Khác

Lịch sử tư tưởng quân sự Việt Nam - Tập 5

Nằm ở Đông Nam châu Á, vừa gắn liền với lục địa, vừa thông rộng với đại dương, từ rất sớm Việt Nam đã trở thành đối tượng nhòm ngó của các thế lực ngoại xâm đến từ nhiều phía. Trong lịch sử hàng ngàn năm dựng nước và giữ nước, dân tộc Việt Nam phải thường xuyên đương đầu với nhiều đội quân xâm lược lớn mạnh. Dựng nước đi đôi với giữ nước đã trở thành quy luật sinh tồn và phát triển của dân tộc, một đặc điểm hằng xuyên của văn hóa Việt Nam. Trải qua các cuộc khởi nghĩa và chiến tranh chống ngoại

Lai Châu02/07/2026Quân đội nhân dân (xã sìn hồ)2 lượt xem0 lượt chia sẻ
NHỮNG GIÁ TRỊ TRUYỀN THỐNG YÊU NƯỚC, ĐẤU TRANH VÌ ĐỘC LẬP TƯ DO, BẢO VỆ CHỦ QUYỀN QUỐC GIA VÀ TOÀN VẸN LÃNH THỔ

Trên dặm dài lịch sử hàng nghìn năm dựng nước và giữ nước, dựng nước luôn đi đôi với giữ nước, dân tộc Việt Nam đã trải qua những thử thách khốc liệt, những biến động dữ dội và đã anh dũng vượt qua bằng tình yêu quê hương, đất nước thiết tha, bằng trí tuệ và ý chí kiên cường, bằng sức mạnh cố kết và viết nên những trang sử oanh liệt. Hàng nghìn năm lao động quên mình và chiến đấu chống mọi kẻ thù đã trui rèn bản lĩnh con Lạc cháu Hồng, hun đúc nên những phẩm giá cao đẹp của con người Việt Nam, văn hóa Việt Nam, hình thành và bồi tụ thành truyền thống rất đáng tự hào của cộng đồng các dân tộc Việt Nam. Tư tưởng đấu tranh vì độc lập tự do, bảo vệ chủ quyền quốc gia và toàn vẹn lãnh thổ của nhân dân Việt Nam cũng nảy sinh và phát triển trong quá trình chiến đấu để bảo vệ quê hương, đất nước. Lòng yêu nước, ý chí độc lập tự do, tinh thần quyết chiến quyết thắng kẻ thù xâm lược là cội nguồn tư tưởng quân sự và cũng là một nội dung xuyên suốt, cốt lõi của tư tưởng quân sự Việt Nam.


I- SỰ HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN NHỮNG GIÁ TRỊ TRUYỀN THỐNG YÊU NƯỚC, Ý THỨC ĐẤU TRANH BẢO VỆ CHỦ QUYỀN DÂN TỘC TỪ BUỔI ĐẦU GIỮ NƯỚC ĐẾN GIỮA THẾ KỶ XIX

Cũng như các dân tộc khác, tổ tiên dân tộc Việt Nam xưa kia bắt đầu cuộc sống của mình bằng những bước đi chập chững trong một thời kỳ dài của thời đại công cụ bằng đá và chế độ công xã nguyên thủy. Nước Văn Lang ra đời trên nền tảng của sức sản xuất bấy giờ đã tương đối phát triển, với kết cấu chính trị - xã hội khá bền chặt. Từ đó, bắt đầu một thời đại mới trong lịch sử Việt Nam: thời đại các Vua Hùng dựng nước. Quan sát những trống đồng cổ - thành tựu nổi bật của văn hóa Đông Sơn thời đại các vua Hùng, có thể nhận thấy ánh lên từ những họa tiết trang trí trên mặt trống, ở tang trống cảnh làm ăn sinh động thấm đẫm sự hòa đồng mộc mạc, sự cố kết bền chặt của cư dân thời đó.


