Nhân chứng trực tiếp tham gia các sự kiện lịch sử

Liên khu II những ngày đầu Thủ đô kháng chiến

20 giờ 03 phút ngày 19 tháng 12 này cách đây 55 năm, quân dân Thủ đô ta đã nhất tề theo mệnh lệnh chiến đấu của Bộ chỉ huy quân sự tối cao, nổ súng vào binh lực quân đội Viễn chinh Pháp đã ở trong thế trận sẵn sàng tấn công đánh úp cơ quan lãnh đạo đầu não của ta, tiêu diệt lực lượng quân đội và làm chủ Thủ đô ta sau 24 tiếng. Hành động tập kích chiến lược phản chuẩn bị quân địch đã sẵn sàng tấn công đó của ta đã mở đầu cho cuộc chiến 60 ngày đêm: Hà Nội, tổ chức chiến trường thành 3 Liên khu

Lai Châu03/07/2026Quân đội nhân dân (xã nậm mạ)3 lượt xem0 lượt chia sẻ
LỜI KÊU GỌI CỦA CHỦ TỊCH Hồ CHÍ MINH

Hỡi đồng bào toàn quốc!

Chúng ta muốn hòa bình, chúng ta đã nhân nhượng. Nhưng chúng ta càng nhân nhượng, thực dân Pháp càng lấn tới, vì chúng quyết tâm cướp nước ta lần nữa.

Không! Chúng ta thà hy sinh tất cả, chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ.

Hỡi đồng bào! Chúng ta phải đứng lên! Bất kỳ đàn ông đàn bà, bất kỳ người già người trẻ, không chia tôn giáo, đảng phái, dân tộc, hễ là người Viêt Nam thì phải đứng lên đánh thực dân Pháp, cứu Tổ quốc. Ai có súng dùng súng, ai có gươm dùng gươm, không có gươm thì dùng cuốc, thuổng, gậy gộc, ai cũng phải ra sức chống thực dân cứu quốc!

Hỡi anh em binh sĩ, tự vệ, dân quân!

Giờ cứu nước đã đến! Ta phải hy sinh tới giọt máu cuối cùng để giữ gìn đất nước.

Dù phải gian lao kháng chiến, nhưng với một lòng kiên quyết hy sinh, thắng lợi nhất định về dân tộc ta.

Việt Nam độc lâp và thống nhất muôn năm!

Kháng chiến thắng lợi muôn năm!

Ngày 20-12-1946
Hồ Chí Minh

Logged

vnmilitaryhistory

Moderator
*
Bài viết: 2636


Liên khu II những ngày đầu Thủ đô kháng chiến« Trả lời #4 vào lúc: 11 Tháng Tư, 2022, 07:28:47 am »
MỆNH LỆNH CHIẾN ĐẤU

GỬI CÁC ĐƠN VỊ VỆ QUỐC ĐOÀN, DÂN QUÂN,
TỰ VỆ TRUNG, NAM, BẮC

Tổ quốc lâm nguy.

Giờ chiến đấu đã đến!

Theo chỉ thị của Hồ Chủ tịch và Chính phủ, nhân danh Bộ trưởng Bộ Quốc phòng, tôi ra lệnh cho toàn thể bộ đội vệ quốc quân, dân quân, tự vệ Trung, Nam, Bắc phải nhất tề đứng dậy.

Phải xông tới mặt trận giết giặc cứu nước.

Hy sinh đến giọt máu cuối cùng.

Luôn luôn khăng khít với đồng bào.

Cuộc kháng chiến sẽ trường kỳ và vô cùng gian khổ, nhưng chính nghĩa thuộc về ta, chúng ta nhất định thắng lợi.

Tiêu diệt thực dân Pháp!

Viêt Nam độc lâp và thống nhất muôn năm!

Kháng chiến thắng lợi muôn năm!

Quyết chiến!


