Lịch sử Xã Mỹ Đức, Hà Tiên
Nếu là người Hà Tiên, sinh ra và lớn lên tại Hà Tiên, nhà cửa của cha mẹ ở tại khu chợ cũ Hà Tiên, hoặc ngay cả ở bên ngoài khu chợ, mãi tận khu Pháo Đài, xa hơn nữa cho tới khu Thạch Động, gần sát biên giới (với nước Campuchia) thì trong giấy khai sinh của chúng ta vẫn ghi đơn giản ở phần nơi sinh là: Mỹ Đức, Hà Tiên. Vậy Mỹ Đức ngày xưa là một đơn vị hành chánh như thế nào và đối với Hà Tiên ra sao? Ngày nay ta cũng vẫn còn thấy cái tên Mỹ Đức như là một xã đối với thị xã Hà Tiên (từ năm 1998)
iai đoạn 1802 – 1830, có thể gọi là thời kỳ Nguyễn Sơ, đây là thời kỳ quân quản, tản quyền, vẫn còn giữ hệ thống Doanh (hay là Dinh), Trấn, Phủ, Huyện,…Từ năm 1698 Chúa Nguyễn Phúc Chu cho thành lập phủ Gia Định, cho đến năm 1802, vua Gia Long thống nhất đất nước, triều đình nhà Nguyễn được chính thức thành lập, phủ Gia Định được đổi thành Trấn Gia Định. Tuy nhiên đến năm 1808 lại đổi Trấn Gia Định là Gia Định Thành (còn gọi là Tổng Trấn Gia Định), do một quan đại thần tài giỏi làm Tổng trấn cai quản (lúc đó là Nguyễn Văn Nhân), có quan phó là chức Hiệp Tổng trấn phụ giúp (lúc đó là Trịnh Hoài Đức). Giai đoạn nầy, Gia Định Thành được chia làm 5 trấn: Phiên An, Biên Hòa, Định Tường, Vĩnh Thanh và Hà Tiên.
Đến thời kỳ vua Minh Mạng (1820 – 1841), có một cuộc cải tổ hành chánh vào năm 1832, Gia Định Thành bị bãi bỏ, tên gọi trấn trở thành tỉnh, do đó, 5 trấn của Gia Định Thành được chia ra thành 6 tỉnh: Phiên An, Biên Hòa, Định Tường, Vĩnh Long, An Giang và Hà Tiên. Vào năm 1834, 6 tỉnh của vùng Gia Định Thành trước đây được xem như là vùng đất có tên chung là Nam Kỳ, từ đó có tên Nam Kỳ Lục Tỉnh, gồm ba tỉnh miền Đông và ba tỉnh miền Tây:
Ba tỉnh miền Đông: Phiên An (năm 1835 được đổi tên là Gia Định; tỉnh lỵ ở Gia Định), Biên Hòa (tỉnh lỵ ở Biên Hòa), Định Tường (tỉnh lỵ ở Mỹ Tho).
Ba tỉnh miền Tây: Vĩnh Long (tỉnh lỵ ở Vĩnh Long), An Giang (tỉnh lỵ ở Châu Đốc), Hà Tiên (tỉnh lỵ ở Hà Tiên).
Năm 1836 vua Minh Mạng cho tổ chức đo đạc ruộng đất, lập địa bạ ở 6 tỉnh Nam Kỳ. Khi công việc nầy hoàn thành, triều đình có khoảng 1637 quyển địa bạ ghi đầy đủ tên làng, thôn, địa phận, địa giới, điền thổ…Theo đó 6 tỉnh Nam Kỳ gồm có 10 phủ, 25 huyện, 135 tổng, 1637 xã. Tên của xã Mỹ Đức ra đời vào lúc nầy, xã Mỹ Đức thuộc tổng Hà Thanh, huyện Hà Châu, phủ An Biên, tỉnh Hà Tiên. Sau năm 1836 có nhiều tổng mới thành lập, con số đơn vị hành chánh của 6 tỉnh Nam Kỳ lên tới 14 phủ, 40 huyện, 2104 xã thôn.