Nhưng vừa dựng nước thì nhân dân Việt Nam đã phải liên tiếp đương đầu với nhiều mối đe dọa từ bên ngoài. Truyền thuyết về cậu bé làng Phù Đổng vụt lớn lên đánh đuổi giặc Ân là câu chuyện đánh giặc giữ nước đượm màu thần thoại. Nhưng có cái cốt lõi lịch sử của nó, thể hiện tinh thần và ý chí quyết tâm chống ngoại xâm của người Việt cổ, trong đó nổi bật lên chiến công của con em những người dân thường, được minh họa trong thành phần đội quân của Gióng từ những người nông dân cầm vồ, người đánh cá vác cần câu, kẻ mục đồng cầm khăng cưỡi trâu trên đồng ruộng... "Phá tặc đãn hiềm tam tuế vãn, đằng vân do hận cửu thiên đê" (Ba tuổi đánh giặc vẫn lo là muộn, cưỡi mây còn hận chín tầng trời là thấp). Đó là tinh thần, là ý chí, là khí phách của người Việt xưa.


Tiếp nối quá trình và những thành quả lao động, đấu tranh của các tầng lớp cư dân hàng nghìn năm về trước, thế hệ người Việt thời Hùng Vương - An Dương Vương đã lao động và đấu tranh bền bỉ, sáng tạo, xây dựng nên cơ đồ của đất nước với sự hình thành ngày càng rõ nét bản sắc văn hóa cùng bản sắc chính trị của mình, từ đó đặt định và phát triển những giá trị văn minh của một dân tộc thống nhất. Cuộc kháng chiến chống Tần (thế kỷ III tr.CN) đã được sử sách ghi chép lại là cuộc đụng đầu lịch sử đầu tiên của dân tộc Việt Nam với chủ nghĩa bành trướng Đại Hán, mà kẻ đại diện là thế lực phong kiến Tần Thủy Hoàng, một đế chế lớn mạnh nhất thời đó. Thắng lợi của cuộc kháng chiến trường kỳ của nhân dân Văn Lang - Âu Lạc đã ghi vào lịch sử trang mở đầu về truyền thống đánh giặc giữ nước của dân tộc Việt Nam. Sử chép rằng, trước sự tiến công mạnh mẽ của quân Tần, người Việt đều trốn vào rừng ở với cầm thú, không ai chịu để cho quân Tần bắt, không hợp tác với giặc, "đêm đêm ra đánh quân Tần". Người Việt tập hợp nhau lại, "cử người kiệt tuấn lên làm tướng", kiên trì cuộc chiến đấu lâu dài, dùng lối đánh du kích "ngày ẩn đêm hiện", nhằm tiêu hao quân giặc, triệt đường lương thảo của chúng. Quân Tần "đóng binh ở đất vô dụng, tiến không được, thoái cũng không xong", chúng ngày càng nguy khốn và tuyệt vọng, nhiều quân lính và phu chuyên chở tự vẫn. Sau mười năm, quân Tần đại bại, nhà Tần buộc phải bãi binh (năm 208 tr.CN).


Như vậy, từ rất sớm, người Việt đã có ý thức về địa bàn cư trú, về cương vực lãnh thổ nơi đã sản sinh và nuôi dưỡng mình - đây chính là những tiền đề căn bản cho sự hình thành ý thức dân tộc. Cuộc đấu tranh kiên cường chống lại hiểm họa xâm lược - thôn tính của các thế lực mạnh hơn đòi hỏi mỗi thành viên trong cộng đồng - xã hội phải liên kết, đồng lòng hợp sức với nhau để có đủ sức đánh bại cuộc tiến công xâm lược của kẻ thù, và chính trong quá trình đấu tranh ấy mà bản sắc của cộng đồng ra đời. Từ thế kỷ III tr.CN, vừa dựng nước, nhân dân Việt cổ đã phải đứng lên chống ngoại xâm để giữ nước. Sự gắn bó với lãnh thổ, với địa bàn cư trú dần dần phát triển thành lòng yêu nước, ý thức cộng đồng quốc gia, ý thức bảo vệ chủ quyền lãnh thổ và tư duy quân sự của dân tộc Việt Nam. Đó là cơ sở để nhân dân Việt Nam giành được những thắng lợi đầu tiên trong tiến trình lịch sử đấu tranh giữ nước của mình.