Ngày 19 tháng 12 năm 1946
Võ Nguyên Giáp

Logged

vnmilitaryhistory

Moderator
*
Bài viết: 2636


Liên khu II những ngày đầu Thủ đô kháng chiến« Trả lời #5 vào lúc: 15 Tháng Tư, 2022, 06:50:36 am »
TIỂU ĐOÀN 77 TIẾP PHÒNG QUÂN CỦA CHÚNG TÔI(Tiếp phòng quân: Sau Hiệp định Sơ bộ 6/3/1946, ta đồng ý cho Pháp đưa quân vào thay thế quân Tưởng (làm nhiệm vụ giải giáp quân Nhật). Ta và Pháp thỏa thuận: mỗi bên cử một tổ đơn vị quân đội cùng tiếp nhận việc phòng vệ các cơ sở do quân Tưởng trước đây canh giữ. Số đơn vị này ta gọi là Tiếp phòng quân; phía Pháp gọi là Armée de relève (NXB))

Tổng khởi nghĩa thắng lợi...

Cách mạng Tháng Tám thành công!

Một đòi hỏi cấp bách được đặt ra đối với những người lãnh đạo: PHẢI KỊP THỜI CÓ NGAY MỘT LỰC LƯỢNG VŨ TRANG ĐỦ TIN CẬY ĐỂ BẢO VỆ THÀNH QUẢ CỦA CÁCH MẠNG!

Ở tại Hà Nội (thủ phủ của Bắc bộ khi ấy), Thành ủy (dưới danh nghĩa Tổng bộ Việt Minh) quyết định: Cấp tốc trưng tập các thanh niên ưu tú trong hàng ngũ Công nhân cứu quốc, thành lập hai chi đội Giải phóng quân của Hà Nội. Một đơn vị đóng tại trại Bảo an binh, một đơn vị đóng tại Bắc bộ phủ. Đồng thơi trưng tập các phần tử ưu tú trong hàng ngũ Thanh niên cứu quốc trong toàn thành lại. Thành lập Đội tự vệ chiến đấu Hoàng Diệu, làm nhiệm vụ tuần phòng canh gác những nơi cần thiết khác trong thành phố...


Theo chủ trương đó của Đảng, chỉ ba ngày sau đã hình thành hai tổ chức vũ trang kể trên của Hà Nội. Và những tổ chức vũ trang đầu tiên đó của Hà Nội chính là tiền thân của 5 tiểu đoàn chính quy mang danh hiệu Vệ quốc đoàn của Hà Nội (nửa năm sau); tiểu đoàn 77 Tiếp phòng quân là một trong số 5 tiểu đoàn kể trên...


Ngày 22/5/1946 Chủ tịch Hồ Chí Minh ký sắc lệnh số 71/SL. Sắc lệnh quy định nhiều vấn đề cho quân đội, trong đó có điều khoản: Cho phép Chiến khu XI (mật danh quân sự dành cho Thành phố Hà Nội) được thành lập 5 tiểu đoàn quân chính quy. Mang số hiệu: 77, 101, 145, 212, 523...


Trên thực tế thì các tiểu đoàn kể trên đã được hình thành kể từ ngày ta ký với Pháp Hiệp định 6/3 (quân Pháp được phép vào miền Bắc Việt Nam thay thế quân Tưởng). Ta cần thiết phải có một số đơn vị quân đội (lấy tến là Tiếp phòng quân) để phối hợp cùng quân đội Pháp giữ gìn an ninh cho cả hai bên. Tiểu đoàn 77 là một trong số các đơn vị kể trên.


Để có được 5 tiểu đoàn quân chính quy theo sắc lệnh số 71/SL, Hà Nội dựa vào hai chi đội Giải phóng quân và đội Tự vệ chiến đấu Hoàng Diệu làm hạt nhân nòng cốt, và tuyển chọn trong hàng ngũ thanh niên ở các khu phố, ai có đủ tiêu chuẩn (sức khỏe và học lực) tình nguyện tòng quân thì tiếp nhận họ vào đội ngũ.


