Lịch sử về người Mông ở Lao Chải có kỹ thuật rèn đúc, dệt áo, váy, chăn, địu,...
Ngày xửa ngày xưa, thuở những cánh rừng già trên dãy Hoàng Liên Sơn còn chưa in dấu chân người, có một đoàn người Mông lầm lũi đi trong mương sương mờ mịt. Họ vừa trải qua một cuộc di cư ngàn dặm, trốn chạy khỏi những cuộc binh đao tàn khốc từ phương Bắc để tìm đất sống. Khi dừng chân trên đỉnh Lao Chải cao ngất ngưỡng, nhìn xuống thung lũng sâu hun hút, người già trong bản chống gậy tày xuống đất đá tai mèo mà bảo rằng: "Đất này dốc đứng, trời này lạnh buốt, nhưng sương mù sẽ che chở chúng ta khỏi kẻ thù. Ta sẽ hạ trại ở đây!"
Thế là, cuộc sinh tồn vĩ đại bắt đầu. Để bám trụ lại nơi đỉnh trời này, người Mông Lao Chải đã mang theo hai báu vật bách chiến bách thắng: ngọn lửa của lò rèn và sợi dây tình thâm từ khung cửi dệt lanh.
Mùa đông năm ấy, cái lạnh tràn về như muốn đóng băng dòng máu trong người. Việc đầu tiên ông trùm bản làm không phải là dựng nhà, mà là đào sâu xuống lòng đất một cái hố lớn để làm lò rèn. Đàn ông trong bản lực lưỡng, khiêng những thân cây gỗ dẻ khoét rỗng làm bễ thụt hơi.
Giữa đêm đen Lao Chải, ánh lửa lò rèn bùng lên đỏ rực một góc trời. Tiếng quai búa "chan chát, quai sầm" vang động vách đá. Người thợ rèn trưởng bản có đôi mắt tinh tường như chim ưng, ông nhìn màu thỏi thép nung – từ đỏ hồng chuyển sang trắng xanh – liền lập tức nhúng phập vào thùng nước suối hòa muối bí truyền. Xèo! Làn khói trắng bốc lên, và một chiếc cuốc bướm ra đời, cứng đến mức chém vào đá tai mèo vang lên tiếng thanh như chuông mà không hề mẻ lưỡi.
Có cuốc, có dao quắm sắc lẹm từ lò rèn, người Mông bắt đầu bổ những nhát đầu tiên vào sườn núi dốc đứng. Họ bạt đất, đắp bờ, đục đá, bắt dòng nước suối từ đỉnh trời phải chảy ngoằn ngoèo qua từng bậc nương. Những lưỡi cày gang cong vút do thợ rèn Lao Chải đúc ra, được kéo bởi những thúng trâu mộng, lật tung lớp đất sỏi cằn cỗi để biến sườn núi hoang vu thành những triền ruộng bậc thang kỳ vĩ.
Trong khi thung lũng âm vang tiếng búa rèn của đàn ông, thì bên hiên nhà pơ-mu, tiếng lạch cạch của khung cửi dệt lanh của người phụ nữ lại ngân nga như một bản tình ca.
Bà mẹ Mông dắt đứa con gái nhỏ ra nương lanh, vừa tước vỏ lanh vừa dặn: "Con gái Mông không biết dệt lanh thì không tìm được chồng, chết không có áo mặc về gặp tổ tiên đâu con ạ". Sợi lanh lấy từ vỏ cây được họ mang về giã trong cối cho mềm, nối lại dài hàng dặm rồi đưa lên khung cửi đứng. Những tấm vải lanh trắng muốt, bền chắc như da hoẵng, chắn được cái gió lào xào của đỉnh núi cao dần dần hiện ra.
Khi tấm vải lanh đã thành hình, người con gái Mông lại đốt một nồi sáp ong rừng. Họ dùng chiếc bút đồng nhỏ xíu, khéo léo chấm sáp nóng chảy để vẽ lên vải. Đôi tay thoăn thoắt vẽ những hình vuông, hình tròn, những đường kỷ hà đan chéo nhau. Đó không chỉ là hoa văn, đó là hình ảnh của những thửa ruộng bậc thang nhìn từ đỉnh núi, là con đường khúc khuỷu mà tổ tiên họ đã đi qua trong cuộc thiên di khốc liệt.
Vẽ xong, họ đem tấm vải ngâm vào thùng nước chàm đen thẫm giấu trong góc tối. Cứ ngâm rồi lại phơi, ròng rã suốt mấy tháng trời dưới cái nắng, cái gió Lao Chải, tấm vải khoác lên mình màu xanh đen bóng bẩy của đại ngàn. Khi đem luộc qua nước sôi, lớp sáp ong tan đi, để lại những đường hoa văn màu trắng xanh nổi bật, sắc nét như một bức tranh huyền thoại.
Từ những tấm vải lanh đượm mùi chàm ấy, người phụ nữ Lao Chải bắt đầu may vá cho cả vòng đời của người Mông:
Họ thêu nên chiếc địu có hoa văn hình chữ thập lớn ở giữa. Khi người mẹ cúi xuống gùi lúa trên ruộng bậc thang, đứa trẻ nằm ngoan trên lưng, áp mặt vào tấm vải lanh mát rượi, lớn lên bằng tiếng thoi đưa và mùi thơm thơm của lá chàm rừng.
Họ may nên chiếc váy xòe xếp hàng trăm nếp phẳng. Để rồi cứ mỗi độ Tết đến xuân về, trong hội Gầu Tào giữa những triền ruộng bậc thang rực rỡ, các cô gái bước đi làm chiếc váy xòe rộng ra như những đóa hoa rừng lay động, quấn quýt theo tiếng khèn dập dìu của các chàng trai mang dao mèo bên hông.
Và cho đến tận ngày hôm nay, nếu bạn có dịp bước chân đến xã Lao Chải, bạn vẫn sẽ nghe thấy tiếng búa rèn chan chát bên vách đá, vẫn thấy những người bà, người mẹ ngồi thêu váy lanh bên bậc cửa. Tiếng rèn đúc và đường tơ dệt vải ấy đã hòa vào nhau, viết nên câu chuyện lịch sử hào hùng của một tộc người không bao giờ chịu khuất phục trước gian khó, biến những vách núi cằn cỗi thành một kỳ quan nở hoa giữa lưng chừng trời.