Đánh thắng giặc ngoại xâm, An Dương Vương kế tục Hùng Vương lãnh đạo nhân dân xây dựng đất nước, Cổ Loa trở thành kinh đô nước Âu Lạc với tòa thành lớn, vừa là trung tâm chính trị vừa là căn cứ quân sự kiên cố. Trong suốt hơn 10 thế kỷ sau đó, truyền thống đô thị - thành trì, trung tâm chính trị - kinh tế cũng là trung tâm quân sự, vua cũng là chỉ huy tối cao này sẽ là đặc trưng của nền chính trị Việt Nam thời đó. Quân đội Âu Lạc được trang bị những vũ khí tinh xảo (nỏ Liên Châu) để bảo vệ kinh thành. Thành Cổ Loa với nhiều vòng thành vững chãi hình xoáy ốc và nỏ Liên Châu có uy lực sát thương lớn là mẫu mực của sự sáng tạo và tư duy quân sự độc đáo của người Việt cổ. Quân đội và nhân dân Âu Lạc đã chiến đấu anh dũng, nhiều lần đẩy lùi cuộc tiến công của quân xâm lược. Dẫu cuộc kháng chiến chống quân Triệu Đà xâm lược bị thất bại, nhưng ý thức quốc phòng, ý thức bảo vệ kinh đô của triều đình và ý chí chiến đấu của quân dân Âu Lạc đã phát triển một bước. Hai cuộc kháng chiến giữ nước đầu tiên thời Hùng Vương - An Dương Vương chứng tỏ ý thức cộng đồng, ý thức quốc gia - lãnh thổ của người dân sống trong cương vực Việt cổ đã xuất hiện, phát triển và chủ nhân của những chiếc trống đồng Đông Sơn đã rút ra được nhiều bài học cho mình.


Từ thế kỷ II trước Công nguyên, nước Việt Nam rơi vào thảm họa bị phong kiến phương Bắc qua nhiều triều đại như Triệu, Hán, Ngô, Tấn, Tống, Tề, Lương, Tùy và Đường đô hộ. Đây là thời kỳ lịch sử đen tối, đầy thử thách đối với sự mất còn của giống nòi, của dân tộc. Kẻ thù vơ vét, bóc lột nhân dân và thực hiện nhiều thủ đoạn, biện pháp tàn độc hòng triệt tiêu văn hóa, lối sống của người Việt: xóa tên nước, chia Âu Lạc thành quận huyện, sáp nhập vào lãnh thổ Trung Quốc; phá trống đồng, hủy hoại di sản văn hóa dân tộc; bắt dân Việt phải thay đổi phong tục tập quán, tuân theo pháp luật và lễ giáo của phong kiến phương Bắc...


Nhưng ngọn lửa hỏa ngục của các triều đại phía Bắc đã không thể thiêu cháy được văn hóa Việt; không khuất phục được ý chí cưỡng chống, đấu tranh của lớp lớp người Việt Nam. Trên thực tế chính trong thời gian mất nước kéo dài hơn một nghìn năm này, những cộng đồng người Việt cổ đã nêu cao tinh thần bất khuất, kiên cường và bền bỉ đấu tranh bảo tồn lối sống, giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa lâu đời, quyết giành bằng được nền độc lập tự chủ.


Thuở ấy, người Việt mất nước nhưng ở khắp các bản làng vẫn bảo tồn được các giá trị truyền thống của dân tộc. Bám vào làng xã, đoàn kết đùm bọc lấy nhau, người Việt đã đấu tranh hiệu quả chống lại chính sách nô dịch và đồng hóa của người Hán. Trong các làng xã, nhân dân vẫn giữ được cốt cách làm ăn và phong tục tập quán riêng; không chỉ bảo lưu những giá trị văn hóa truyền thống, mà còn tiếp thu có chọn lọc những yếu tố văn hóa ngoại nhập phù hợp với cuộc sống của mình và liên kết với nhau trong cuộc đấu tranh giành lại đất nước. Chính quyền đô hộ không thể can thiệp hoặc làm thay đổi được đời sống chính trị - xã hội ở làng của người Việt. Cũng dựa vào tổ chức làng xã, người Việt duy trì và phát triển sản xuất. Nhờ vậy, nền kinh tế vẫn có những bước phát triển. Những thành quả đấu tranh trên lĩnh vực kinh tế, văn hóa làm tăng thêm sức mạnh của dân tộc trong cuộc chiến đấu đánh đổ ách thống trị ngoại bang, giành lại chủ quyền dân tộc.


Người Việt đầu tiên chống lại ách đô hộ của Nam Việt là Tây Vu Vương - một thủ lĩnh thuộc dòng dõi quý tộc Âu Lạc cũ ở vùng Tây Vu (Cổ Loa). Tuy nhiên, do lực lượng yếu hơn, nên cuộc khởi nghĩa ở Giao Chỉ bị viên Tả tướng nhà Triệu là Hoàng Đồng đem quân dập tắt. Cuộc khởi nghĩa này chứng tỏ phần nào cuộc đấu tranh chống Bắc thuộc của nhân dân Việt Nam diễn ra từ rất sớm.