Trên cơ sở đó, chỉ trong một thời gian ngắn Hà Nội đã thành lập đủ 5 tiểu đoàn hoàn chỉnh về quân số. Tất cả đều có thể lực tốt và 100% biết chữ - trong đó quá nửa là học sinh bậc trung học. Đây là hiện tượng hiếm. Bởi vì dân Việt Nam ta khi ấy 95% là mù chữ.


Lịch sử ra đời của tiểu đoàn 77 (cùng bốn tiểu đoàn bạn) của Hà Nội nói gọn lại là như thế. Và tôi đã có vinh hạnh được là một đội viên của tiểu đoàn từ đấy...

Có một chi tiết tôi nghĩ lúc này cũng nên nhắc đến: Khi ấy chúng tôi (kể cả từ chỉ huy tới lính trơn) nhận bộ quân phục và khẩu súng, trong lòng chỉ rộn ràng một ý nghĩ: "Là dân Hà Nội, được cách mạng tin cậy cho cầm súng để bảo vệ Thủ đô. Đây là một vinh dự không gì sánh nổi" (mặc dù chúng tôi ai nấy đều biết rõ rằng tiếp nhận cuộc sống của một quân nhân cách mạng sẽ... cơm ăn không đủ no, áo quần không đủ thay, luyện tập và lao động thì nặng nhọc như... lính. Và không lương vô thời hạn. Trong khi ấy, đồng đội của tôi có rất nhiều cậu sinh trưởng trong các gia đình nổi tiếng giàu có hoặc quyền thế tại Hà Nội).


... Tình hình Hà Nội lúc bấy giờ rất căng thẳng, "trăm công nghìn việc" chồng chéo lên nhau, nhiều lúc tưởng chừng như bế tắc. Song tựu trung, hết thảy mọi việc diễn ra cần phải kịp thời giải quyết đều nằm trong ba điều chống do Chủ tịch Hồ Chí Minh đã sáng suốt đề ra: CHỐNG GIẶC ĐÓI - CHỐNG GIẶC DỐT - CHốNG GIẶC NGOẠI XÂM...


Là lính Hà Nội (nơi trung tâm chính trị của cả nước) nhất cử nhất động của chúng tôi nhất thiết có quan hệ với ba điều chống đó. Tất nhiên đối với việc đi dạy Bình dân học vụ và tiết kiệm trong sự ăn, mặc v.v... thì chúng tôi chỉ phải "đóng vai phụ", riêng đối với việc chống ngoại xâm thì chúng tôi có mặt không kể ngày đêm.


Danh nghĩa là tiểu đoàn 77 Tiếp Phòng Quân, đối tượng "chống" của chúng tôi khi ấy rất rõ ràng, cụ thể: Quân lính xâm lược Pháp! Chúng chính là những kẻ hàng ngày "cộng tác" với chúng tôi. Hơn ai hết tôi được chứng kiến không còn thiếu một hành vi bỉ ổi nào mà lũ quân viễn chinh nước Đại Pháp "biểu diễn" nhằm khiêu khích chúng tôi (kể cả việc chúng đứng đối diện trước vọng gác của chúng tôi chừng năm bước, vạch quần ra đái...). Nói cách khác: Ngoài tinh thần yêu nước và lòng căm thù quân xâm lược của mỗi người lính nói chung đối với bọn lính thực dân Pháp, thì những người lính Tiếp phòng quân (trong đó có tiểu đoàn 77) chúng tôi có cái "may mắn đặc biệt" là được thực sự tai nghe mắt thấy chính bản thân bọn nhà binh Pháp "trình diễn" hàng ngày trước mắt mình, hết sức chân thực và sinh động. Chính chúng đã... "làm tranh phần việc" của đồng chí chính trị viên đại đội: liên tục củng cố và "tưới dầu" vào những trái tim đang ngày đêm sôi bỏng, đòi "bốc lửa" của chúng tôi. Khiến cho mỗi chúng tôi từng ngày một, lòng yêu nước và chí căm thù giặc càng được khàng định rõ ràng, cụ thể và vững chắc trong ý thức của mình.