C/ Sơ lược về các thay đổi liên hệ đến tỉnh Hà Tiên thời kỳ trước khi Pháp chiếm:
Mạc Thiên Tích sau khi tiếp nối công trình mở đất của cha ông là Mạc Cửu, tiến hành củng cố việc hành chánh, quân sự, mở rộng đất đai mới (1739): Rạch Giá, Cà Mau, Trấn Di (một phần của Bạc Liêu), Trấn Giang (Cần Thơ). Năm 1757 Mạc Thiên Tích còn mở rộng Hà Tiên thêm 5 phủ của vùng đất thuộc bên nước Campuchia, đồng thời chú trọng về quân sự, phòng thủ với việc lập ra đạo Kiên Giang thuộc về vùng đất Rạch Giá nói trên và đạo Long Xuyên thuộc vùng Cà Mau (2), trấn Hà Tiên lúc đó phát triển nhanh chóng và có diện tích rất rộng lớn, trải dài từ vùng vịnh Kompong Som (nay là vùng Sihanoukville thuộc nước Campuchia) cho đến tận mũi Cà Mau.
Vào năm 1825 (thời vua Minh Mạng) bỏ đơn vị đạo, trấn Hà Tiên được chia thành một phủ tên An Biên và quản trị ba huyện : Hà Tiên, Kiên Giang, Long Xuyên (nhắc lại huyện Kiên Giang ở đây gồm vùng đất Rạch Giá và huyện Long Xuyên gồm vùng đất Cà Mau chứ không phải ở thành phố Long Xuyên hiện nay).
Vào lúc nầy nếu chỉ tính các đơn vị có người Việt ở trong trấn Hà Tiên, có 7 xã thôn như sau : Minh Hương xã, Hòa Mỹ xã, Tân Đông xã, Thuận An thôn, Tiên Hưng thôn, Tân An thôn, Tiên Hương thôn (3). Ngoài ra còn có các thôn thuộc đảo Phú Quốc, các phố của người Hoa và các sóc của người Khmer. Thời kỳ nầy tên gọi Mỹ Đức chưa xuất hiện (1825).
Đến năm 1832, đơn vị trấn được đổi thành tỉnh, tỉnh Hà Tiên gồm có phủ Quan Biên (đổi tên từ phủ An Biên) và quản trị 8 huyện : Hà Châu (đổi tên từ huyện Hà Tiên), Kiên Giang (vùng Rạch Giá), Long Xuyên (vùng Cà Mau) và 5 huyện khác vốn thuộc vùng đất của nước Campuchia nhưng đã được sát nhập vào trấn Hà Tiên từ trước.
Đến năm 1834 lại đổi tên phủ Quan Biên trở lại thành phủ An Biên và lấy thêm một phần đất thuộc Cần Bột (Kampot), Hương Úc (Kompong Som) đặt thành 2 phủ mới là Quảng Biên và Khai Biên, vẫn thuộc tỉnh Hà Tiên. Năm 1837 phủ Khai Biên xuống cấp thành huyện, đặt thêm một huyện mới tên Kim Trường (sau đổi là Vĩnh Trường), hai huyện nầy nhập vào phủ Quảng Biên (4) thuộc tỉnh Hà Tiên.
Năm 1839, vua Minh Mạng lấy vùng đất nằm hai bên bờ kênh Vĩnh Tế trong đó có một phần lãnh thổ nước Campuchia nhưng lúc đó do nhà Nguyễn bảo hộ (gọi là Trấn Tây Thành) lập thành phủ Tịnh Biên chia làm 2 huyện Hà Âm (phía bắc của kênh Vĩnh tế) và Hà Dương (phía Nam của kênh Vĩnh Tế) và nhập vào phủ An Biên, tỉnh Hà Tiên. Đến năm 1842, tách phủ Tịnh Biên và huyện Hà Dương khỏi Hà Tiên để nhập vào tỉnh An Giang, huyện Hà Âm vẫn thuộc phủ An Biên, tỉnh Hà Tiên cho đến năm 1844 thì chuyển luôn cho phủ Tịnh Biên, tỉnh An Giang.
Cho đến lúc Pháp chiếm Hà Tiên, (1867), lúc nầy tỉnh Hà Tiên gồm phủ An Biên và 3 huyện : Hà Châu (tức ngay trung tâm Hà Tiên xưa), Kiên Giang (tức vùng đất Rạch Giá) và Long Xuyên (tức vùng đất Cà Mau).