Trong những năm đầu công nguyên, nhà Hán thống trị Âu Lạc. Chính sách nô dịch và đồng hóa của triều đình phong kiến Đông Hán đã xô đẩy nhân dân Âu Lạc vào cảnh ngộ lầm than không kể xiết; mâu thuẫn dân tộc càng mạnh mẽ hơn. Phong trào nổi dậy của nhân dân Việt Nam nổ ra khắp nơi, mà đỉnh cao là cuộc khởi nghĩa Hai Bà Trưng vào mùa Xuân năm 40 với lời thề "Đền nợ nước, trả thù nhà". Khởi nghĩa Hai Bà Trưng với khí thế vùng dậy mãnh liệt, đã lật đổ nền thống trị của nhà Đông Hán đang lúc cường thịnh, khôi phục nền tự chủ, cả những người Man, người Lý ở Cửu Chân, Nhật Nam, Hợp Phố đều hưởng ứng. Cuộc khởi nghĩa toàn dân rộng lớn này để lại biết bao tấm gương cảm động. Nhiều gia đình hầu như cả nhà cùng đánh giặc: ba mẹ con bà Man Thiện, năm mẹ con bà Lê Thị Hoa (Thanh Hóa), vợ chồng Phương Dung - Đào Kỳ và ba anh em họ Đào (Hà Nội), hai chị em Nguyệt Thai - Nguyệt Độ (Nam Định), V.V.. Nhiều nữ tướng đại diện cho phụ nữ Việt thuở đó đã chiến đấu dưới ngọn cờ khởi nghĩa Hai Bà. Các thủ lĩnh địa phương cũng tham gia đông đảo đã phần nào cho thấy sự liên kết rộng lớn về mặt chính trị giữa các vùng trong ranh giới Việt cổ. Tuy nhiên, để mối liên kết này trở thành một quyền lực tập trung thì phải trải qua một quá trình lịch sử lâu dài. Dẫu sao, cuộc khởi nghĩa vẫn là sự nối tiếp và phát triển tinh thần độc lập tự chủ, tiêu biểu cho ý chí chính trị của dân tộc; đó là kết quả của sự thức tỉnh dân tộc trong cả một quá trình đấu tranh, khi âm thầm lúc công khai của người Việt cổ. Đó là thắng lợi của phong trào nổi dậy của toàn dân dưới sự lãnh đạo của hai vị nữ anh hùng Trưng Trắc và Trưng Nhị.

« Sửa lần cuối: 18 Tháng Hai, 2022, 05:48:50 pm gửi bởi ptlinh »

Logged

Ai công hầu, ai khanh tướng, vòng trần ai, ai dễ biết ai
Thế Chiến Quốc, thế Xuân Thu, gặp thời thế, thế thời phải thế

quansuvn

Moderator
*
Bài viết: 7580



WWW

Lịch sử tư tưởng quân sự Việt Nam - Tập 5« Trả lời #3 vào lúc: 24 Tháng Mười, 2021, 08:02:21 pm »
Cuộc khởi nghĩa của Hai Bà Trưng đã gây nên một chấn động lớn cả trong và ngoài cộng đồng người Việt cổ, khiến triều đình Hán Quang Vũ rất lo lắng và cử Phục Ba tướng quân Mã Viện đưa đại quân sang xâm lược đất nước của Trưng vương. Sau hơn hai năm, cuộc kháng chiến của nhân dân Việt Nam do Hai Bà Trưng lãnh đạo bị thất bại. Hai Bà Trưng và nhiều tướng sĩ nghĩa quân đã chiến đấu và hy sinh anh dũng tại Cổ Loa, Lãng Bạc, Cấm Khê. Cuộc chiến ở Cấm Khê đã đi vào lịch sử dân tộc như một trận đánh cuối cùng của hai vị nữ anh hùng dân tộc. Đó là một trận đánh lớn, trong điều kiện lịch sử lúc bấy giờ, nó làm sáng ngời truyền thống dân tộc: thà chết chứ không làm nô lệ, không chịu khom lưng, quỳ gối trước quân xâm lược, tất cả vì nền độc lập tự chủ. Sự nghiệp của Hai Bà Trưng chứng minh hùng hồn, tập trung bước phát triển mới của tinh thần dân tộc Việt Nam. Tinh thần và ý chí đó là sản phẩm của một quá trình lịch sử lâu dài, kết tinh của nền văn minh sông Hồng trong thời đại dựng nước và trước thảm họa mất nước, nó bùng lên thành sức mạnh quật khởi của nhân dân. Hai Bà Trưng đã để lại tấm gương bất khuất cho muôn đời sau.