Từ ngày thành lập cho tới trước ngày toàn quốc kháng chiến (22/5 đến 19/12/1946) với "tầm nhìn" ở mức một đội viên như tôi khi ấy, thì tiểu đoàn 77 của chúng tôi thường trực đảm nhiệm hai việc chính: Canh gác, phòng tuần (kể cả độc lập lẫn phối hợp với quân Pháp); học tập chính trị, luyện tập quân sự (cho mình và hướng dẫn lại giúp anh em Tự vệ Thành). Ngoài ra những ngày bước vào "tích cực chuẩn bị kháng chiến" thì chúng tôi dốc sức vào công việc đào đắp hầm hố và xây dựng công sự cho đơn vị mình, đồng thời tham gia cùng các đội Tự vệ Thành, lập chiến lũy ở các khu vực trọng điểm (trong địa giới hoạt động của tiểu đoàn) khi có chiến sự xảy ra. Càng gần đến ngày nổ ra chiến tranh, công việc chuẩn bị của chúng tôi càng khẩn trương, cấp bách, vất vả.


Như đã giới thiệu ở trên chúng tôi hết thảy là "dân Hà Nội" (có nghĩa khả năng lao động xốc vác hơi... yếu), đã thế lại còn tới quá nửa là học trò thuộc giới "dài lưng tốn vải, ăn no lại nam" công việc giấy tờ bút mực thì còn khả dĩ, chứ cái món lao động chân tay thì không chỉ "hơi yếu" mà là... rất yếu. Vậy mà quyền lợi và nghĩa vụ quân nhân được xác định trong quyển Quân quy do đại tá Phan Tử Lăng biên soạn, lại không có một khoản nào "chiếu cố dành cho "họ". Như vậy, có nghĩa "họ" cũng "ngang bằng" như mọi anh em khác trong tất tần tật mọi công việc: tập luyện, chiến đấu, công tác và sinh hoạt... (điều đó là một thử thách quá lớn đõi với họ).

Logged

vnmilitaryhistory

Moderator
*
Bài viết: 2636


Liên khu II những ngày đầu Thủ đô kháng chiến« Trả lời #6 vào lúc: 15 Tháng Tư, 2022, 06:51:35 am »
Với bản chất học trò, chúng tôi bắt tay vào đào một hầm ngầm từ trong trại Vệ quốc đoàn trung ương, xuyên qua đường Hàng Bài sang rạp Majestic, để đặt quả bom nặng hai tạ. Chờ khi xảy ra cuộc chiến sẽ giật cho nó nổ, tiêu diệt bọn Pháp đang chiếm giữ tại đấy. Rồi tham gia cùng các đội tự vệ khu Chợ Hôm đào đắp một chiếc ụ chiến đấu cực to tạ ngã năm Lê Văn Hưu - Lò Đúc. Những việc đó quả thật "rất không hợp" với các
cậu học trò đang tập sự làm lính. Song, mặc dù sầy vai, tóe máu tay, trẹo khớp chân... vẫn không anh nào bỏ cuộc. Chỉ riêng điều đó đã khiến chúng tôi yên tâm, tin tưởng vào nhau, sẵn sàng nhập trận ...