Toàn bộ tỉnh Hà Tiên năm 1836 gồm phủ An Biên, quản trị ba huyện : Hà Châu, Kiên Giang và Long Xuyên. Theo sự ước lượng diện tich toàn tỉnh Hà Tiên vào thời điểm nầy được khoảng 10459 km vuông. Khi công việc đo đạc ở tỉnh Hà Tiên hoàn thành, nhà Nguyễn ghi chép được 35 tập, mỗi tập gồm nhiều quyển, tổng cộng được 144 quyển địa bạ, mỗi quyển địa bạ là một tài liệu ghi lại vị trí, địa danh của làng, xã hay thôn, tên họ người đứng đầu làng, xã hay thôn và thống kê về ruộng đất các loại với tên họ người chủ . . .
Ta chú ý riêng về huyện Hà Châu :
Huyện Hà Châu được chia làm 5 tổng, mỗi tổng quản lý các xã và thôn.
Nếu tính từ lãnh thổ trung tâm Hà Tiên xưa, thì 2 tổng Hà Thanh và Thanh Di (tài liệu xưa thường viết là Thanh Gi) tương đương với vùng đất Hà Tiên, Kiên Lương, Giang Thành.
Tổng Hà Nhuận và Nhuận Đức chiếm phần đất nay thuộc nước Campuchia, giáp với biên giới nước ta, ngay vùng Banteay Meas, Kompong Trach thuộc tỉnh Kampot, vùng Kiri Vong thuộc tỉnh Takeo và thành phố Kep.
Tổng thứ năm là tổng Phú Quốc.
Tổng Hà Thanh gồm có 2 xã và 9 thôn như sau :
Xã Mỹ Đức, xã Tiên Quán và các thôn sau : Bình An, Hòa Mỹ Đông, Hòa Thuận, Tân Thạnh, Tiên Mỹ, Tiên Thới, Thạnh Long, Thuận Yên, Vy Sơn.
Tổng Thanh Di gồm 1 xã và 10 thôn, địa giới gồm 2 phần riêng biệt nhau, phần rộng lớn nằm phía Nam và một phần nhỏ ở phía Bắc (sát biên giới với nước Campuchia) so với trung tâm Hà Tiên :
Xã Mông Mậu và các thôn sau : Cần Thu, Côn Văn, Dương Hòa, Nam An, Nam Hoa, Sa Kỳ, Tư Ngãi, Thuận Đức, Trà Câu, Trác Việt.
Như vậy xã Mỹ Đức có tên từ lúc nầy (1836) và gồm có 4 xứ (tên gọi các xóm trung tâm Hà Tiên khoảng đầu thế kỷ thứ 19 ) : Đại Phố, Phù Dung trường lũy, Tượng Tỉnh và Thạch Động. Địa giới của xã Mỹ Đức gồm các khu như : Bình San, Pháo Đài, Đông Hồ, Tô Châu, Mũi Nai, tính luôn tới Thạch Động và phần giáp với biên giới Campuchia.
Nếu chúng ta chú ý đến các chi tiết địa lý về tổng Hà Thanh, nơi có xã Mỹ Đức là trung tâm nói riêng hay các tổng khác thuộc huyện Hà Châu nói chung, vấn đề sẽ đặt ra là vị trí của các xã và thôn trong các tổng nầy. Tuy nhiên, rất khó định vị trí phần lớn các thôn xã vào thời điểm nầy vì không có bản đồ chi tiết lưu lại. Các đơn vị : Mỹ Đức, Thuận Yên, Bình An, Tiên Mỹ, Tân Thạnh được định vị khá dễ vì tên vẫn còn xuất hiện trên các bản đồ về sau.
Theo ghi nhận của các quyển địa bạ thời 1836, người xã trưởng xã Mỹ Đức có tên là Hoàng Trung Tín, là người Việt gốc Hoa và là chủ vườn tiêu, ruộng muối, vườn trồng cau và đất nhà với vườn chung quanh. Người phó lý trưởng tên Lê Văn Cẩm và một người dịch mục (nhân viên phụ tá giúp các việc chuyên môn trong xã) tên là Phụng Tử Trực.