Tiếp nối truyền thống Hai Bà Trưng, năm 248, Triệu Thị Trinh lãnh đạo nhân dân khởi nghĩa ở Cửu Chân (vùng Thanh Hóa). Cuộc khởi nghĩa lan rộng vào Cửu Đức, Nhật Nam và ra tận Giao Chỉ, khiến cho "toàn thể Giao Châu chấn động, thứ sử Giao Châu mất tích". Các thế hệ người Việt Nam luôn truyền nhau câu nói nổi tiếng đầy khí phách tương truyền là của Bà Triệu phát ra từ núi Nưa: "Tôi muốn cưỡi cơn gió mạnh, đạp luồng sóng dữ, chém cá kình ở biển Đông, đánh đuổi quân Ngô, giành lại giang sơn, cởi ách nô lệ, chứ tôi không chịu khom lưng làm tỳ thiếp người ta". Đây là cuộc khởi nghĩa tiêu biểu, mạnh nhất và rộng lớn nhất và "là đỉnh cao của phong trào nhăn dân thế kỷ II-III, nổ ra ngay trong thời kỳ mà bọn đô hộ có lực lượng hùng mạnh, đã củng cố được ách thống trị trên đất nước Việt Nam và đang đẩy mạnh dã tâm đồng hóa của chúng"1 (Lịch sử Việt Nam, Nxb.Khoa học xã hội, Hà Nội, 1972, t.I, tr.109). Khởi nghĩa Bà Triệu thất bại, nhưng hình ảnh của người con gái kiên trinh bất khuất, người phụ nữ anh hùng dân tộc siêu việt quyết nối chí Bà Trưng "giành lại giang sơn, cởi ách nô lệ" vẫn muôn thuở không phai mờ trong tâm trí người Việt Nam.


Các cuộc khởi nghĩa Hai Bà Trưng và Bà Triệu là sự phản chiếu của một giai đoạn quan trọng trong quá trình hình thành các giá trị dân tộc, đặc biệt là biểu trưng cho khí phách dân tộc, cho tư tưởng, ý chí quật cường, quyết tâm đánh giặc, giành độc lập, tự do của nhân dân Việt Nam. Hình ảnh của các bà lẫm liệt, hiên ngang trên mình voi chiến, chỉ huy nghĩa quân đánh giặc đã trở thành một biểu tượng chính trị - văn hóa trong tâm trí người Việt Nam, biểu tượng của tinh thần yêu nước, của khát vọng độc lập tự do, và của ý chí chính trị không gì và không bao giờ lay chuyển được, là tư tưởng quyết tâm giành lại độc lập và giữ gìn đất nước của tổ tiên.


Từ đó, các cuộc khởi nghĩa nổ ra ngày càng nhiều với quy mô và hiệu quả càng lớn. Lý Bí đánh tan quân Lương, lập ra nước Vạn Xuân, tự xưng là Nam Đế (vua nước Nam). Ông là người Việt đầu tiên xưng đế, "Việt đế" theo sử Trung Quốc hay "Nam Việt đế" theo sử nước Việt Nam. Xưng đế, định niên hiệu riêng, định đô ngay trên vùng đất Hà Nội xưa, đúc tiền riêng, coi phương Nam là một cõi riêng với phương Bắc, lấy Việt đối với Hoa..., những điều đó nói lên một bước trưởng thành quan trọng của ý thức chính trị - dân tộc, lòng tin ở khả năng tự mình vươn lên, phát triển một cách độc lập. Đó là sự hiên ngang phủ định quyền "bá chủ thiên hạ" của hoàng đế phương Bắc, vạch rõ sơn hà, cương vực và là sự khẳng định dứt khoát rằng: nòi giống Việt phương Nam là một thực thể độc lập, là chủ nhân của đất nước và nhất quyết phải giành quyền làm chủ vận mệnh của mình. Đây là một bước phát triển mới của ý chí độc lập tự chủ; có thể coi là một "hành động cách mạng" của nhân dân Việt Nam kiên quyết chống lại sự thống trị của phong kiến Trung Hoa để giành lại nền độc lập, tự do dân tộc. Và người kế nghiệp Lý Nam Đế cũng đã xứng danh anh hùng, tự xưng Triệu Việt Vương, lãnh đạo nhân dân kiên trì kháng chiến, đánh đuổi quân xâm lược Lương, bảo vệ nền độc lập cho nước Vạn Xuân.


