiăngliơ ngày 16-8-1945. Dẫn theo Ph.Devillers: Pari - Sài Gòn - Hà Nội, Nxb. Thành phố Hồ Chí Minh, 1993, tr.131). Ngày 2-9-1945, trong khi nhân dân Sài Gòn - Chợ Lớn tổ chức míttinh chào mừng ngày độc lập, quân Pháp đã nấp trong Nhà thờ Lớn và xả súng bắn, làm 47 người chết, nhiều người bị thương. | |
Logged
| Ai công hầu, ai khanh tướng, vòng trần ai, ai dễ biết ai Thế Chiến Quốc, thế Xuân Thu, gặp thời thế, thế thời phải thế |
|
|
quansuvn | 
| Lịch sử tư tưởng quân sự Việt Nam - Tập 4« Trả lời #5 vào lúc: 02 Tháng Chín, 2021, 02:44:30 pm » | Khi đó, nền kinh tế Việt Nam vốn nghèo nàn, lạc hậu, lại bị chiến tranh tàn phá nặng nề. Nạn lụt lớn vào tháng 8-1945 làm vỡ đê 9 tỉnh đồng bằng Bắc Bộ khiến cho mùa màng thu được rất thấp. Sau lụt lớn lại là hạn hán kéo dài làm cho nhiều diện tích đất canh tác bị bỏ hoang, sản xuất công nghiệp, thủ công nghiệp vốn nhỏ bé, kiệt quệ nay càng trở nên đình đốn dẫn đến hàng hoá trên thị trường ngày càng khan hiếm, giá cả tăng vọt làm đời sống nhân dân gặp muôn vàn khó khăn. Đất nước tuy mới giành được độc lập, nhưng chính quyền mới lại không kiểm soát được Ngân hàng Đông Dương, nên vấn đề tài chính lúc này rất khó khăn. Ngân sách Trung ương chỉ có 1.230.0000 đồng, gần một nửa rách nát không lưu hành được. Ở miền Bắc, quân Tưởng tung ra các loại tiền quan kim, quốc tệ đã mất giá trị, làm cho nền tài chính Việt Nam thêm rối loạn.
Những di sản văn hoá của xã hội cũ như hơn 90% dân số không biết chữ, các tệ nạn xã hội như: rượu chè, cờ bạc, mại dâm, nghiện hút... vẫn còn phổ biến, cũng là một trở lực đối với cách mạng Việt Nam cũng như đối với sự phát triển nói chung của dân tộc.
Chính quyền dân chủ nhân dân vừa mới ra đời nên khả năng quản lý, điều hành còn hạn chế. Tại một số địa phương, cơ cấu tổ chức chính quyền không hợp lý dẫn đến tình trạng bao biện, nảy sinh mâu thuẫn, chồng chéo giữa các cơ quan, các cấp. Cơ cấu quản lý cán bộ còn lỏng lẻo, thiếu giám sát đối với công tác cán bộ nên ở một số nơi, bọn phản động đã chui được vào các tổ chức đảng, chính quyền cách mạng.
Quân đội quốc gia là lực lượng chủ yếu bảo vệ đất nước lúc này vừa được xây dựng, tổ chức lại. Cán bộ chỉ huy thiếu, đa số chưa trải qua những khóa huấn luyện quân sự, đào tạo cơ bản; chỉ một số ít được học trong các trường võ bị của thực dân Pháp, Trung Hoa dân quốc. Vũ khí, trang bị cho quân đội còn thiếu nhiều, lại rất lạc hậu. Kinh nghiệm chiến đấu của lực lượng vũ trang chưa nhiều, lại phải đối đầu với các đạo quân xâm lược nhà nghề, hung bạo.
Thực vậy, trong lịch sử, ngoại trừ các dân tộc phát triển bằng bạo lực quân sự để gia tăng chiến tranh và cướp bóc, thường thì sự phát triển của lực lượng quân sự là theo sau sự phát triển của nhà nước và các điều kiện kinh tế - xã hội nhất định. Cho dù Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa non trẻ được phát triển dựa vào một lực lượng cách mạng, nhưng mối quan hệ giữa Nhà nước và quân đội cho thấy bản chất hòa bình của dân tộc Việt Nam. Trong bối cảnh Nhà nước được thành lập dựa trên khát vọng tự do, hòa bình, độc lập của dân tộc, tư tưởng quân sự và nghệ thuật quân sự Việt Nam hiện đại có động lực và mục đích lớn lao nhất là: phục vụ sự nghiệp cách mạng của dân tộc, vì nền độc lập, tự do của dân tộc, vì khát vọng dân tộc.
Tuy vận mệnh dân tộc lâm vào tình thế "ngàn cân treo sợi tóc", nhưng bên cạnh đó, đất nước cũng có những điều kiện thuận lợi: nhân dân lao động đã giành được quyền làm chủ và bước đầu được hưởng những quyền lợi do chính quyền cách mạng đưa lại nên vô cùng phấn khởi, tin tưởng và ủng hộ Chính phủ. Ý thức tự hào dân tộc và mong muốn được sống trong chế độ xã hội mới tốt đẹp hơn đã thực sự trở thành động lực thúc đẩy sự đoàn kết của các tầng lớp nhân dân nhằm bảo vệ chính quyền cách mạng, giữ vững nền độc lập, tự do c |
|
|