Nhưng trong những ngày chuẩn bị hết sức khẩn trương ấy, cũng có những việc rất hấp dẫn, ví như việc đi hướng dẫn cánh Tự vệ Thành học quân sự. Anh em đa số là học sinh, ai nấy thông minh, sôi nổi và tự giác rất cao. Bởi vậy công việc của một huấn luyện viên trở nên dễ dàng, thoải mái vô cùng. Chương trình bố trí học 5 ngày, mỗi ngày hai buổi. Thực tế chỉ cần một nửa thời gian đã đủ. Có sự ấy là do: trình độ của huấn luyện viên thì có hạn mà nhận thức của người học lại quá nhạy. Kết quả ngày nào cũng vẫn như ngày nào: "huấn luyện viên" với "quân lính" rất sẵn thì giờ giải lao, xoàng cũng là hát và ngâm thơ có nhạc đệm, có những buổi tối "bốc" lên mang bóng đá ra đá với nhau "một gôn" rất say sưa... (chính tôi cũng không ngờ rằng trong thời gian tham gia công việc huấn luyện quân sự cho Tự vệ Thành ấy đã thu được những kết quả vượt ra ngoài yêu cầu rất xa. Cụ thể: Khi nổ ra tác chiến, tiểu đoàn 77 của chúng tôi đã đánh địch đúng ngay trong khu vực có các đội tự vệ mà chúng tôi huấn luyện. Nói cách khác, giữa chúng tôi với anh em đã có sẵn một tình bạn đặc biệt, cũng là dân Hà Nội, cũng là học trò, cũng kề vai đánh Pháp). Có lẽ, từ cái nền rất đặc biệt như thế, đã nảy sinh một hiện tượng rất thú vị: Trong suốt thời gian tiểu đoàn 77 chúng tôi đánh Tây tại Hà Nội (lớn nhỏ kể có hàng chục trận), không một trận nào vắng anh em tự vệ khu Chợ Hôm cùng đánh. Cuối cùng, kết quả mỗi 24 trận đánh cũng thật khó khẳng định rằng đó là công của ai. Bởi vì về trang bị thì chúng tôi có "tươm" hơn anh em chút đỉnh, về tinh thần hăng hái thì ngang nhau, riêng về cái món "lợi dụng địa hình địa vật" thì anh em ăn đứt chúng tôi (mặc dù chúng tôi cũng là dân Hà Nội, nhưng anh em mới chính là thổ công). Cũng may thời bấy giờ chưa có tổ chức khen thưởng, nếu có chắc là phải chia đều theo tỉ lệ đầu người!


Bước vào chiến đấu.

Tiểu đoàn 77 Tiếp phòng quân chúng tôi là một tiểu đoàn hoàn chỉnh. Gồm một ban chỉ huy tiểu đoàn với tiểu đoàn bộ, 3 ban chỉ huy đại đội, mỗi đại đội có đại đội bộ, và 3 trung đội, mỗi trung đội có ban chỉ huy (thời bấy giờ do điều kiện tác chiến phân tán nên trung đội có liên lạc và cấp dưỡng riêng), với 3 tiểu đội...

Ban chỉ huy tiểu đoàn:

Tiểu đoàn trưởng là đ/c Hoàng Kiện.

Chính trị viên tiểu đoàn là đ/c Hồng Kỳ.

Ban chỉ huy các đại đội:

Đại đội 1: Đại đội trưởng là đ/c Nguyễn Văn Ngọc. Chính trị viên là đ/c Trung Thành.

Đại đội 2: Đại đội trưởng là đ/c Quang Biền. Chính trị viên là đ/c Việt Sơn.

Đại đội 3: Đại đội trưởng là đ/c Bảo Cường. Chính trị viên là đ/c Nguyễn Ngọc Tấn.

(Tôi có dò hỏi nhưng không nhớ được hết tên các ban chỉ huy trung đội và các tiểu đội trưởng. Vì vậy tôi xin người đọc miễn lỗi cho).


Trước giờ nổ súng, tiểu đoàn chúng tôi đặt ban chỉ huy ở khu vực Chợ Hôm. Lực lượng tác chiến phân bố như
sau:

Đại đội 1: Bố trí tại khu vực ga Hàng Cỏ - Nhà Hỏa Lò - Sở Hỏa xa Việt Điền...

Đại đội 2: Đại bộ phận bố trí ở khu vực Đồn Thủy (2 trung đội), còn 1 trung đội bố trí tại Bộ Quốc phòng (trường Trưng Vương bây giờ).

Đại đội 3: 2 trung đội bố trí tại trại Vệ quốc đoàn trung ương, còn 1 trung đội ở phố Bà Triệu (thành viên đội Liên kiểm Việt Pháp).