Thời Tùy, Đường thống trị, nhiều cuộc khởi nghĩa và kháng chiến nổ ra. Kháng chiến chống Tùy (năm 602), các cuộc khởi nghĩa chống chính quyền đô hộ nhà Đường của Lý Tự Tiên và Đinh Kiến (687), của Mai Thúc Loan (Mai Hắc Đế, 713-722), của Phùng Hưng (Bố Cái Đại Vương, 766-791), của Dương Thanh (819-820)... là những minh chứng hùng hồn cho sự trưởng thành của ý thức dân tộc, của tinh thần quyết chiến đấu vì độc lập tự chủ. Mai Thúc Loan tiếp nối ý chí của Lý Bí, đã xưng "đế" và giành được quyền tự chủ trong nhiều năm. Phong trào đấu tranh của nhân dân Việt Nam chống ách đô hộ nhà Đường có tính chất phố biến, tương đối liên tục suốt ba thế kỷ và nổ ra ở khắp nơi, miền xuôi cũng như miền núi, từ miền Bắc đến Hoành Sơn. Phong trào mang tính chất dân tộc - quần chúng khá rõ nét, bao gồm mọi tầng lâp xã hội như quân sĩ, hào trưởng, quan lại yêu nước và nhân dân các dân tộc trên lãnh thổ nước Việt Nam. Có những cuộc khởi nghĩa đã phát triển thành chiến tranh giải phóng dân tộc, đánh vào tận sào huyệt, đại bản doanh của quân thù (Tống Bình). Lực lượng địch tan rã nhanh chóng trước khí thế tiến công của quần chúng khởi nghĩa. Bọn kinh lược sứ, quan đô hộ... hoặc bị giết, hoặc bỏ chạy. Trong những nhân tố trên, nhân tố quần chúng nhân dân tham gia đông đảo, với khí thế tiến công ngày càng mạnh là rất quan trọng, khiến quân giặc hoảng sợ nhất.


Trong các thế kỷ dưới sự thống trị của nhà Đường, nhân dân Việt Nam liên tục đứng lên chống chính quyền đô hộ. Khác với những giai đoạn trước, sự phân biệt giữa chính quyền đô hộ và nhân dân Việt Nam trong thời gian này rất rạch ròi. Những quý tộc hay quan lại nhà Đường sang sinh sống lâu dài bên An Nam không được tham gia chính quyền và không giữ chức vụ cao cấp như trước. Do đó, cuộc đấu tranh của nhân dân Việt Nam cũng nhằm đúng kẻ thù hơn. Quy mô của các cuộc khởi nghĩa dưới thời thuộc Đường ngày càng lớn. Phong trào đấu tranh ngày càng tập trung mũi nhọn vào chính những kẻ cầm đầu chính quyền đô hộ. Qua những cuộc đấu tranh anh dũng đó, tinh thần quốc gia tự chủ, ý thức dân tộc được củng cố và phát triển mạnh mẽ hơn. Chính quyền đô hộ bị đả kích mãnh liệt. Tuy chính quyền đô hộ đã sử dụng nhiều biện pháp trấn áp quân sự, nhưng kết quả rất hạn chế và sự tan rã của nó cũng đã bắt đầu và không thể tránh khỏi. Phong trào đấu tranh chống chính quyền đô hộ nhà Đường đến cuối thế kỷ IX đầu thế kỷ X đã báo hiệu sự xuất hiện của bình minh sau một đêm dài tăm tối dưới ách thống trị của ngoại bang. Đó là đêm trước để Khúc Thừa Dụ khởi nghĩa thành công, xây dựng chính quyền tự chủ họ Khúc (905-930), rồi chuyển sang chính quyền họ Dương (931-937) dẫn đến chiến thắng Bạch Đằng, Ngô Quyền đánh tan quân Nam Hán (938).

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn
Lịch sử tư tưởng quân sự Việt Nam - Tập 5 | Câu chuyện thời hoa lửa