Trong thời kỳ nầy (1836), đa số người dân trong xã Mỹ Đức là người Hoa gốc Triều Châu (người Tiều), người Hải Nam và là chủ của các ruộng muối, vườn tiêu, vườn trầu…Ta có thể kể ra một số tên họ như sau : Trịnh Sáng (chủ ruộng muối lớn), Quách Ái, Quách Tế, Hoàng Lạng, Mã Ký, Giang Ứng, Trần Tiếu, Hứa Niên, Hoàng Tảo, Mã Kim Nương (chủ vườn tiêu), Thẩm Tam (chủ vườn trầu)…
E/ Tỉnh Hà Tiên và xã Mỹ Đức tính từ năm 1867 về sau :
Pháp chiếm 3 tỉnh miền Tây : Vĩnh Long, An Giang và Hà Tiên vào năm 1867. Thời Pháp chiếm Hà Tiên, sự phân chia hành chánh của tỉnh Hà Tiên khá phức tạp, chúng ta chỉ kể tóm tắt ở đây.
1/ Tỉnh Hà Tiên lúc bấy giờ gồm 3 huyện Hà Châu, Kiên Giang và Long Xuyên, lúc đầu bị phân cắt lại thành 2 địa hạt thanh tra (Inspections) :
a/ Hạt Hà Tiên (tức huyện Hà Châu trước đó, vẫn gồm 5 tổng như đã nói phần trước).
b/ Hạt Rạch Giá (gồm 2 huyện Kiên Giang và Long Xuyên trước đó).
Như vậy từ lúc nầy (1868) tỉnh Hà Tiên cũ trở thành địa hạt thanh tra Hà Tiên, địa phận chỉ còn là vùng đất huyện Hà Châu cũ (kể cả Phú Quốc) mà thôi.
Trong các sổ danh bạ Nam Kỳ năm 1870 và 1871, có ghi là ở xã Mỹ Đức có một trường học tiếng Pháp gồm 30 học sinh (đến năm 1876 số học sinh tăng lên là 55 học sinh) và người ta còn thấy vài tên họ thương nhân gốc ở xã Mỹ Đức được ghi nhận như sau : Hồng Thông, Lâm Trường Thọ (ông chính là tổ tiên của thầy giáo Lâm Tấn Phác tức thi sĩ Đông Hồ). Thời kỳ nầy, dân số địa hạt thanh tra Hà Tiên chỉ khoảng 4689 người, đến năm 1871 được tăng lên khoảng 6357 người (không kể tổng Phú Quốc).
2/ Đến năm 1874, toàn Nam Kỳ có sự thay đổi giảm bớt về số lượng các hạt thanh tra, Pháp lại đổi tên các đơn vị hành chánh, đặt ra các hạt tham biện (Arrondissements), tỉnh Hà Tiên cũ cũng vẫn có hai hạt tham biện Hà Tiên và Rạch Giá với địa giới như phần trên.
Vào khoảng năm 1881 địa giới tỉnh Hà Tiên cũ trước khi Pháp chiếm (tức trước năm 1867) lại bị phân cắt thành 3 địa hạt tham biện :
a/ Hạt Hà Tiên (tức huyện Hà Châu trước đó)
b/ Hạt Rạch Giá (tức huyện Kiên Giang trước đó).
c/ Hạt Bạc Liêu (tức huyện Long Xuyên trước đó cộng thêm 2 tổng xưa của tỉnh An Giang thuộc địa hạt Sóc Trăng, nhắc lại khi nói địa danh Long Xuyên ở đây tức là nói vùng Cà Mau chứ không phải là thành phố Long Xuyên thời nay).
Như vậy từ lúc nầy (1881) tỉnh Hà Tiên cũ vẫn là địa hạt tham biện Hà Tiên, địa phận chỉ còn là vùng đất huyện Hà Châu kể cả Phú Quốc mà thôi, về phương diện hành chánh độc lập với hai hạt tham biện Rạch Giá và Bạc Liêu. Tuy nhiên trong khoảng thời gian từ năm 1888 đến năm 1892, hạt tham biện Hà Tiên bị sát nhập vào hạt tham biện Châu Đốc. Sau năm 1892 thì được phục hồi trở lại hạt tham biện độc lập, địa hạt Hà Tiên vẫn gồm phần đất huyện Hà Châu cũ nhưng chỉ còn có 4 tổng Hà Thanh, Thanh Di, Bình An và Phú Quốc. (Hai tổng Hà Nhuận và Nhuận Đức thuộc về đất Campuchia).
Trong giai đoạn Pháp chiếm Hà Tiên (từ năm 1867) trở đi đến cuối thế kỷ 19, dân số hạt Hà Tiên nói chung gồm người Việt, Hoa, Khmer và người Âu Châu dao động trong khoảng 5000 đến 12000 người, trong đó dân số ở xã Mỹ Đức được ghi nhận vào năm 1879 là 1780 người.
Vào năm 1880, trong danh sách các hội viên Hiệp hội nông nghiệp bản địa (Comices agricoles indigènes) người ta thấy có hai người gốc ở xã Mỹ Đức : Lâm Thị An và Nguyễn Thần Hiến (5).
3/ Đến giai đoạn từ năm 1900 trở đi, các địa hạt lại đổi thành tỉnh, như vậy các hạt Rạch Giá, Bạc Liêu trở thành tỉnh Rạch Giá, tỉnh Bạc Liêu và hạt Hà Tiên lại trở thành tỉnh Hà Tiên chỉ gồm vùng huyện Hà Châu xưa nhưng địa phận chỉ còn gồm có 4 tổng (Tổng Hà Thanh có 6 xã trong đó xã Mỹ Đức nằm ở tỉnh lỵ, tổng Thanh Di, tổng Bình An và tổng Phú Quốc). Các đơn vị gọi là « thôn » được đổi là « làng » hoặc « xã ». Diện tích của tỉnh Hà Tiên là khoảng 1691 km vuông, dân số trong tỉnh khoảng chín, mười ngàn người (nói chung người Việt, Hoa, Khmer và Âu châu).
Trong khoảng thời gian từ năm 1913 đến năm 1924, tỉnh Hà Tiên bị sát nhập vào tỉnh Châu Đốc, tuy nhiên sau năm 1924 lại trở lại thành một tỉnh độc lập, kể từ giai đoạn nầy, tỉnh Hà Tiên gồm có các quận : Châu Thành, Giang Thành, Hòn Chông và Phú Quốc. Tỉnh lỵ Hà Tiên đặt tại xã Mỹ Đức thuộc quận Châu Thành. Diện tích của tỉnh có tăng lên đạt được 1723 km vuông.
Từ đầu thế kỷ 20 (1900) đến năm 1925, nhiều tài liệu còn ghi lại những yếu tố liên hệ đến xã Mỹ Đức thuộc tổng Hà Thanh, tỉnh Hà Tiên như sau :
Trường học ở tỉnh lỵ Hà Tiên (xã Mỹ Đức) gồm có 1 giáo viên tên là Nguyễn Văn Thanh và một thầy giáo dạy chữ Hán Việt tên là Huỳnh Thoại Bang.
Năm 1904 có người nhân viên thu thuế, thơ ký hạng 4 tên là La Thành Đầm (6). Chánh tổng Hà Thanh (nơi có xã Mỹ Đức ở ngay tỉnh lỵ của tỉnh Hà Tiên) tên là Bùi Thiện Chơn, người phó tổng tên Huỳnh văn Mến.
Trong năm 1905, tờ báo « Avenir du Tonkin » N° 3201 xuất bản tại Hà Nội, trong phần tin tức Đông Dương có đăng một thông tin như sau : Nhà nước thuộc địa vừa mới mua với số tiền ba trăm đồng một căn nhà của bà Lâm Thị Hậu, được biết đến với cái tên Marie Printemps (vợ của thương nhân Vương Thái Tư tại chợ Mỹ Đức), ở xã Mỹ Đức, trung tâm Hà Tiên. Ngôi nhà này được xây dựng trên các cột trụ xi măng, đối diện con sông Hà Tiên, nhìn ra Pháo Đài, cạnh bến cảng dọc sông Hà Tiên, ngôi nhà sẽ được giao cho Cục Hải Quan quản lý, từ đó đây chính là công sở của Ty Quan Thuế (và sau nầy là Chi Quan Thuế), ở ngay góc đường Mạc Công Du và Trần Hầu.
Năm 1909, trên đồi Kim Dự, (còn gọi là núi Pháo Đài), tại xã Mỹ Đức khu trung tâm Hà Tiên người Pháp lập nhà thương và có một người bác sĩ, một người y tá người Pháp làm việc tại đó. Trường học ở tỉnh lỵ Hà Tiên (xã Mỹ Đức) gồm có 1 giáo viên tên là Nguyễn Văn Ruộng và một thầy giáo dạy chữ Hán Việt tên là Huỳnh Thoại Bang.
Năm 1910, tài liệu có ghi nhận ở xã Mỹ Đức có 3 nghệ nhân làm nghề chế tạo vật dụng thủ công nghệ bằng vảy đồi mồi : Hồ Tri Vang, Nguyễn Văn Cầu và Huỳnh Thanh Nghi, đến năm 1930 xã Mỹ Đức có 6 nghệ nhân và 20 người thợ, sản xuất có tính chất gia đình, không quy mô.
Năm 1913, tài liệu ghi chép diện tích tỉnh Hà Tiên là 1691 km vuông kể cả các đảo phụ thuộc tỉnh. Toàn tỉnh vẫn có 4 tổng :
Tổng Hà Thanh : có 6 xã, Mỹ Đức (trung tâm của tỉnh), Lộc Trĩ, Phú Mỹ, Tiên Khánh, Tân Thạnh và Hòa Thạnh.
Tổng Thanh Di : có 3 xã, Trà Tiên, Thuận Yên và Dương Hòa.
Tổng Bình An ; có 2 xã, Bình Trị, Hòn Chông.
Tổng Phú Quốc : có 4 xã, Dương Đông, Hàm Ninh, Lạc Phú và Phú Dự.
Năm 1915, ông Lâm Tấn Đức (anh của ông Lâm Tấn Thoại, ông Lâm Tấn Thoại là cha của ông Lâm Tấn Phác tức thi sĩ Đông Hồ) trước đây có tên trong Hội đồng cố vấn tỉnh Hà Tiên, nay chuyển làm hương chủ xã Mỹ Đức.
Năm 1917, 1918 Chánh tổng Hà Thanh tên là Huỳnh Chí Hiếu, hương chủ xã Mỹ Đức tên là Nguyễn Kim Long và ông Nguyễn Đức Chánh là hương quản (7).
Từ năm 1919 đến năm 1925, ông Huỳnh Chí Hiếu vẫn làm chánh tổng Hà Thanh, ông Nguyễn Kim Long làm hương chủ xã Mỹ Đức, cho đến năm 1924 thì có ông Hà Hữu Trí lên làm hương chủ. Trong khoảng thời gian nầy xã Mỹ Đức lần lượt có những hương quản như sau : Lâm Như Phụng (1919), Hứa Văn Thu (1920), Phan Kỳ Sanh (1921), Lý Cập Đệ (1923), Trịnh Văn Vi (1924).
Trường học chính ở xã Mỹ Đức được có 3 giáo viên và một thầy dạy chữ Hán Việt (Huỳnh Thoại Bang). Đến năm 1924 số giáo viên tăng lên 5 người, 3 người phụ tá và một thầy dạy chữ Hán Việt.
Vào những năm 30 trở đi, trên đồi Kim Dự, xã Mỹ Đức, người ta cất nhà cửa, khách sạn gọi là Bungalow và núi Pháo Đài được dùng như một nơi nghỉ mát và nghỉ đêm, phục vụ cho khách du ngoạn viếng thăm Hà Tiên, người quản lý Bungalow lúc đó tên là Phùng Văn Ngọc.
Một số thương nhân buôn bán ở chung quanh khu chợ xã Mỹ Đức được ghi nhận như sau :
*/ Chăn nuôi đồi mồi và sản xuất vật dụng mỹ nghệ bằng vảy đồi mồi : Lâm Văn Cao, Thái Văn Dần, Phan Văn Chi, Trần Thị Bảy…
*/ Sản xuất và buôn bán vật dụng mỹ nghệ bằng đá huyền : Lưu Văn Huê, Trần Văn Nhi, Lý Văn Liêu…
*/ Thợ chế tạo và buôn bán kim hoàn (vàng, bạc) : Nguyễn Thị Được, Huỳnh văn Được, Phạm Bình Hương, Nguyễn Văn Hên…
*/ Cửa hàng tạp hóa : Fong Kam, La Tư Âu, Vương Thái Tư…
*/ Thương nhân bán sỉ và lẻ : Tạ Bỉnh Sanh (Bang trưởng Triều Châu), Phan Thái, Huỳnh Chất Thông, Vương La, Tăng Quan, Thái Vinh Thi, Trần Hao, Châu Triên Mang, Trương Hùng, Tạ Sa, Gian Chim, Lý Thăng…
*/ Sạp bán cá tôm : Nguyễn Văn Mai, Lâm Thị Lên, Trần văn Bửu, Phạm Ngọc Thanh…
*/ Tiệm thuốc Tây, thuốc Bắc : Huỳnh Chất Thông, Trần Văn Cang, Huỳnh Thăng, Tăng Quan…
*/ Xí nghiệp xe chuyên chở hành khách : Vương Châu Nha…
*/ Thợ chụp hình : Nguyễn Văn Tô…
*/ Cung cấp thực phẩm cho tù nhân : Ong Thị Mai…
*/ Chủ tiệm bán xăng, nhớt : Huỳnh Thiện Anh…
4/ Nhắc lại, kể từ năm 1924, tỉnh Hà Tiên có trung tâm đặt tại xã Mỹ Đức thuộc quận Châu Thành. Từ giai đoạn nầy, tỉnh Hà Tiên gồm 4 quận như sau : Châu Thành, Giang Thành, Hòn Chông và Phú Quốc.
Quận Châu Thành gồm 5 xã : Mỹ Đức, Lộc Trĩ, Kỳ Lộ (thuộc địa phận tổng Hà Thanh cũ), Thuận Yên, Dương Hòa (thuộc địa phận tổng Thanh Di cũ).
Quận Giang Thành gồm 5 xã: Tân Khánh Hòa, Vĩnh Điều, Vĩnh Phú, Phú Mỹ, Trà Tiên.
Quận Hòn Chông gồm 2 xã : Bình Trị, An Bình.
Quận Phú Quốc gồm 3 xã : Dương Đông, Hàm Ninh, Phú Dự.
Về trường học, chánh quyền Pháp có lập ra một ngôi trường mang tên Trường Sơ Đẳng Tiểu Học Pháp Việt, dạy tiếng Pháp và tiếng Việt, tiếng là như vậy nhưng giờ Việt Văn rất ít so với giờ Pháp Văn. Lúc ban đầu, vào các thập niên đầu thế kỷ thứ 20, khoảng những năm 1910 trở đi, trường chỉ có 2 lớp, dạy sơ đẳng chỉ tới lớp ba, học sinh muốn lên bậc cao hơn thì có ông thầy Trần Minh Đạo đưa đường cho học sinh lên tận Gia Định học để có thể thi vào Trung Học. Quý vị giáo viên ở trường gồm có: Ông Nguyễn Văn Tình (vốn là quan Đốc Học), ông Huỳnh Thoại Bang chuyên về khoa Hán Học và Luân Lý, ông Lư Sanh Nho. Từ năm 1924, 1925 trở đi tại ngôi trường Sơ Đẳng Tiểu Học Hà Tiên ngoài các thầy giáo khác, còn có hai ông giáo dạy ở đó, thầy giáo Nguyễn Văn Kiêm tức nhà báo Trọng Toàn (quê ở Tân An), dạy lớp nhứt và thầy giáo Lâm Tấn Phác (gốc ở làng Mỹ Đức, Hà Tiên) tức thi sĩ Đông Hồ dạy lớp Ba.
Đến năm 1926, thầy Đông Hồ nhận thấy những giờ dạy Quốc Văn (tiếng Việt) ở nhà trường của chánh quyền Pháp quả thật quá ít và học trò không thể nào tiến bộ được nên ông quyết định mở ra một ngôi trường riêng, đặt tại nhà ông ở mé Đông Hồ (cũng là nhà của bác của ông là ông Hữu Lân – Lâm Tấn Đức), đầu tiên lấy tên là “Khai Trí Tiến Đức Học Xá” (qua năm sau 1927 thì đổi tên gọn lại là “Trí Đức Học Xá”) và mở rộng cửa cho các học trò và mọi người ai muốn thì cứ đến học, trường tạo trên khu đất rất rộng có cả chỗ cho học sinh ở xa đến ở tại trường. Trường Trí Đức Học Xá hoạt động được trong thời gian 1926 đến năm 1931 thì phải đóng cửa, tuy nhiên sau đó trường vẫn còn dạy học dưới hình thức hàm thụ cho các học sinh ở các tỉnh xa cho đến năm 1934 thì thật sự nghỉ luôn.
Năm 1930, có thầy Nguyễn Văn Tình, giáo viên chinh thức hạng nhất, giữ chức vụ Đốc học ở tỉnh Hà Tiên, hiệu trưởng và thanh tra. Trường học ở xã Mỹ Đức gồm 9 giáo viên nam và 2 giáo viên nữ, một thầy dạy chữ Hán Việt : Lục Văn Phân giáo viên hạng 3, Nguyễn Văn Kiêm giáo viên hạng 5, Hà Văn Điền giáo viên hạng 5, Lý Văn Nhơn giáo viên hạng 5, Huỳnh Thoại Bang dạy chữ Hán, Nguyễn Văn Tượng giáo viên trợ lý hạng 5, Lâm Tấn Phác giáo viên trợ lý hạng 7, Lê Quang Phấn giáo viên trợ lý hạng 8, Vương văn Giỏi giáo viên trợ lý thực tập. hai giáo viên nữ là Nguyễn Thị Liễu giáo viên trợ lý hạng 8 và Nguyễn Thị Sanh giáo viên địa phương.Đến năm 1932, có thầy Nguyễn Văn Tam, thầy giáo hạng 4, giữ chức vụ Đốc học ở tỉnh Hà Tiên. Trường học ở xã Mỹ Đức gồm 7 giáo viên nam và 2 giáo viên nữ, một thầy dạy chữ Hán Việt.
5/ Một vụ án mạng chết người xảy ra ở tại Bungalow Pháo Đài, xã Mỹ Đức, tỉnh Hà Tiên, gây chấn động dư luận từ Hà Tiên cho đến cả giới báo chí xảy ra cuối năm 1936 :
Câu chuyện như vầy : Vào đêm 8 tháng 12 năm 1936, có bà Bernard, người Pháp (vợ ông Bernard, lúc nầy quản lý khách sạn Bungalow Pháo Đài), phát hiện là bà đã bị mất số tiền 250 đồng mà bà để trong ngăn kéo trong phòng bà. Ông Bernard liền đi báo cáo với cảnh sát Hà Tiên. Lúc đó trong giới khách hàng nghỉ đêm tại Bungalow, có một người Pháp khác tên là Furcy, tiếp bà Bernard tra hỏi những người giúp việc trong Bungalow nầy. Thấy có người làm tên là Lý Văn Bình vắng mặt nên cho người kêu Lý Văn Bình đến để hỏi chuyện. Vì người làm Lý Văn Bình một mực kêu oan là không có lấy tiền của bà Bernard nên hai người Pháp Bernard (quản lý Bungalow) và Furcy (khách ngủ đêm) bắt đầu đánh đập anh Lý Văn Bình một cách rất hung bạo, những cú đánh vào đầu, cú đá vào ngực và bụng, thậm chí Furcy còn lấy đèn cầy đốt và hơ vào lỗ mũi và trái tai trên mặt của Lý Văn Bình. Sau một lúc tra tấn như vậy thì anh Lý Văn Bình bất tỉnh, đưa đi nhà thương Hà Tiên một lúc sau thì anh tắt thở chết. Mọi việc đánh đập tra tấn dều dưới sự có mặt của ông Quận Nguyễn Duy Ân, hương quản Thái Văn Long và người lính tên Giác nhưng không ai dám can thiệp hay đi kêu cứu với cấp trên.
Anh Lý Văn Bình chết để lại một mẹ già, một người vợ và 4 người con. Kết cuộc việc nầy được đưa ra tòa Đại hình Sài Gòn và tòa án xử phạt Furcy 5 năm từ treo, Bernard 18 tháng tù treo và cả hai phải chung nhau bồi thường cho gia đình anh Lý Văn Bình một số tiền là 1500 đồng. Vụ xử như thế đã gây ra bao nhiêu nỗi bất bình của người Hà Tiên thời đó và cả giới nhà báo tiếng Việt, tiếng Pháp đã viết rất nhiều bài, phê bình, chỉ trích nhà cầm quyền Pháp ở Sài Gòn. Cuối cùng hai tội phạm đánh chết người chỉ bị tù treo và cũng không phải trả tiền phạt bồi thường cho gia đình nạn nhân Lý Văn Bình vì hai người Pháp Bernard và Furcy nầy đều được xem như không có khả năng trả tiền nên không thể nộp tiền bồi thường được. Tờ báo La Tribune Indochinoise (Diễn đàn Đông Dương) có viết một bài báo kêu gọi người dân Nam Kỳ chung tay đóng góp chút ít tiền của để gởi đến giúp cho gia đình của anh Lý Văn Bình (số tiền sau nhiều lần quyên góp, được khoảng trên 200 đồng).
Một thời gian ngắn sau quan Thống Đốc Nam Kỳ quyết định ủy bỏ giao kèo, không cho vợ chồng Bernard quản lý Bungalow Pháo Đài nữa vì tính tình hung hăng của Bernard