... Bắt đầu nổ súng. Tiểu đoàn nhất loạt tấn công quân Pháp trên toàn tuyến. Ta chủ động nổ súng mãnh liệt vào mọi mục tiêu đã chuẩn bị trước. Quân địch bị động ngay từ phút đầu. Một số vội vã rút chạy (nhà đại tá La-mi), đa số cố thủ chống lại (Đồn Thủy, rạp Majestic, ga Hàng Cỏ, Bà Triệu, khu Bác Cổ...) ta kiên quyết tấn công tiêu diệt gọn một số (ở viện Rađium, rạp Majestic, các ổ đề kháng gần khu Bác Cổ, trong đó trận đánh rạp Majestic diễn ra ác liệt nhất, ta đánh hơn 14 giờ liên tục mới diệt xong).


Sáng ngày hôm sau (20/12/1946), quân Pháp từ những vị trí đóng quân bắt đầu nống ra, phản công lại quân ta rất dữ dội. Quân ta anh dũng chăn đánh từng bước tiến của bọn chúng, trên khắp mọi nơi. Ở khu vực đại đội 1, quân Pháp từ trong thành tiến ra chia quân làm 2 mũi (mỗi mũi chừng 200 quân với 2 xe tăng) đi theo 2 đường: Một, theo đường Cửa Nam qua Tràng Thi, Quán Sứ... các đơn vị bạn (Tự vệ chiến đấu và Tự vệ Thành) liên tiếp đánh chặn suốt dọc đường nhưng vì lực mỏng không đủ sức cố thủ. Nên sau hơn 3 giờ chiến đấu quyết liệt, các đơn vị bạn đành phải rút lui. Đến 8 giờ thì quân Pháp tiến được vào khu vực đại đội 1. Lợi dụng cấu trúc kiên cố của nhà Hỏa Lò, đại đội 1 đã chặn đứng mọi đợt tấn công của địch. Mũi thứ hai theo đường Hàng Lọng (phố Lê Duẩn bây giờ), 1 trung đội của đại đội 1 cùng với các đơn vị bạn ngoan cường chặn đánh rất dũng mãnh. Quân Pháp cầu cứu pháo tầm xa bắn dữ dội vào nhà ga rồi cho xe tăng xông lên húc đổ tường. Quân ta không đủ sức đề kháng, bị bật sang phía Khâm Thiên (Liên khu III).


Tại khu vực đại đội 2: Quân Pháp từ Đồn Thủy cũng chia quân làm hai cánh. Một cánh tấn công trực tiếp vào nơi đại đội cùng các đơn vị bạn đang trấn giữ là STAI- QUAI. Chúng có 2 xe tăng và 2 xe bọc thép cùng 200 quân. Sau 3-4 giờ chống cự quyết liệt không lại, quân ta phải rút về vùng Thanh Lương - Đống Mác (với STAI- QUAI ta với địch còn tiếp tục giành đi giật lại nhiều lần...). Cánh quân thứ hai của chúng có 1 xe tăng và 2 xe bọc thép cùng 200 quân, từ Đồn Thủy ra đường Trần Hưng Đạo qua đường Hàn Thuyên đến ngã năm Lò Đúc - Lê Văn Hưu, chọc thẳng vào nhà thờ Hàm Long đón bọn Pháp kiều và tay sai (người Việt). Rồi quay lên tấn công trại Vệ quốc đoàn trung ương và rạp Majestic.


Tại khu vực đại đội 3: Quân Pháp cậy có xe tăng và thiết giáp ào ạt xông lên tấn công đồng loạt cả 3 nơi một lúc (trại Vệ quốc đoàn trung ương, rạp Majestic, Bộ Quốc phòng) chúng tôi cùng các đơn vị bạn chống trả quyết liệt hơn ba tiếng đồng hồ mới chịu rút. Đêm hôm ấy, còn lại bao nhiêu ổ đề kháng của bọn Pháp nằm ở Liên khu II Hà Nội (các phố Lò Đúc, Lê Văn Hưu, Hàng Bài, Ngô Thì Nhậm, Nguyễn Bỉnh Khiêm, Nguyễn Thượng Hiền, Bà Triệu, Nguyễn Du...) chúng tôi cùng các đơn vị bạn quét dọn bằng hết.

Logged

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn